Tiểu luận về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc này để liên hệ tình hình thực tế ở địa phương - Pdf 36

Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính

MỤC LỤC
Trang
Mục lục.................................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài..............................................................................................2
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài..................................................2
1. Mục đích............................................................................................................2
2. Nhiệm vụ...........................................................................................................2
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................3
IV. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................3
PHẦN NỘI DUNG
I. Khái niệm thực tiễn.........................................................................................4
II. Khái niệm lý luận...........................................................................................6
III. Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn..........................................................6
1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin..............................................................6
2. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn ...........................................................................................................................7
3. Yêu cầu trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn..................................7
VI. Các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn......................................................................................................................8
1. Bệnh kinh nghiệm.............................................................................................8
2. Bệnh giáo điều..................................................................................................8
V. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và biện pháp
khắc phục các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn hiện nay.......................................................................................................8
VI. Các giải pháp để vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn và biện pháp khắc phục các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống

trong qúa trình vận dụng nguyên tắc thông nhất giữa lý luận và thực tiễn vào hoàn
cảnh lịch sử Việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cũng như việc vận
dụng nguyên tắc này ở những địa phương, cơ quan cụ thể trong công tác của cán bộ,
công chức nhằm phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp chung của đất nước.
Vì vậy, em chọn đề tài “Nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với
thực tiễn và các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc này để liên hệ tình hình thực
tế ở địa phương” làm tiểu luận của mình.
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1. Mục đích
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và quá trình vận dụng nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động.
- Nêu lên những thành công, hạn chế việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn vào việc công tác chỉ ra các căn bệnh do không quán triệt nguyên
tắc và đề xuất những phương hướng, giải pháp khắc phục các căn bệnh do không quán
triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
- Làm rõ nội dung vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7

Trang 2


Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính

- Nêu lên những thành công, hạn chế việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa

Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt
động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con
người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà

Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7

Trang 3


Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính

cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới. Trong quá trình
hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ hai” của mình, một
thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát
triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy, không có hoạt động thực
tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Thực tiễn là
phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu
của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan
hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ, thực tiễn là cơ
sở, động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, Ăngghen khẳng định “chính việc
người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách
giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp của tư duy con người, và trí tuệ con
người đã phát triển song song với việc người ta cải biến tự nhiên”.
Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực
tiễn. Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của


Trang 4


Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính

nguyên tắc phương pháp luận quan trọng hướng dẫn chúng ta trong hoạt động thực
tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Nếu không bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ
không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa
học nào với đúng nghĩa của nó.
II. Khái niệm lý luận
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan.
Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận,
quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản chất của
lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần
đúng đối tượng nhận thức.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri
thức khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự
tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và
xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh
nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh
nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó
đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài
chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
III. Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra
những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn. Lý luận khoa học làm cho
con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng “mò mẫm”, tự phát. Vì vậy,
Chủ tịch Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.
2. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự
phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng. Vì
thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt khác không được xem nhẹ thực
tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách
mạng.
Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mác-Lênin, sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại. Nguyên tắc này có ý
nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
3. Yêu cầu trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn:
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều hình
thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái
quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng thước đo tính cao thấp của lý luận
với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng hẳn về đời sống hiện
thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra, và như
vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý
luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác,
hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực
tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được
thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn của
chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ thực
tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung,
phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng

phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Để ngăn ngữa, khắc phục có
hiệu quả hai căn bệnh trên phải coi trọng cả lý luận và thực tiễn.
V. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và biện pháp
khắc phục các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk hiện nay
Kinh nghiệm thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với lý luận, kinh nghiệm
chính là cơ sở để tổng kết, khái quát thành lý luận. Kinh nghiệm là căn cứ để chúng ta
không ngừng xem xét lại, bổ sung, sửa đổi, phát triển lý luận. Tri thức lý luận hình
thành tổng kết khái quát kinh nghiệm nhưng lại phải thông qua tư duy trừu tượng của
cá nhân nhà lý luận cho nên nó cũng chứa đựng khả năng không chính xác xa rời thực
tiễn. Vì vậy, tri thức lý luận phải được thể nghiệm trong thực tiễn để khẳng định, bổ
sung sửa đổi hoàn thiện. Mặt khác lý luận một khi đã được hình thành nó không phải
thụ động mà có vai trò độc lập tương đối của nó. Lý luận tác động trở lại đối với thực
tiễn hướng dẫn chỉ đạo hoạt động thực tiễn, dự báo dự đón tình hình và phương hướng
hoạt động thực tiễn trong tương lai.
Chúng ta coi trọng những kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích lũy vốn
kinh nghiệm quý báu đó. Như nếu chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, chỉ dựa vào
những hiểu biết ở trình độ kinh nghiệm, thoả mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân
coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hoá kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại
học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận vươn lên để nắm lý luận, không quan
tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì rất dễ mắc bệnh kinh nghiệm chủ
nghĩa.
Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh giáo điều
chủ nghĩa. Nếu tuyệt đối hoá lý luận đồng thời coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi
lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung trừu
tượng, không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận thì dễ
mắc bệnh giáo điều.
Thực chất của những sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là vi phạm
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Cho nên trong công tác lý luận cần từ bỏ lối
nghiên cứu một cách kinh viện thuần túy chỉ biết giải thích khái niệm bằng khái niệm

