Thiết kế hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm công suất 300 m3 ngày đêm - Pdf 36

1


Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm
công suất 300 m3/ ngày đêm.

Lời mở đầu
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, do vậy ngành công
nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, là nền móng
phát triển vững chắc. Hàng năm có hàng chục nghìn nhà máy xí nghiệp được xây
dựng thêm, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Với hàng nghìn nhà máy mọc
lên và hàng trăm nghìn nhà máy đang hoạt động, hàng năm có tới hàng triệu m 3
nước thải chưa qua xử lý thải trực tiếp vào môi trường.Trong đó ngành dệt nhuộm
đóng góp vào ngồn nước thải đó một lượng tương đối lớn,với nước thải ở công
đoạn nấu,tẩy và nhuộm. Chúng chứa các chất hữu cơ khó phân hủy, các nhóm
phức mang màu có cấu trúc bền vững. Do đó, nguồn nước thải không được xử lý
triệt để sẽ gây ô nhiễm trầm trọng đến môi trường,ảnh hưởng đến thủy sinh, vi sinh
vật, động thực vật và là tác nhân gây ung thư cho con người.
Để đảm bảo sự phát triển bền vững, nhà nước ta đã ban hành quy chuẩn của nước
thải phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế, siết chặt kiểm tra quản lý các cơ sở sản
xuất. Dưới sức ép đó, các cơ sở sản xuất dệt nhuộm cần phải đảm bảo tiêu chuẩn
nước thải xả, ra của mình để đảm bảo sự tồn tại và cạnh tranh.
Chính từ những yêu cầu cấp thiết của thực tế sản xuất công nghiệp như vậy,em xin
đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm.
Em mong rằng đề tài này sẽ được phát triển và áp dụng rộng rãi trong tương lai.Em
xin chân thành cảm ơn cô.

2


Chương I: Tổng quan ngành dệt nhuộm


Đặc tính
sản phẩm
Nước thải

Đơn vị
m3/tấn vải

Hàng bông
dệt thoi
394

Hàng pha
dệt kim
264

Dệt len

Sợi

114

236

8-11

9-10

9


COD

mg/l

150-380

250-500

400-450

210-230

Độ màu

Pt-Co

350-600

250-500

260-300

_

< Thiết kế hệ thống xử lý nước thải, Trịnh Xuân Lai >
Ngoài ra trong nước thải còn chứa các ion kim loại nặng: Cu,Cr,Ni,...Đặc biệt độ
màu cao do lượng hóa chất nhuộm không hết,chỉ khoảng 70-80% màu được sử
dụng còn 20-30% thải ra môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước
của các sông hồ, ao. Ảnh hưởng lớn đến động vật thủy sinh trong nước.
I.2.1. Sơ đồ dây chuyền công nghệ và nước thải kèm theo


Nấu
Xử lí axit, giặt

H2O2,NaOCl,hóachất

Nước thải

Tẩy trắng
H2SO4, H2O2, chất tẩy giặt

Nước thải
Giặt

NaOH, hóa chất
Làm bóng
NaOH, hóa chất

Nước thải
Nhuộm, in hoa

Dung dịch nhuộm

Dịch nhuộm thải
Giặt

H2SO4, H2O2, chất tẩy giặt

Hoàn tất, văng khổ


⁰C. Sau đó vải được giặt nhiều lần.
-Làm bóng vải: Mục đích làm cho sợi cotton trương nở, làm tăng kích thước các
mao quản giữa các mạch phân tử làm cho xơ sợi trở nên xốp hơn, dễ thấm nước,
sợi bóng hơn, tăng khả năng bắt màu nhuộm. Làm bóng vải bông thường bằng
dung dịch kiềm NaOH có nồng độ từ 280 đến 300 g/l, ở nhiệt độ 10-20 ⁰C. Sau đó
vải dược giặt nhiều lần. Đối với vải nhân tạo không cần làm bóng.
-Tẩy trắng: Mục đích tẩy màu tự nhiên của vải, làm sạch các vết bẩn, làm cho vải
có độ trắng đúng yêu cầu chất lượng. Các chất tẩy thường dùng là natri clorit
NaClO2, natri hypoclorit NaOCl, hoặc hydro peroxyte H 2O2 cùng với các chất phụ
trợ.
Nếu sử dụng H2O2 giá thành sản phẩm cao hơn nhưng không ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái. Nước thải chủ yếu chứa kiềm dư và các chất hoạt động bề mặt.
Nếu sử dụng các chất tẩy chứa Clo: giá thành thấp hơn nhưng tạo ra hàm lượng
AOX (hợp chất halogen hữu cơ dễ hấp phụ) trong nước thải. Các chất này khả
năng gây ung thư và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
6


