Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần bảo hộ lao động việt nam - Pdf 36

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ để hòa nhập cùng tiến
độ phát triển của nền kinh tế thế giới. Hiện nay, các thành phần doanh nghiệp Việt Nam phát
triển vô cùng đa dạng, phong phú hứa hẹn những đột phá mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước
nhà.Đặc biệt, trong những năm trở lại đây, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
sản xuất tăng nhanh. Các doanh nghiệp này muốn khẳng định được vị thế của mình và phát triển
bền vững cần phải có một bộ máy quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất của doanh nghiệp mình.
Đối với các doanh nghiệp Sản xuất kinh doanh, yếu tố cơ bản để đảm bảo cho quá trình
sản xuất được tiến hành liên tục, đó là Nguyên vật liệu. Nguyên vật liệu là tư liệu lao động chủ
yếu, là yếu tố đầu vào cấu thành nên thực thể sản phẩm. Chi phí về Nguyên vật liệu chiếm tỷ
trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất. Mọi sự biến
động của khoản mục này đều làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, từ đó ảnh hưởng đến thu
nhập của doanh nghiệp. Do vậy, hạ thấp và tiết kiệm chi phí Nguyên vật liệu là giảm một phần
đáng kể chi phí sản xuất. Tiết kiệm chi phí sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đó
là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp có thể giảm giá bán, tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường, tăng lợi nhuận thu được. Để đạt được mục tiêu này các doanh nghiệp phải có chế độ quản
lý và sử dụng Nguyên Vật liệu hợp lý khoa học, có công tác hạch toán vật liệu phù hợp với đặc
điểm của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tài chính kế toán nói chung và công tác kế
toán Nguyên vật liệu nói riêng, đồng thời nhận được sự chỉ bảo tận tình của TS. Đào Thanh Bình,
cùng anh chị kế toán trong công ty Cổ phần Bảo hộ Lao động Việt Nam,em đã lựa chọn đề tài
khóa luận cho mình là : “ Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công
ty Cổ phần Bảo hộ Lao động Việt Nam.”
Nội dung bài khóa luận của em gồm 3 chương chính :
Chương 1:Những vấn đề cơ bản về kế toán Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2:Thực trạng kế toán Nguyên Vật liệu tại Công ty Cổ phần Bảo hộ Lao động Việt
Nam.
Chương 3:Một số giải pháp nhằm hoàn thiện Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ
Phần Bảo hộ Lao động Việt Nam.
Mặc dù bản thân em cũng đã rất cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, nhưng do thời gian có hạn,
vấn đề nghiên cứu sâu rộng nên không thể tránh khỏi có những thiếu sót. Em rất mong được anh

vật liệu khác nhau phân loại nguyên vật liệu là việc nghiên cứu sắp xếp các loại vật tư theo từng
nội dung, công dụng tính chất thành phần của chúng nhằm phục vụ cho yêu cầu quản trị của
Doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý vật liệu của kế
toán chi tiết.
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng Doanh nghiệp mà trong
từng loại nguyên vật liệu luôn được chia hành từng nhóm, từng quy cách khác nhau và có thể
được ký hiệu riêng. Nhìn chung thì nguyên vật liệu đợc phân chia theo các cách sau đây:
 Phân loại theo vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh
-

Nguyên vật liệu chính: Là những đối tượng chủ yếu cấu thành nên thực thể của sản phẩm (kể cả
bán thành phẩm mua ngoài) như tôn, sillic, sắt...trong chế tạo động cơ.

-

Vật liệu phụ: Là những thứ chỉ có tác động phụ trợ trong sản xuất và chế tạo sản phẩm nhằm làm
tăng chất lượng của nguyên vật liệu chính hoặc tăng chất lượng của sản phẩm sản xuất ra như
dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống rò rỉ, hơng liệu, xà phòng...


-

Nhiên liệu: Là những thứ đợc sử dụng cho công nghệ sản xuất sản phẩm cho các phương tiện vật
chất, máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất kinh doanh.

-

Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết phụ tùng dùng để thay thế sữa chữa và thay thế cho máy móc,
thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.


tặng.

