TIỂU LUẬN tôn GIÁO sự tồn tại của tôn GIÁO dưới CNXH, đặc điểm TÌNH HÌNH tôn GIÁO ở VIỆT NAM và CHÍNH SÁCH tôn GIÁO của ĐẢNG và NHÀ nước - Pdf 38

1

ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ
QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG,
NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY.

1. KHÁI QUÁT VỀ TÔN GIÁO VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO
DƯỚI CNXH.

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hệ
thống tổ chức tôn giáo và những hoạt động mang tính chất nghi thức tín
ngưỡng; trong đó ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản
ánh hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua hình thức phản ánh của
tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên, xã hội đều trở thành thần bí
và chi phối mạnh mẽ cuộc sống hàng ngày của con người, như MácĂngghen đã khẳng định: “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo
vào đầu óc người ta những sức mạnh từ bên ngoài chi phối cuộc sống hàng
ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh của thế gian đã
mang hình thức sức mạnh siêu thế gian” (1). Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong
quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, tôn giáo là sản phẩm của chính
hoạt động của con người, phản ánh bình diện của đời sống tinh thần của con
người và là một giá trị văn hoá. Tôn giáo tồn tại phổ biến trong các cộng
đồng người trong lịch sử và sẽ còn tồn tại cùng với xã hội loài người trong
một thời gian khó mà dự đoán trước được. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hoá, xã hội,
tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia dân tộc.
Tôn giáo thực sự là nhu cầu tinh thần của con người, của xã hội. Một khi
những những hình thái ý thức xã hội khác chưa hoàn toàn thoả mãn đầy đủ
1

C.Mác-Awngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994, tr.544.



Thứ nhất: nguồn gốc ra đời tôn giáo còn tồn tại, bao gồm cả nguồn
gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội và nguồn gốc tâm lý.
Về nguồn gốc tự nhiên: chúng ta biết rằng thế giới tự nhiên là vô cùng
tận, các hiện tượng trong tự nhiên là hết sức phong phú, đa dạng; nhận thức
của con người tuy không có giới hạn, nhưng nhận thức của một người, một
thế hệ là hữu hạn. Do giới hạn về nhận thức, đặc biệt là trong thời kỳ xã hội
nguyên thủy, khi mà trình độ khoa học còn ở giai đoạn sơ khai, nên con
người không thể lý giải được những hiện tượng tự nhiên, vì thế cho rằng tất
cả các hiện tượng tự nhiên đó là do các lực lượng siêu nhiên nào đó chi phối.
Vì vậy quan niệm có thần linh, thượng đế, cũng như hình thành nên biểu
tượng về các tôn giáo khác nhau. Lênin viết: “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều
có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và ngu của thời kỳ mông muội” (1).
Dưới CNXH mặc dù khoa học đã phát triển mạnh mẽ song vẫn còn rất nhiều
vấn đề tự nhiên chưa thể giải thích được, như các hiện tượng tự nhiên kỳ bí,
hay các hiện tượng tâm linh, ngoại cảm….. Bên cạnh đó chúng ta cũng nhận
thấy, thậm chí hiện nay nhiều hiện tượng tự nhiên đã được khoa học chứng
minh, nhưng do trình độ dân trí thấp cũng không thể hiểu được... Do đó tôn
giáo còn tồn tại.
Về nguồn gốc xã hội: Khi xã hội xuất hiện giai cấp, có đối kháng giai
cấp, có áp bức, bóc lột, có bất công, bất bình đẳng xã hội, mà như Lênin
khẳng định: giai cấp bóc lột: “đang hàng ngày, hàng giờ gây ra cho những
người lao động bình thường những nỗi thống khổ cực kỳ ghê gớm, những sự
đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghìn lần so với những biến cố
phi thường như chiến tranh, động đất”(2). Cho dù các hiện tượng đó như là
một tất yếu lịch sử, song cũng do giới hạn về nhận thức mà con người trước
C.Mác-Ăngghen, Toàn tập. Tập 21, Nxb CTQG, H.1995, tr.404.
Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG,
H.1997, tr126.
1

1

Lê-nin Toàn tập, Tập 12, Nxb TB M, 1979, tr 170.