I.2.2.4. Nhuộm vải
Đây là công đoạn phức tạp, sử dụng nhiều loại thuốc nhuộm và hóa chất để
tạo màu sắc khác nhau cho vải. Thuốc nhuộm có nhiều loại như: trực tiếp, hoàn
nguyên, lưu huỳnh, hoạt tính... tồn tại ở dạng tan hay phân tán trong dung dịch. Tỉ
lệ màu của thuốc nhuộm gắn vào sợi từ 50-98%, phần còn lại đi vào trong nước
thải.
Quá trình nhuộm xảy ra theo 4 bước :
+Di chuyển các phần tử thuốc nhuộm đến bề mặt sợi.
+Gắn màu vào bề mặt sợi.
+Khuếch tán màu vào sợi, quá trình này xảy ra chậm.
+Cố định màu vào sợi.
-In hoa: Để tạo vân hoa, có 1 hay nhiều màu trên vải. Các loại thuốc in hoa ở dạng

Cation (kiềm)
2-3
Crom
1-2
-Các loại thuốc nhuộm và đặc tính sử dụng trong sản xuất dệt nhuộm.

7


Để sản xuất các mặt hàng vải màu và in hoa trong công nghiệp dệt nhuộm người
ta phải sử dụng nhiều loại thuốc nhuộm khác nhau. Thuốc nhuộm chủ yếu là
cáchợp chất hữu cơ có màu, khi tiếp xúc với các vật liệu khác nhau thì khả năng
bắt màu và giữ màu trên vật liệu khác nhau bằng các lực liên kết vật lý và hoá học.
Hầu hết thuốc nhuộm là những hợp chất màu hữu cơ trừ thuốc nhuộm pigment có
một số màu từ hợp chất vô cơ.Các loại thuốc nhuộm thường gặp, gồm:
+Thuốc nhuộm trực tiếp:
Thuốc nhuộm trực tiếp hay còn gọi là thuốc nhuộm tự bắt màu là những hợp chất
màu hoà tan trong nước, có khả năng bắt màu vào một số vật liệu như các sợi
xenlulo, giấy, tơ tằm và sợi polyamit một các trực tiếp nhờ các lực hấp phụ trong
môi trường trung tính hoặc kiềm.Hầu hết thuốc nhuộm trực tiếp có nhóm azo,một
số ít là dẫn xuất dioazin và flatoxianim,tất cả được sản xuất dưới dạng muối natri
của axit sunforic hoặc cacbonyl hữu cơ,một vài trường hợp được sản xuất dưới
dạng muối amoni va kali nên được viết dưới dạng tổng quát là:
Ar-SO3-Na (Ar:gốc hữu cơ mang màu thuốc nhuộm)
Khi hoà tan vào nƣớc thuốc nhuộm phân ly như sau:
Ar-SO3-Na → Ar-SO3 +Na+
Ar-SO3: là ion mang màu có điện tích âm.
Thuốc nhuộm trực tiếp chỉ có hiệu suất bắt màu cao 90% khi nhuộm màu nhạt ở
nồng độ thấp, còn đối với những màu đậm, lượng thuốc nhuộm bị thải ra tương đối
lớn.