-

Nguyên vật liệu thu hồi vốn góp liên doanh.

-

Nguyên vật liệu khác như kiểm kê thừa, vật liệu không dùng hết.

 Phân loại theo mục đích và nội dung nguyên vật liệu
-

Nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào sản xuất kinh doanh.

-

Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác phục vụ ở quản lý phân xưởng, tổ đội sản
xuất, cho nhu cầu bán hàng quản lý doanh nghiệp.
1.1.3. Xác định giá trị của nguyên vật liệu.

1.1.3.1. Nguyên tắc xác định giá trị nguyên vật liệu


-

Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cấu thành nên hàng tồn kho, do đó kế toán
NVL phải tuân thủ theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho (chuẩn mực kế toán Việt Nam số
02). Như vậy, theo chuẩn mực số 02- NVL được tính theo nguyên tắc giá gốc.


hóa đơn tùy thuộc vào phơng pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp áp dụng, cụ thể là:
+ Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, giá mua NVL là giá chưa có
thuế GTGT đầu vào.
+ Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và hàng không chịu thuế
GTGT, giá mua là tổng thanh toán.

-

Các loại thuế không được hoàn lại: thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.


-

Chi phí thu mua thực tế phát sinh: chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc dỡ, lưu kho, lưu bãi, bảo
hiểm hàng mua, hao hụt trong định mức cho phép, công tác phí của bộ phận thu mua, dịch vụ
phí…

-

Các khoản giảm trừ (nếu có):
+ Chiết khấu thương mại: là số tiền mà doanh nghiệp đợc giảm trừ do đã mua hàng, dịch vụ với
khối lợng lớn theo thỏa thuận.
+ Giảm giá hàng mua: là số tiền mà ngời bán giảm trừ cho ngời mua do hàng kém phẩm chất, sai
quy cách… khoản này ghi giảm giá mua hàng hóa.
 Với NVL thuê ngoài gia công chế biến
Giá thực tế = Giá xuất kho + Chi phí liên quan + Chi phí gia công, chế biến
Trong đó:
-

Giá xuất kho: Là giá NVL khi xuất kho đem thuê ngoài



Theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho, giá trị xuất kho của hàng tồn kho được xác
định bằng một trong bốn phương pháp sau:
-

Phương pháp thực tế đích danh

-

Phương pháp bình quân (cả kỳ dự trữ hoặc sau mỗi lần nhập)

-

Phương pháp nhập trước xuất trước

-

Phương pháp nhập sau xuất trước (Theo thông tư 200/2014/TT-BTC thì không sử dụng
phương pháp pháp này nữa)

Do NVL là một trong những thành phần của hàng tồn kho nên việc tính giá trị NVL xuất kho
cũng được áp dụng một trong các cách trên.
 Phương pháp tính giá thực tế đích danh
-

-

Giá thực tế NVL xuất kho theo phương pháp này được căn cứ vào số lượng xuất kho và
đơn giá nhập kho thực tế của từng hàng, từng lần nhập, từng lô hàng và sốlượng xuất kho

Theo phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ


Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính giá trị vốn của NVL xuất kho trong kỳ. Tùy theo kỳ
dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng NVL đầu
kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân.
+ Ưu điểm: đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.
+ Nhược điểm: độ chính xác không cao. Công việc bị dồn lại vào cuối kỳ, ảnh
hưởng đến tiến độ quyết toán. Và phương pháp này không đáp ứng nhu cầu kịp thời của thông tin
kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
-

Theo phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập

Sau mỗi lần nhập NVL, kế toán phải xác định lại giá trị thực của NVL và giá đơn vị bình quân.
Phương pháp bình quân gia quyền nên được áp dụng cho các doanh nghiệp có ít chủng loại NVL,
có lưu lượng nhập xuất ít, giá NVL ít biến động.
+ Ưu điểm: xác định được giá vật tư chính xác, kịp thời hơn và không phải dồn cuối kỳ mới tính
toán, như vậy sẽ không ảnh hưởng tới các khâu khác.
+ Nhược điểm: việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức.
 Phương pháp bình quân gia quyền nên được áp dụng cho các doanh nghiệp có ít chủng loại