5

bằng hành chính, bằng pháp luật và các công cụ bạo lực khác… Chính vì vậy
tạo nên sự phản kháng ngấm ngầm của nhiều tín đồ các tôn giáo và góp phần
tạo nên sự tồn tại của tôn giáo cũng như nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp.
Thứ ba: Tín ngưỡng tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân (Nhu cầu hư ảo).
Cho dù trong bất kỳ xã hội nào, trong thời kỳ lịch sử nào, thì những
hiện tượng như thiên tai, chiến tranh loạn lạc hay những rủi ro trong cuộc
sống của mỗi con người xảy ra là điều hoàn toàn bình thường và con người
khó có thể kiểm soát được. Trong những trường hợp này chính niềm tin tôn
giáo là một liều thuốc “an thần” giúp con người xoa dịu nỗi đau, sự mất mát,
những rủi ro đó, cho dù đó chỉ là sự xoa dịu một cách hư ảo. Mặt khác đạo
đức tôn giáo còn nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH, như
khuyên người ta làm điều thiện, tránh điều ác, hoặc đều mơ ước cho sự giải
phóng con người… Mác từng khẳng định: “Cả Đạo Cơ đốc lẫn CNXH đều
tuyên truyền sự giải phóng con người trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và
nghèo khổ”(1). Dĩ nhiên, CNXH hướng tới giải phóng con người trên trần thế,
còn các tôn giáo tuyên truyền về sự giải phóng ở thế giới bên kia.
Thứ tư: Do tính bảo thủ, lạc hậu của ý thức tôn giáo và những biến
đổi thích nghi của tôn giáo.
Một trong những thuộc tính của các hình thái ý thức xã hội nói chung
là tính lạc hậu so với thực tiễn. Trong đó ý thức tôn giáo lại là một hình thái
ý thức đặc biệt, có tính bảo thủ hơn hẳn so với các loại hình thái ý thức xã
hội khác, nên nó ăn sâu bám rễ trong quần chúng trở thành tập quán, thói

đẩy lùi, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột tôn giáo, sắc tộc, khủng bố…hay
dịch bệnh, đói nghèo…cùng với những mối đe doạ khác cũng là những điều
kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại.


7

Tóm lại từ những lý do trên: khẳng định trong CNXH tôn giáo còn
tồn tại, tuy nhiên không phải tôn giáo sẽ tồn tại vĩnh hằng, mà nó sẽ mất đi
khi nào con người làm chủ được tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình.
2. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM.

Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị hết sức quan trọng của khu vực
Châu Á, là nơi giao lưu và du nhập của nhiều luồng dân cư, văn hoá, tôn
giáo khác nhau. Về mặt cư dân, Việt Nam gồm 54 tộc người khác nhau, mỗi
tộc người lại lưu giữ những hỡnh thức tớn ngưỡng, tôn giáo khác nhau, vỡ
thế Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó tín ngưỡng dân gian ra
đời khá sớm như tín ngưỡng về sức mạnh của tự nhiên, đó là: thần Núi, thần
Sông, thần Sét; hoặc tục thờ tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ những người có
công với cộng đồng, với dân tộc…Những tôn giáo ngoại cũng được du nhập
vào nước ta khá sớm như đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão đã có gần 2000 năm,
đạo Thiên Chúa từ năm 1553 đã truyền vào nước ta, rồi đạo Tin Lành, đạo
Hồi... cũng có mặt ở nước ta khá sớm. Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam rất
đa dạng, phức tạp, đan xen, pha trộn giữa nội sinh và ngoại nhập, có cả tôn
giáo mới và tín ngưỡng dân gian, trong đó có những tín ngưỡng tồn tại như
một tôn giáo. Bức tranh tín ngưỡng tôn giáo rất phong phú, nhiều màu sắc,
bên cạnh những cái hay cái đẹp, còn tồn tại những cái chưa tốt, còn nhiều hủ
tục lạc hậu cần khắc phục. Theo số liệu báo cáo của Ban tôn giáo Chính phủ,
hiện nay ở Việt Nam có 6 tôn giáo lớn gồm: 4 tôn giáo du nhập từ nước
ngoài vào là đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi và 2 tôn giáo