+Thuốc nhuộm hoàn nguyên:
Thuốc nhuộm hoàn nguyên được dùng chủ yếu để nhuộm chỉ, sợi vải bông, lụa
vixco.Thuốc nhuộm hoàn nguyên bao gồm 2 nhóm chính:nhóm indigoit (có chứa
nhân indigovà dẫn xuất của nó)và nhóm hoàn nguyên đa vòng (có chứa nhân
Antraguinon và các dẫn xuất).Tuy có cấu tạo và màu sắc khác nhau nhưng tất cả
đều có nhóm axeton(C=O) trong phân tử nên công thức tổng quát là R=C=O.
Tất cả các thuốc nhuộm hoàn nguyên đều không tan trong nước và trong kiềm.
Để nhuộm và in hoa, ngƣời ta khử nó trong môi trường kiềm bằng chất khử
mạnh như NaHSO3, H2O2, hay dùng nhất là dung dịch Na2SO4+ NaOH ở
nhiệt độ 50 -60 ⁰C.Tùy thuộc vào công nghệ nhuộm khác nhau mà tỷ lệ bắt màu
của thuốc nhuộm hoàn nguyên khác nhau, dao động trong khoảng 70 -80%. Phần
không bắt màu đi vào nước thải, có cấu trúc bền vững và đang là một vấn đề đáng
quan tâm trong xử lý nƣớc thải dệt nhuộm.
+Thuốc nhuộm phân tán:
Là những chất màu không tan trong nước, được sản xuất dưới dạng hạt phân tán
cao thể keo nên có thể phân bố đều trong nước kiểu dung dịch huyền phù, đồng
thời có khả năng chịu ẩm cao, có cấu tạo phân tử từ các gốc azo (-N=N-) và
antraquinon, có chứa nhóm amin tự do hoặc đã bị thế (-NH2, -NHR, -NR2,
-NH-CH2=CH2-OH) nên thuốc nhuộm dễ dàng phân tán trong nước.Mức độ gắn
màu của thuốc nhuộm phân tán đạt tỉ lệ cao 90 -95%, nên mức độ thải ra
9


môi trường không cao. Môi trường thuốc nhuộm có tính axit và có nhiều chất hoạt
động bề mặt có thể kết hợp trung hòa với dòng thải kiềm tính.
+Thuốc nhuộm lưu huỳnh:
Trong phân tử có chứa disunfua (-S-S) và nhiều nguyên tử lưu huỳnh.Là hợp chất
không màu tan trong nước và một số dung môi hữu cơ. Dùng để nhuộm sợi
coton thuốc nhuộm này tương đối đủ màu trừ màu tím và màu đỏ chưa tổng hợp
được.Môi trường nhuộm mang tính kiềm và độ hấp phụ các loại thuốc này khoảng

I.3. Hiện trạng ô nhiễm và các chất ô nhiễm
Sự gia tăng đáng kể của ngành dệt may là nhờ sự đóng góp rất lớn của ngành dệt
nhuộm.
Chất lượng vải, màu sắc và kiểu dáng ưu chuộng là những yếu tố không thể thiếu
trong lĩnh vực thời trang. Tuy nhiên, với nhu cầu ngày càng cao về màu sắc và độ
bền của thuốc nhuộm, dưới góc độ môi trường thì sự đa dạng về màu sắc và độ bền
màu ngày một tăng cao của thuốc nhuộm lại là sự ô nhiễm môi trường mức độ
ngày càng trầm trọng hơn và càng khó khăn hơn trong nghiên cứu cơ chế và công
nghệ xử lý nước thải.
Hàng năm, ngành công nghiệp dệt may sử dụng hàng nghìn tấn các loại hoá chất
nhuộm.
Hiệu suất sử dụng các loại thuốc nhuộm nằm trong khoảng từ 70 -80% và đối đa
chỉ đạt 95%. Như vậy, một lượng lớn hoá chất, thuốc nhuộm sẽ bị thải ra môi
trường. Theo số liệu thống kê,ngành dệt may thải ra môi trường khoảng 24 -30
triệu m3 nước thải/năm. Trong đó mới chỉ có khoảng 10% tổng lượng nước thải đã
được qua xử lý, số còn lại đều thải trực tiếp ra môi trường tiếp nhận.
Ở một số nước, tiêu chuẩn cho phép đối với các thông số ô nhiễm của công đoạn
nhuộm đã ngày càng giảm xuống, như vậy cũng cho thấy sự tiến bộ trong công
nghệ sản xuất của các nước để có thể tuân thủ được theo tiêu chuẩn này. Các cơ sở
sản xuất buộc phải thay đổi quy trình công nghệ, thay đổi những hóa chất sử dụng
trong đó và các hệ thống xử lý phù hợp cũng phải thay đổi theo. Ví dụ, các thông
số tiêu chuẩn đối với nước thải dệt ở Tây Ban Nha hiện nay đã giảm xuống, đối với
COD chỉ còn là 160mg/l (vì đây là loại chất hữu cơ khó phân hủy nên ở nước Tây
Ban Nha có quy định riêng). Đối với Việt Nam, mặc dù COD cho phép thải ra là
80mg/l (TCVN 5945-2005 loại B),nhưng lại là quy định cho tất cả các loại nước
thải của sản xuất, không phân biệt các ngành khác nhau.
Tiêu chuẩn ngày càng cao cũng đồng nghĩa với việc cần các phương pháp công
nghệ xử lý tiên tiến hơn, hiệu quả hơn.
Một trong những phương pháp xử lý hiệu quả đối với nước thải nhuộm là kết hợp
phương pháp cổ điển như keo tụ với những biện pháp xử lý tiên tiến như sử dụng