NVL, có lưu lượng nhập xuất ít, giá NVL ít biến động.
 Phương pháp nhập trước xuất trước
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả thiết rằng số NVL nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết
số nhập trước rồi mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô NVL xuất kho. Do vậy, giá
thực tế của NVL mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá NVL xuất trước. Vì vậy, giá trị
NVL cuối kỳ sẽ là giá trị thực tế của số NVL nhập vào sau cùng trong kỳ.
Điều kiện áp dụng: áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại NVL, đơn giá NVL lớn cần theo dõi
chính xác đơn giá xuất của từng NVLtheo từng lần nhập.


-

Ưu điểm: việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo nguyên tắc phù hợp trong kế toán.

-

Nhược điểm: trị giá vốn của NVL cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của NVL thay thế.
1.1.4. Yêu cầu quản lý kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, việc quản lý nguyên vật liệu một cách khoa học và hiệu
quả là một nhiệm vụ cấp bách. Hiện nay nguyên vật liệu không còn là khan hiếm và không còn
phải dự trữ nhiều như trước nhưng vấn đề đặt ra là phải cung cáp đây đủ, kịp thời để đảm bảo cho
quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên đồng thời để đảm bảo cho quá trình sản xuất được
diễn ra thường xuyên đồng thời sử dụng vốn tiết kiệm nhất, không gấy ứ đọng vốn kinh doanh.
Chính vì lí do đó nên ta có thể xem xét việc quản lý nguyên vật liệu trên các khía cạnh sau :

-

-

-

Quản lý thu mua nguyên vật liệu sao cho hiệu quả theo đúng yêu cầu sử dụng với giá cả hợp lý,
đồng thời tổ chức tốt khâu vận chuyển để tránh thất thoát.
Thực hiện bảo quản nguyên vật liệu tại kho bãi theo đúng chế độ cho từng loại trong điều kiện
phù hợp với quy mô tổ chức doanh nghiệp để tránh thất thoát.
Do đặc tính của nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị tiêu hao
toàn bộ trong quá trình đó. Hơn nữa chúng thường xuyên biến động nên các doanh nghiệp cần
phải xây dựng định mức tồn kho để đảm bảo tốt nhu cầu sản xuất.
1.2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu.

thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:
Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của nguyên vật liệu về giá
cả và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá vốn (hoặc giá thành) thực tế của nguyên vật liệu nhập
kho, xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời chính xác phục vụ cho yêu cầu lập báo cáo tài
chính và quản lý doanh nghiệp.
Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp kỹ thuật về hạch toán nguyên
vật liệu. Đồng thời hướng dẫn các bộ phận, các đơn vị trong Doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các
chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu, phải hạch toán đúng chế độ, đúng phương pháp quy
định để đảm bảo sự thống nhất trong công tác kế toán nguyên vật liệu.
Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu từ đó phát hiện,
ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm
chất, giúp cho việc hạch toán xác định chính xác số lợng và giá trị nguyên vật liệu thực tế đa vào
sản xuất sản phẩm. Phân bố chính xác nguyên vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng sử dụng để từ đó
giúp cho việc tính giá thành được chính xác.
Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung cấp thông tin cho việc lập
báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh.
Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, đánh
giá phân loại tình hình nhập xuất và quản lý nguyên vật liệu. Từ đó đáp ứng đợc nhu cầu quản lý
thống nhất của Nhà nước cũng như yêu cầu quản lý của Doanh nghiệp trong việc tính giá thành
thực tế của NVL đã thu mua và nhập kho đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu
mua vật tư về số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn cung cấp nguyên vật liệu một cách đầy đủ,
kịp thời.
Tóm lại: Nếu hạch toán kế toán nói chung là công cụ đắc lực để quản lý tài chính thì hạch
toán kế toán vật liệu nói riêng là công cụ đắc lực của công tác vật liệu. Kế toán vật liệu có chính
xác kịp thời hay không nó ảnh hởng đến tình hình hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Vì vậy để tăng
cường công tác quản lý vật liệu phải không ngừng cải tiến và hoàn thiện công tác kế toán vật
liệu. Hạch toán kế toán vật liệu giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thu
mua,nhập xuất, dự trữ vật liệu một cách chính xác để từ đó có biện pháp chỉ đạo hoạt động sản
xuất kinh doanh kịp thời tổ chức công tác hạch toán vật liệu chặt chẽ sẽ góp phần cung ứng kịp
thời và đồng bộ nguyên vật liệu cho sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Mặt