các quan hệ song phương. Mỹ còn tìm cách cấu kết, hỗ trợ về kinh phí,
phương tiện cho những kẻ phản động đội nốt tôn giáo trong nước hoạt động
chóng phá Đảng Nhà nước. Còn trong nước nhiều kẻ phản động đội nốt tôn
giáo, liên tục có nhiều hành động công khai chống đối, như vụ Nguyễn Văn
Lý ở Thừa thiên Huế, vụ “cứu trợ dân oan” của Thích Quảng Độ ở Thành


9

phố Hồ Chí Minh, hay nhiều vụ các tôn giáo gây sức ép với Đảng, đòi đất,
“đòi tự do tôn giáo” nên có thể nói tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay vẫn
tiềm ẩn nhiều nhân tố gây bất ổn....
3. QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM.

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam
luôn quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề tôn giáo. Trước hết Đảng cộng sản Việt
Nam đã quán triệt sâu sắc những vấn đề có tính nguyên tắc trong giải quyết
vấn đề tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở đó đề ra quan điểm,
chính sách tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo trên thực tiễn. Những vấn
đề có tính nguyên tắc đó là: khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của
tôn giáo là việc làm lâu dài, phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ,
xây dựng chủ nghĩa xã hội; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng
và không tín ngưỡng của công dân, kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan; thực
hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết những người theo tôn giáo và không theo
tôn giáo, đoàn kết dân tộc; phân biệt rõ hai mặt tư tưởng và chính trị trong
giải quyết vấn đề tôn giáo và quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể khi giải
quyết vấn đề tôn giáo.
Đối với Hồ Chí Minh, trước hết Người cho rằng mọi tôn giáo đều là

phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945 Người đã khẳng định:
lương giáo đoàn kết và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Đồng thời Người
cũng yêu cầu Đảng, Nhà nước phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho
đồng bào có đạo, giáo dục nâng cao tinh thần yêu nước, vạch trần các luận
điệu xuyên tạc của kẻ thù. Người cho rằng: Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin
1

Trần Dật Tiên, “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, Nxb. Sự thật, 1975, tr. 36.


11

thiêng liêng, cao cả, giữ vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần của giáo
dân, chi phối tâm tư tình cảm hành vi của họ. Xúc phạm niềm tin tôn giáo là
xúc phạm tín đồ, là làm tổn thất và chia rẽ khối đại đoàn kết, là mắc mưu
thâm độc của kẻ thù. Vì vậy, tôn trọng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
đoàn kết lương giáo là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Người và từ đó
Người yêu cầu cần nhận thức đúng và giải quyết đúng mối quan hệ giữa tôn
giáo và chính trị, giữa đạo và đời, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh
thần... Đối với công tác tôn giáo, Theo Hồ Chí Minh, đó là nhằm xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo, là làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực
thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng và đây là mặt công tác khó
khăn, lâu dài. Vì vậy Người đòi hỏi, tiến hành công tác tôn giáo không được
cứng nhắc về hình thức và phương pháp, mà cần có sự sáng tạo về hình thức
và phương pháp cho phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn cách mạng,
phù hợp với từng địa phương, từng tôn giáo khác nhau.
Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gần tám mươi năm
qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đã xây dựng