hàng sản xuất và theo chất lượng sản phẩm. Nhìn chung nước thải từ các cơ sở dệt
nhuộm có độ kiềm cao, độ màu và hàm lượng chất hữu cơ cao. Hiệu quả hấp phụ
của vải chỉ đạt 60-70%. Ngoài ra một số chất điện ly, chất hoạt động bề mặt, chất
tạo môi trường cũng tồn tại trong thành phần nước thải tạo ra độ màu cao của nước
thải.Nước thải của ngành dệt nhuộm nếu không được xử lý, khi thải vào môi
trường sẽ làm mất cân bằng sinh thái của nguồn tiếp nhận gây ô nhiễm môi trường
và ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người.

12


Bảng 1.3 :Các chất gây ô nhiễm và đặc tính của nước thải ngành dệt nhuộm [I]
Công đoạn

Tẩy trắng

Chất ô nhiễm trong nước
thải
Tinh bột,glucose,carboxy
metyl xelulo,polyvinyl
alcol,nhựa,chất béo và sáp
NaOH,chất sáp và dầu
mỡ,tro,soda,silicat natri
và xơ sợi vụn
Hypoclorit,hợp chất chứa
Clo,NaOH,AOX,axit,...

Làm bóng

NaOH,tạp chất

13


Chương II: Các phương pháp xử lý.
Để xử lý nước thải chứa các hợp chất hữu cơ nói chung người ta thường sử dụng
2 biện pháp chính là biện pháp phân huỷ bằng sinh học và các biện pháp hoá học.
Nước thải nhuộm là nước thải khó phân huỷ sinh học nên biện pháp xử lý chủ yếu
là biện pháp hoá học.
Các biện pháp hoá học xử lý chất thải hữu cơ khó phân huỷ bao gồm các biện
pháp xử lý bằng keo tụ, xử lý bằng hấp phụ, xử lý bằng oxi hoá hoá học... Các biện
pháp này thường đạt hiệu quả cao trong xử lý nước thải mà không phương pháp
nào thay thế được, thời gian xử lý ngắn, diện tích mặt bằng cho hệ thống xử lý
không lớn. Tuy nhiên, nếu xử lý triệt để thì giá thành xử lý tương đối cao và đôi
khi sinh ra các sản phẩm phụ không mong muốn trong quá trình xử lý.