Mọi chứng từ kế toán về nguyên vật liệu phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự và thời gian
hợp lý, do đó kế toán trưởng quy định phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu
kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan.
1.3.2. Sổ kế toán chi tiết vật liệu.
Trên cơ sở chứng từ kế toán hợp lý, hợp lệ, hợp pháp kế toán sẽ ghi sổ kế toán tùy thuộc
vào phương pháp kế toán áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng các sổ (thẻ) kế toán chi tiết
sau:
- Sổ (thẻ) kho
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu
- Bảng tổng hợp nhập xuất tồn
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Phiếu giao nhận chứng từ
- Các bảng kê.
1.3.3.Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
Trong doanh nghiệp sản xuất, việc quản lý vật liệu, công cụ, dụng cụ do nhiều bộ phận
tham gia. Song việc quản lý tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày
được thực hiện chủ yếu ở bộ phận kho và phòng kế toán doanh nghiệp. Trên cơ sở các chứng từ
kế toán về nhập, xuất vật liệu thủ kho và kế toán vật liệu phải tiến hành hạch toán kịp thời, tình
hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày theo từng loại vật liệu. Sự liên hệ
và phối hợp với nhau trong việc ghi chép và thẻ kho, cũng như việc kiểm tra đối chiếu số liệu
giữa kho và phòng kế toán đã hình thành nên phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ
dụng cụ giữa kho và phòng kế toán.
Hiện nay trong các doanh nghiệp sản xuất, việc hạch toán vật liệu giữa kho và phòng kế toán có
thể thực hiện theo các phương pháp sau:
- Phương pháp thẻ song song.



(5) Cuối kỳ, đối chiếu số liệu giữa bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn với số liệu sổ tổng hợp.
Với cách ghi chép, kiểm tra đối chiếu như trên, phương pháp có những ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm : Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu
- Nhược điểm : Việc ghi chép giữa kho với kế toán còn trùng lặp nhiều chỉ tiêu số lượng. Mặt
khác làm hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán do việc kiểm tra và đối chiếu chủ yếu được tiến
hành vào cuối tháng.


- Phạm vi áp dụng : Thích hợp với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sử dụng ít loại vật liệu.
1.3.2.2.Phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ số dư.
Khác với phương pháp trên, phương pháp này yêu cầu phòng kế toán theo dõi và phản ánh từng
thứ vật liệu về chỉ tiêu giá trị còn thủ kho vẫn quản lý về số lượng.
- Tại kho: hàng ngày hoặc định kỳ sau khi thẻ kho xong, thủ kho tập hợp toàn bộ chứng từ nhập,
xuất kho phát sinh trong ngày, trong kỳ và phân loại theo từng nhóm như quy định, sau đó lập
một bản chứng từ nhập và một bản chứng từ xuất.
Phiếu giao nhận chứng từ nhập (xuất) kho
Từ ngày ... đến ngày .... tháng ...năm.....
Nhóm vật liệu

Nhập (xuất)

Ký nhận

Số lượng CT

Số hiệu CT

Thành tiền

Tổng cộng



trữ

SL

TT SL

TT

Tại phòng kế toán: khi nhận được các chứng từ nhập, xuất và phiếu giao nhận chứng do nhân
viên phụ trách kho chuyển lên, kế toán NVL lập bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất như ở phương
pháp trên cho từng kho để ghi chép tình hình nhập, xuất vật liệu hàng ngày hoặc định kỳ theo chỉ
tiêu giá trị.
Cuối tháng, khi sổ số dư đã được thủ kho chuyển lên, kế toán căn cứ vào số lượng tồn kho mà thủ
quỹ đã ghi vào đơn giá từng thứ vật liệu tính ra thành tiền vào cột số tiền. Số liệu trên cột số tiền
của sổ số dư sẽ phải đối chiếu với số tồn kho trên bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn và số liệu kế
toán tổng hợp.