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu rõ: “Công dân Việt
Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của
các tín ngưỡng tôn giáo được pháp luật bảo hộ”. Theo đó không ai được
phép xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.
Tiếp đó trên cơ sở tiếp cận cả ba mặt của tín ngưỡng, tôn giáo là: văn
hoá, đạo đức tôn giáo và chính trị-xã hội, Nghị quyết TƯ 7 - khóa IX của
Đảng, ngày 12/3/2003 khẳng định:


13

- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Đảng và Nhà nước ta không bao giờ
chống tôn giáo mà luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào, quan tâm
giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào, tạo điều kiện
cho đồng bào có đạo phát triển sản xuất. Xoá đói giảm nghèo, đồng thời
nghiêm cấm việc xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, hoặc lợi dụng tôn giáo
để làm trái pháp luật và chính sách nhà nước, cũng như khắc phục thái độ
hẹp hòi thành kiến đối với đồng bào có đạo.
- Thực hiện đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết
đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát
huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử

chuộc quần chúng chống lại cách mạng.
- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Công tác
tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xó hội, cỏc cấp, cỏc
ngành, cỏc địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ
thống chính trị do Đảng lónh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên
trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và
kiện toàn. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, thể chế hoá
quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng các văn bản luật, dưới


15

luật về công tác tôn giáo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ngăn ngừa sự
kích động, lôi kéo của kẻ xấu.
Công tác tôn giáo là một lĩnh vực công tác xã hội phức tạp, nhạy
cảm, bao gồm nhiều mặt hoạt động đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng phải có chủ
trương, chính sách tôn giáo đúng đắn, chính quyền các cấp phải thực hiện
tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với tôn giáo bằng pháp luật, mặt trận
và các đoàn thể ban ngành phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động
quần chúng và các tín đồ, chức sắc tôn giáo, đẩy mạnh phong trào “tốt đời,
đẹp đạo”, gắn bó với dân tộc, đoàn kết cùng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
- Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự
hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước
thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được
hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh
sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo
đúng quy định của pháp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt
động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được

từng tôn giáo. Điều phản bác duy nhất là những hành vi trái với pháp luật,
hiến pháp, trái với đạo đức, trái với đạo đức, phản văn hoá, có hại tới tài sản
và tính mạng của nhân dân.
Chính sách tự do tôn giáo phải xuất phát từ những nguyên lý chung
của chủ nghĩa xã hội, của thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhằm bảo vệ thực
sự quyền tự do bình đẳng giữa các tôn giáo, tôn giáo phải cùng với dân tộc đi
lên CNXH. Mọi tín đồ các tôn giáo đều là những công dân bình đẳng trong
Tổ quốc Việt Nam, chấp hành nghiêm hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.
1

ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐB lần thứ X, Nxb CTQG, Hà nội 2006, tr 122,123


17

Để thực hiện tốt nội dung trên, nhiệm vụ công tác tôn giáo trong thời
gian tới cần: Thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân
dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo. Vận động quần chúng nâng cao tinh
thần yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc, tinh thần độc lập tự chủ, gắn bó với
dân tộc phấn đấu xây dựng Tổ quốc Việt Nam độc lập và giàu mạnh. Phương
pháp vận động quần chúng tín đồ phải thông qua việc thực hiện thật tốt
chính sách kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, luật pháp Nhà nước, đảm
bảo lợi ích vật chất, tinh thần cả phần đời và phần đạo cho tín đồ chức sắc.
Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp
đạo” trong quần chúng tín đồ chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Tăng cường
công tác quản lý nhà Nước về tôn giáo, phát huy tinh thần yêu nước của
đồng bào có đạo, tự giác phối hợp đấu tranh làm thất bại các âm mưu của các
thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống đối chế độ. Tạo
điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và

vững chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ, luôn cảnh giác
và đấu tranh với thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, vẫn phải trang bị tri thức
khoa học, bồi dưỡng về chủ nghĩa vô thần để hướng các hoạt động tôn giáo
vào việc xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

*
*

*




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status