II.1.Phương pháp cơ học
-Song chắn rác, lưới chắn rác để loại bỏ các tạp chất thô đi vào các công trình phía
sau.
-Bể điều hòa : Duy trì nồng độ và lưu lượng nước thải đầu vào
II.2.Phương pháp hóa học
II.2.1. Phương pháp trung hòa
Phương pháp trung hòa được thực hiện bằng trộn dòng thải có tính axit với
dòng thải có tính kiềm hoặc sử dụng các hóa chất như H2SO4, HCl, NaOH, CO2.
Điều chỉnh pH thường kết hợp thực hiện ở bể điều hòa hay bể thu gom.
II.2.2. Xử lý bằng phương pháp oxy hóa
Ngày nay người ta thường nói đến phương pháp xử lý nước thải bằng AOPs
(Advanced Oxidation Processes)
–Quá trình oxi hóa tiên tiến. Phương pháp này là nhằm sử dụng những tác nhân
hóa học có khả năng oxi hoá mạnh như TiO2, O3, H2O2 hoặc kết hợp
chúng với nhau...để xử lý nƣớc thải. Đặc điểm của những chất oxi hoá mạnh này

Vella et al. (1993) đã tiến hành nghiên cứu phân hủy tricloetylen (TCE) trong
nước với nồng độ pha chế 10mg/l bằng quá trình Fenton. Phản ứng thực hiện ở pH
giữa 3,9 và 4,2 với tỷ lệ mol FeII: H2O2 bằng 0,2 và sử dụng liều lượng H2O2
là 53 và 75mg/l. Kết quả cho thấy khi thí nghiệm với H2O2 53mg/l hoặc cao hơn
thì hiệu quả loại bỏ TCE đạt trên 80% sau 2 phút xử lý.Hunter (1996) đã nghiên
cứu xử lý 1,2,3 -triclopropan với nồng độ ban đầu 150mg/l và
cho thấy điều kiện xảy ra tốt nhất khi pH từ 2 -3,3. Khi tăng nồng độ FeII có khả
năng làm tăng tốc độ phân hủy 1,2,3 -triclopropan.
-Nhược điểm quan trọng nhất của quá trình Fenton là phải thực hiện ở pH thấp, sau
khi phản ứng phải nâng pH >7 lên để tách các ion Fe3+ ra khỏi nước thải sau xử lý
bằng nước vôi hoặc dung dịch kiềm nhằm chuyển sang dạng keo Fe(OH)3
15


kết tủa, sau đó phải qua các thiết bị lắng hoặc lọc để tách kết tủa, tạo ra một lượng
bùn kết tủa chứa rất nhiều sắt.
+ Quá trình oxi hóa sử dụng UV
a.

Quá trình quang phân trực tiếp:

Dưới tác dụng của bức xạ UV, các chất ô nhiễm trong nước có thể hấp thu trực
tiếp quang năng này, chuyển sang trạng thái bị kích thích có năng lượng lượng cao
và sau đó bị phân hủy.
Quá trình này được gọi là quá trình quang phân trực tiếp các chất ô nhiễm.
Quá trình quang phân trực tiếp các chất hữu cơ bằng bức xạ UV cũng có thể phân
hủy các chất hữu cơ theo cơ chế như đã khảo sát trên với khởi đầu bằng giai đoạn
hấp thu năng lượng bức xạ UV và trở thành trạng thái bị kích thích. Tuy nhiên,
hiệu suất lượng tử của quá trình quang phân trực tiếp thấp và hệ số
hấp thu bức xạ UV không cao nên đã hạn chế việc sử dụng phương pháp này vào