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp ghi sổ số dư.


Ưu điểm: Tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm bớt được
khối lượng công việc ghi sổ kế toán do chỉ tiêu ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị và theo nhóm, loại vật
liệu. Công việc kế toán tiến hành đều trong tháng, tạo điều kiện cung cấp kịp thời tài liệu kế toán
phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý ở doanh nghiệp, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên
của kế toán đối với việc nhập, xuất vật liệu hàng ngày.
Nhược điểm: Do kế toán chỉ ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị, theo nhóm, loại vật liệu nên qua
số liệu kế toán không thể không nhận biết được số hiện có và tình hình tăng giảm vật liệu mà
phải xem số liệu trên thẻ kho. Ngoài ra khi đối chiếu, kiểm tra số liệu ở sổ số dư và bảng tổng

Số

Thành

lượng

tiền

BẢNG LUỸ KẾ NHẬP (XUẤT )
Tháng ...
Nhóm vật

Tồn kho

Nhập (xuất) trong tháng

liệu

đầu tháng

Từ ngày ……

Từ ngày….

đến ngày

Đến ngày….

……


toán trong công tác quản lý bị hạn chế.
Điều kiện áp dụng: phương pháp này áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng
nghiệp vụ nhập, xuất không nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu, do vậy không có
điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình kế toán nhập, xuất hàng ngày.
1.4.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.


Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu là việc ghi chép sự biến động về mặt giá trị của nguyên
vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Tuỳ vào tình hình thực tế mà có thể lựa chọn một trong hai
phương pháp kế toán tổng hợp:
1.4.1.Kế toán tổng hợp Nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Đặc điểm của phương pháp: Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê
khai thường xuyên là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình
hình nhập, xuất kho các loại vật liệu trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở các
chứng từ nhập, xuất vật liệu. Với phương pháp hạch toán này, kế toán có thể cung cấp số liệu về
tình hình nhập – xuất – tồn kho của nguyên vật liệu tại bất kỳ thời điểm nào.
Ưu điểm: Kế toán có thể xác định được giá trị thực tế của vật liệu tồn kho trên các tài
khoản và sổ kế toán tại bất kỳ thời điểm nào trong kỳ.
Nhược điểm: Ghi chép nhiều sổ sách, mất nhiều thời gian, khá phức tạp.
1.4.1.1.Tài khoản sử dụng.

-









Kế toán sử dụng tài khoản này để tính số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ và còn được khấu
trừ.





Kết cấu tài khoản như sau :
Bên Nợ :
Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Bên có :
Số thuế GTGT đầu vào đã được khấu trừ.
Kết chuyển số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ.
Số thuế GTGT đầu vào đã được hoàn lại.
Số Dư :
Số thuế GTGT đầu vào còn được khấu trừ, được hoàn lại nhưng NSNN chưa hoàn.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng thêm một số tài khoản khác như :
TK 331 – Phải trả người bán : Phản ánh mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với

đối tượng khác về khoản vật liệu, hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng đã ký.
• TK 154(1) – Chi phí NVL trực tiếp: Theo dõi giá trị NVL trực tiếp sử dụng cho sản xuất,
trị giá NVL không dùng hết nhập kho, trị giá phế liệu thu hồi.
- Và một số tài khoản khác có liên quan như :








TK 154
Thuê ngoài gia công hoàn thành

Xuất thuê ngoài gia công
TK 133

TK 3333
Thuế NK phải nộp NSNN

TK 331,111,112

Giảm giá hàng mua
Trả lại cho người bán

TK 33312

TK 632,157

Thuế GTGT hàng NK phải nộp

Xuất trực tiếp, gửi bán

NSNN (nếu không được khấu trừ)
TK 142

TK 3332
Thuế tiêu thụ đặc biệt

Xuất NVL dùng cho SXKD
Phải phân bổ dần

- Trị giá thực tế vật tư, hàng hoá xuất bán, xuất dùng trong kỳ.
Trị giá vật tư, hàng hoá gửi bán chưa xác định là tiêu thụ trong kỳ.
Trị giá vật tư, hàng hoá trả lại người bán hoặc số tiền được bên bán giảm gía.
Tài khoản 611 có 2 tài khoản cấp 2 :
-

TK 6111 : “ Mua nguyên vật liệu”
TK 6112 “ Mua hàng hóa”.