thực tiễn, phát triển lý luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ
động và sáng tạo, bớt được những sai lầm và những bước đi quanh co, phức tạp”. Hơn
lúc nào hết muốn lãnh đạo công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi Đảng ta phải nâng cao
trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực tiễn từ việc phát hiện và nắng vững quy luật
vận động của đời sống xã hội ta, của bản thân Đảng cho đến hiểu biết về thế giới về
thời đại. Tổng kết thực tiễn tổng kết những cái mới, đang hàng ngày hàng giờ nảy sinh
trong đời sống đất nước và cả thế giới tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người.
Chỉ trên cơ sở ấy Đảng mới có thể đưa ra được đường lối chủ trương đúng đắng tránh
được những sai lầm, khuyết điểm và làm cho đường lối chủ trương được thực hiện
thắng lợi.
Thông qua quán triệt đầy đủ và nhận thức đúng đắn nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn, đội ngũ cán bộ, đảng viên huyện nhà đã không ngừng, tìm tòi, vận
dụng lý luận, tổng kết tình hình để giải quyết tốt các mối quan hệ đặt ra trong thực tế
tại địa phương. Điển hình như:
- Trong lĩnh vực kinh tế, thông qua việc thí điểm các mô hình sản xuất, thí điểm
các loại giống cây trồng vật nuôi mới và kịp thời tổng kết mô hình để nhân rộng, nhờ đó
nhiều mô hình sản xuất, nhiều loại cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, thích ứng
với thỗ nhưỡng, khí hậu của địa phương được áp dụng đã góp phần cho nền kinh tế
huyện nhà có nhiều chuyển biến.
- Trong lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, cùng với nhiều biện
pháp đồng bộ khác. Đảng bộ huyện đã đề ra giải pháp định kỳ sáu tháng một lần lãnh
đạo huyện về tại các xã, thị trấn tổ chức tiếp xúc, đối thoại với nhân dân. Thông qua tiếp
xúc đối thoại đã kịp thời lắng nghe, phân tích giải thích cho dân các nội dung dân chưa
thấu rõ, tiếp thu ý kiến của nhân dân chính đáng của nhân dân, trên cơ sở đó kiểm tra,
thẩm định và tổ chức thực hiện theo các nguyện vọng chính đánh của nhân dân. Hạn
chế, khắc phục các sai phạm của các cấp và của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhờ đó đã
tạo dựng, cũng cố được niềm tin lớn của nhân dân đối với Đảng và chính quyền cơ sở.

Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7


hết sức coi trọng nghiên cứu thực tiễn, tổ chức thực nghiệm, tổng kết thực tiễn, rút ra
những kết luận, phát triển sáng tạo lý luận đúng đắn để hướng dẫn thực tiễn phát triển,
chứ không chỉ dựa vào những lý luận, nguyên lý có sẵn trong sách vở bắt thực tiễn
phải khuôn theo một cách giáo điều, không đem lại hiệu quả.
Các cơ quan, đơn vị khi nghiên cứu các chương trình, đề tài cần bám sát
phương hướng, yêu cầu nghiên cứu mà đề ra, đi sâu tổng kết thực tiễn, hướng vào giải
đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ
khoa học cho việc áp dụng thực tiễn; sớm làm rõ và trả lời những vấn đề bức xúc nảy
sinh từ thực tiễn; tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; bảo vệ
quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh với những
quan điểm và tư tưởng sai trái. Mỗi chương trình, đề tài cần cố gắng đưa ra những
thông tin mới, tư liệu mới, đề xuất mới, bảo đảm chất lượng, tránh trùng lắp, nhắc lại
quá nhiều những điều đã biết.
Cần đổi mới phương pháp và cách thức tổng kết hoạt động của địa phương, đi
sâu vào cuộc sống, vào các mặt hoạt động của địa phương mà tiếp nhận thông tin,
phân tích, khái quát thành lý luận; đồng thời, nhạy bén nắm bắt những diễn biến mới
và những vấn đề mới, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của nhân loại. Cố
gắng để tiếp nhận được những thông tin, những tư liệu, số liệu trung thực, khách quan
theo phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật. Khắc phục tình trạng đi

Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7

Trang 9


Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính

theo lối mòn, chỉ dựa vào những kết luận đã có trong sách vở để luận giải trừu tượng

tế ở địa phương” cũng mới chỉ nêu ra được một số điển hình. Nhưng việc nhận thức
đầy đủ, đúng đắn nguyên tắc này cào công tác của cá nhân là vô cùng cần thiết.
Với thời gian nghiên cứu chưa nhiều, không tránh khỏi những hạn chế. Kính
mong nhận được ý kiến của thầy để bản thân em rút kinh nghiệm và áp dụng cho quá
trình công tác mai sau./.

Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7

Trang 10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status