Hấp thu của H2O2 đạt được cực đại đối với bức xạ UV có tần số 220nm, vì vậy
sử dụng đèn hơi thủy ngân trung áp là thích hợp. Tuy nhiên, trong thực tế người ta
thường sử dụng nguồn UV của đèn hơi thủy ngân thấp áp với bước sóng đặc trưng
là 253,7nm.
Khi sử dụng đèn hơi thủy ngân thấp áp thì hệ số hấp thu phân tử của H2O2 chỉ
đạt 19,6 l.M-1.cm-1. Vì vậy, khi sử dụng đèn hơi thủy ngân thấp áp với bước sóng
253,7nm, phải tăng lượng H2O2 đưa vào để tạo ra lượng gốc HO đủ cho quá trình.
Khi tăng lượng dư H2O2 sẽ xảy ra hiện tượng bị mất một số gốc HO, giảm hiệu
quả của quá trình do các phản ứng sau:
HO*+ H2O2----- *HO2+ H2O
*HO2+ H2O2----- HO*+ H2O + O2
* HO2+* HO2------ H2O2+ O2
Ngoài con đường tạo gốc HO* trực tiếp từ H2O2 còn một con đường khác tạo ra
gốc HO từ H2O2 thông qua giai đoạn trung gian, như sau [Munter, 2001]:
H2O2----HO2-+ H+
HO2-+ hv--- HO*+* OAnion HO2- lại có hệ số hấp thu bức xạ UV cao ở bước sóng 253,7nm. Vì vậy,
trong thực tế cũng có thể sử dụng đèn UV hơi thủy ngân thấp áp để tạo gốc HO từ
H2O2
.Gốc HO* được tạo thành từ phản ứng trên sẽ tham gia vào quá trình phân huỷ chất
ô nhiễm hữu cơ qua các giai đoạn oxi hoá:
HO*+ CH2Cl2-- H2O + *CHCl2
*CHCl2+ HO2--- CO2+ 2HCl
Các phản ứng trên cho thấy các chất ô nhiễm hữu cơ khi tác dụng với gốc HO*
sẽ bị oxi hoá hoàn toàn thành CO2 hoặc H2O và muối.

17


Quá trình oxi hóa sử dụng UV kết hợp H2O2 đã được nghiên cứu để xử lý với
nhiều đối tượng chất ô nhiễm khác nhau trong nước cấp và nước thải công

việc loại bỏ chất ô nhiễm trong nước. Các chất ô nhiễm bao gồm các chất vô cơ và
các chất hữu cơ tan trong nước. Phương pháp keo tụ được định nghĩa là một hiện
tương làm mất sự ổn định của các hạt huyền phù dạng keo “ổn định” để cuối cùng

18


tạo ra các cụm hạt lớn hơn khi có sự tiếp xúc giữa các hạt keo. Cũng có thể nói keo
tụ là một phương pháp làm biến mất hoặc làm giảm điện tích bề mặt hạt keo.
Có 4 biện pháp keo tụ hoá học gồm:
-Tăng lực ion.
-Thay đổi pH.
-Đưa vào hệ một muối kim loại hoá trị III.
-Đưa vào một polyme tự nhiên hoặc polyme tổng hợp.
Trong quá trình keo tụ, người ta sử dụng muối nhôm hoặc muối sắt hoá trị 3 còn
gọi là phèn nhôm hoặc phèn sắt làm chất keo tụ. Việc đưa các muối kim loại đa
hoá trị này vào nước làm cho các hạt keo tập hợp thành chùm xung quanh ion kim
Các chất phân tán trong nước có thể tác động với nhau theo nhiều cách, sự tác
động đó ảnh hưởng đến sự ổn định hoặc bất ổn định của các hạt vật chất. Sự ổn
định của các hạt là kết quả của sự tương tác giữa lực hấp dẫn Vander Wall và lực
đẩy tĩnh điện (do các hạt vật chất luôn luôn tích điện). Khi lực hấp dẫn Vander
Wall và lực đẩy tĩnh điện cân bằng thì các hạt keo tồn tại trong nước được ổn định.
Lực đẩy có thể bị ảnh hưởng khi thay đổi nồng độ ion hoặc điện tích bề mặt của
các hạt keo. Khi nồng độ ion tăng sẽ làm cản trở lực đẩy tĩnh điện và lực hấp dẫn
chiếm ưu thế, làm các hạt keo tiến đến gần nhau. Vì vậy, khi thêm muối nhôm và
muối sắt (điện tích trái dấu với các hạt keo) vào dung dịch, điện tích bề mặt keo có
thể bị giảm xuống hoặc được trung hòa, làm cho lực đẩy giữa các hạt keo giảm
xuống.
Sự thủy phân các ion thường được thể hiện qua một loạt các phản ứng thay thế
các phân tử nước bằng các ion hydroxyl. Khi hàm lượng cation kim loại có mặt