Tại các doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ , TK
151, TK 152 không sử dụng để theo dõi tình hình nhập – xuất trong kỳ chỉ sử dụng để kết chuyển
trị giá thực tế NVL tồn kho và đang đi đường lúc đầu kỳ và cuối kỳ.
Chú ý:
- TK611: Dùng để phản ánh tình hình của vật tư hàng hoá trong kỳ được sử dụng trong kế
toán tổng hợp vật tư hàng hoá theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
- Đầu kỳ kinh doanh kế toán kết chuyển toàn bộ giá trị hàng tồn kho theo từng loại sang
TK611.
- Giá trị nguyên vật liệu - công cụ dụng cụ tính vào chi phí sản xuất được xác định bằng
cách lấy tổng phát sinh bên Nợ TK611 trừ đi phát sinh có (bao gồm số tồn cuối kỳ, số mất mát,
số trả lại, số giảm giá hàng mua) rồi phân bổ cho từng đối tượng sủ dụng dụa vào mục đích sử
dụng hoặc tỷ lệ định mức.
1.4.2.2.Phương pháp hạch toán.
Phương pháp KKĐK không theo dõi thường xuyên, liên tục tình hình nhập - xuất kho vật liệu
trên các loại tài khoản hàng tồn kho. Các tài khoản hàng tồn kho chỉ phản ánh giá trị thực tế của vật
tư tồn kho cuối kỳ và đầu kỳ. Việc nhập xuất vật tư hàng ngày được phản ánh ở TK 611 “Mua hàng”.


Việc xác định giá trị thực tế của vật tư xuất kho không căn cứ vào các chứng từ xuất kho mà căn cứ
vào các kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính về số lượng vật tư xuất kho trong kỳ theo công thức:
Số lượng vật tư xuất


+

Giá trị vật tư
nhập trong kỳ

-

Giá trị vật tư
tồn cuối kỳ

Kế toán tổng hợp một số nghiệp vụ chủ yếu:
Sơ đồ 1.6. Sơ đồ hạch toán Nguyên Vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
TK 152
TK 611
TK 611
Kết chuyển NVL tồn kho Kết chuyển NVL tồn kho
cuối kỳ
đầu kỳ
TK 111, 112, 141, 331
Trị giá NVL mua
TK 1331
Thuế GTGT

1.4.3. Kế toán dự phòng giảm giá nguyên vật liệu.
Nguyên tắc kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho :
a) Doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập khi có những bằng chứng

tin cậy về sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá gốc của hàng tồn
kho. Dự phòng là khoản tính trước để đưa vào chi phí sản xuất, kinh doanh phần giá trị bị

Phương pháp lập các khoản dự phòng:
-

Doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình giảm giá, số lượng của từng lọai vật tư hành hóa
tồn kho để xác định mức dự phòng theo công thức sau:

Mức dự phòng
giảm giá vật tư
hàng hoá

Lượng vật tư hàng hoá
thực tế tồn kho tại thời
điểm lập báo cáo tài
chính

Giá gốc hàng
tồn kho theo
sổ kế toán

Giá trị thuần có thể
thực hiện được của
hàng tồn kho

=
x
Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính cho từng loại hàng tồn kho và tổng hợp toàn
bộ vào bảng kê chi tiết.Bảng kê là căn cứ để hạch toán vào giá vốn hàng bán ( giá thành toàn bộ
sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ) của doanh nghiệp.
Riêng dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho tính theo từng loại
dịch vụ có mức giá riêng biệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status