khối lượng mặt sinh học trong bể quá trình oxy hóa, nhiệt độ của nó, và nồng độ
oxy. Nồng độ sinh khối có thể tăng lên, bằng cách sục khí hiệu ứng treo nhưng
điều quan trọng không phải để đạt tới năng lượng pha trộn có thể phá hủy các bầy,
bởi vì nó có thể ức chế sau
giải quyết. Thông thường, nồng độ sinh khối khoảng từ 2500-4500 mg/l, oxy
khoảng 2 mg/l. Với thời gian sục khí cho đến 24 giờ nhu cầu oxy có thể được giảm
đến 99%. Theo nhu cầu ôxy khác nhau, phương pháp xử lý sinh học có thể được
chia thành xử lý hiếu khí và kỵ khí. Do hiệu quả cao và ứng dụng rộng rãi trong
điều trị sinh học hiếu khí, nó tự nhiên trở thành dòng chính của xử lý sinh học

20


Chương III. Tính toán thiết kế
III.1. Các sơ đồ công nghệ xử lý
Dựa vào đặc tính nước thải dệt nhuộm của nhà máy với hàm lượng các chất hữu cơ
khó phân. Các dây chuyền công nghệ của các nhà máy đã thực hiện:
Nước thải

Song chắn rác thô

Bãi chôn lấp

Hầm tiếp nhận
Bể điều hòa
Bể trộn cơ khí
Phèn nhôm

Bể tạo bông


Hóa chất

Hóa chất

Phèn Al,Fe

Bể phản ứng

Bể keo tụ tạo
bông

Bể lắng

Bể chứa bùn

Bể SBR

Máy ép bùn

Bể trung gian

Bể lọc áp lực

Bể khử trùng

Bể tiếp nhận

Hình 3.3.Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm công ty Đoàn Gia Phát.
23


Bùn khô
Bể khử trùng

Bể tiếp nhận(QCVN
24:2009/BTNMT)

Hình 3.4.Sơ đồ công nghệ xử lý được lựa chọn
24


b.Thuyết minh dây chuyền công nghệ :
-Song chắn rác: Tách các tạp chất thô trước khi vào bể thu gom, giúp tăng hiệu quả
xử lý ở các thiết bị phía sau.
-Hố thu: Chứa nước thải sau đó bơm vào bể điều hòa,tiếp tục cho các quá trình tiếp
theo.
-Bể điều hòa: Do tính chất nước thải thay đổi theo từng giờ sản xuất và nó phụ
thuộc vào loại nước thải theo từng công đoạn.Vì vậy nhất thiết phải có bể điều hòa,
bể có nhiệm vụ điều hòa lưu lượng nước, khuếch tán nồng độ, làm giảm kích
thước, tạo chế độ làm việc ổn định cho các công trình phía sau, tránh hiện tượng
quá tải của hệ tống xử lý. Lượng BOD cũng giảm đáng kể do bể có mặt bằng lớn
nên Oxy hóa diễn ra,VSV phát triển, sục thêm khí để khử BOD tốt hơn.
-Bể trộn-bể phản ứng (tạo bông): Do tính chất nước thải dệt nhuộm có cặn lơ lửng
khá cao, pH cao, độ màu cao nên để loại bỏ chúng ta dùng quá trình keo tụ –tạo
bông. Quá trình được thực hiện trong 2 bể là bể trộn cơ khí và bể phản ứng cơ khí.
Khi nước thải được bơm từ bể điều hòa qua bể trộn cơ khí, dùng năng lượng cánh
khuấy tạo dòng chảy rối để hòa trộn đều nước thải với phèn Al để tiến hành keo tụ.
Quá trình xảy ra trong 60s và vận tốc quay lớn.Từ bể trọn sẽ làm việc theo chế độ
tự chảy qua bể phản ứng.Tại đây quá trình keo tụ được hoàn thành, tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình tiếp xúc và kết dính giữa các hạt keo với cặn bẩn, lúc này
có châm thêm polyme ở bể phản ứng xảy ra trong 30 phút. Qua tình keo tụ –tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status