Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - Pdf 36

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
trong cơ quan hành chính Nhà nước
phần a: lời nói đầu
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,
một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng và Nhà nước ta
luôn quan tâm đến đó là việc mở rộng dân chủ và tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Xuất phát từ bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, đó
là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính
là tinh thần cơ bản của Hiến pháp cũng như toàn bộ hệ thống pháp
luật nước ta. Ngoài việc đưa ra những chế định có tính nguyên tắc
bảo đảm cho bộ máy Nhà nước hoạt động thực sự vì lợi ích của
nhân dân, Hiến pháp cũng như các văn bản pháp luật khác luôn
nhấn mạnh các quyền và lợi ích chính đáng của công dân và các
cơ quan Nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Hiến pháp
năm 1992 đã dành cả một chương quy định về các quyền cơ bản
của công dân, bao gồm các quyền chính trị, văn hoá xã hội, quyền
về nhân thân, về tài sản, quyền tự do kinh doanh… và đặc biệt là
quyền khiếu nại, tố cáo.
Khiếu nại, tố cáo là biểu hiện cụ thể của nền dân chủ XHCN - một
nền dân chủ đích thực mà ở đó công dân là chủ thể tối cao của
Nhà nước trong đó tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp của người
dân đều cần phải được bảo đảm thực hiện, mọi hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng đều bị dư
luận xã hội lên án mà cao hơn là sự phản ứng của công dân, những
người làm chủ thực sự của nền dân chủ đó. Sự phản ứng được thể
hiện thông qua hành vi khiếu nại, tố cáo mà Nhà nước trao cho họ.


Trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước. Hiện nay, nhiệm vụ
hàng đầu mà Chính phủ đặt ra là cải cách hành chính Nhà nước

phần b: nội dung
I. Khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.
1. Người có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật.
Khoản 1 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định “Công dân, cơ
quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước khi có căn cứ cho rằng
quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích
hợp pháp của mình. Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết
định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng
quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp
của mình”. Như vậy, theo quy định của điều luật nêu trên thì cán
bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi thực hiện
quyền khiếu nại, người khiếu nại phải đáp ứng một số điều kiện
nhất định như: Phải là đối tượng chịu tác động trực tiếp của quyết
định hành chính; phải có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích của
mình bị xâm phạm; phải tuân thủ những thủ tục, trình tự mà pháp
luật quy định như: thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại, gửi đơn
khiếu nại, đơn khiếu nại phải được gửi đến đúng người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại…
2. Quyết định kỷ luật.


Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là quyết định bằng văn bản
của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các
hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch,
cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền
quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức. Như vậy, đặc trưng cơ bản của quyết định kỷ luật cán bộ,

Điều 27 Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 của Chính
phủ quy định: “Khiếu nại quyết định kỷ luật của thủ trưởng cơ
quan nào ký ban hành thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm
giải quyết; trong trường hợp còn khiếu nại tiếp thì thủ trưởng cơ
quan trực tiếp có trách nhiệm giải quyết”.
Như vậy, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật
của cán bộ, công chức cũng được áp dụng theo những quy định
của Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành.
II. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.


1. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại.
Theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo thì người khiếu
nại có quyền.
Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để
khiếu nại. Quyền khiếu nại là một quyền mà pháp luật quy định
cho chủ thể khiếu nại có quyền tự mình thực hiện việc khiếu nại
các quyết định kỷ luật khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi
đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Mặt khác, pháp luật cũng quy định người khiếu nại có thể
thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện việc khiếu nại.
Người khiếu nại được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải
quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại. Quy định
này nhằm tạo điều kiện cho người khiếu nại biết được quá trình
giải quyết vụ việc của mình, để họ có thể thực hiện tốt việc khiếu
nại.
Người khiếu nại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm
phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Quy
định này liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền lợi cho người
khiếu nại và đây chính là mục đích của việc giải quyết khiếu nại.

nghĩa vụ phải khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại nhằm bảo đảm cho việc khiếu nại phải đến đúng người có


thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tránh việc gửi đơn khiếu nại vượt
cấp, gửi đơn khiếu nại tràn lan dẫn đến tình trạng khiếu nại không
được giải quyết kịp thời, chuyển đi chuyển lại… gây tốn kém, lãng
phí làm khó khăn cho người có thẩm quyền trong việc xử lý các
khiếu nại.
- Người khiếu nại có nghĩa vụ trình bày trung thực diễn biến sự
việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người có trách nhiệm giải
quyết khiếu nại; người khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật
về nội dung trình bày và việc cung cấp tài liệu, thông tin đó. Nghĩa
vụ này xuyên suốt quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại, nó liên
quan trực tiếp đến quyền lợi của người khiếu nại. Bởi vì, chỉ bằng
việc cung cấp các tài liệu, chứng cứ xác đáng, trung thực thì đó
chính là cơ sở, căn cứ để chứng minh việc khiếu nại của mình là
đúng, quyền lợi của mình bị vi phạm. Mặt khác, trên cơ sở những
tài liệu, chứng cứ do người khiếu nại cung cấp và quá trình thu
thập xác minh, kiểm tra các tài liệu, chứng cứ do người khiếu nại
cung cấp thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mới có thể
ra những quyết định chính xác trong quá trình giải quyết khiếu nại.
Người khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quyết định
giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo thì các quyết định giải quyết khiếu
nại đã có hiệu lực pháp luật phải được người khiếu nại nghiêm
chỉnh chấp hành. Đây là một quy định pháp luật cần thiết, có ý
nghĩa bắt buộc người khiếu nại phải chấp hành, bảo đảm tính pháp
chế trong việc giải quyết khiếu nại. Theo quy định của Luật khiếu
nại, tố cáo thì quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi

cũng chính là quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc thi
hành các quyết định giải quyết khiếu nại được thuận lợi, tạo sự tôn
trọng của người bị khiếu nại đối với các quyết định giải quyết khiếu
nại của người có thẩm quyền.
b. Nghĩa vụ của người bị khiếu nại.
- Người bị khiếu nại có nghĩa vụ tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối
với quyết định kỷ luật bị khiếu nại; thông báo bằng văn bản về
việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho
người khiếu nại và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải
quyết của mình.
- Người bị khiếu nại có nghĩa vụ giải trình về quyết định kỷ luật,
cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền yêu cầu. Quy định về nghĩa vụ này của người
bị khiếu nại hoàn toàn phù hợp với quy định quyền của người bị
khiếu nại có quyền đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết
định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại.
- Người bị khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quyết
định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Quy định có ý
nghĩa rất quan trọng mà người bị khiếu nại phải thực hiện, nó liên
quan trực tiếp đến việc khôi phục và bảo vệ quyền lợi cho người
khiếu nại. Bởi vì, người bị khiếu nại là người được pháp luật giao
cho quyền quản lý, khi thực hiện quyền này nếu đã có quyết định
kỷ luật được xác định là không đúng đắn, thì họ phải chấp hành


nghiêm chỉnh quyết định giải quyết đó. Mặt khác, việc chấp hành
quyết định giải quyết khiếu nại còn gắn với trách nhiệm giải quyết
của người bị khiếu nại, điều đó có nghĩa là: nếu quyết định kỷ luật
bị khiếu nại là sai trái thì bản thân người bị khiếu nại phải thay đổi
(sửa đổi, huỷ bỏ quyết định bị khiếu nại hoặc phải ban hành quyết

- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Thủ trưởng cơ
quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc
Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại. Quyết
định giải quyết khiếu nại này là quyết định cuối cùng.
Điều 30 Nghị định số 67/1999/NĐ-CP quy định Bộ trưởng, trưởng
ban Ban tổ chức- Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), có thẩm
quyền:
- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ký ban
hành.
- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Chính phủ Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải
quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết
định giải quyết của thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ là Bộ


trưởng. Quyết định giải quyết khiếu nại này là quyết định cuối
cùng.
Đối với thẩm quyền giải quyết khiếu nại kỷ luật của cán bộ, công
chức của Thủ tướng Chính phủ, Điều 31 Nghị định 67/1999/NĐ-CP
quy định: Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Bộ trưởng, Trưởng
Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ trưởng Bộ Nội vụ) giải
quyết khiếu nại quyết định kỷ luật mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại;
trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữ Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ
chức - Cán bộ Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ thì Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ kiến nghị
để Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết hoặc ra quyết định
giải quyết, các quyết định giải quyết khiếu nại nêu tại điều này là
quyết định cuối cùng.
V. Thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật.

3. Về thời hạn giải quyết.


Đối với thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu. Điều 52 Luật khiếu
nại, tố cáo quy định: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không
quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức
tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng
không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Đối với thời gian giải quyết tiếp theo. Điều 54 Luật khiếu nại, tố
cáo quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng
ý, thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp
theo. Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết,
người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo phải xem xét, ra quyết
định giải quyết khiếu nại bằng văn bản; đối với vụ việc phức tạp,
thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không
quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Quyết định này là
quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng.
Điều 54 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố
cáo quy định: “Đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải
quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu
nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo là Bộ trưởng Bộ
Nội vụ”.
Chú ý:
- Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, khi cần thiết, người
giải quyết khiếu nại lần đầu gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người



Điều 39 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố
cáo quy định: “… Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý
với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính
tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp luật có quy định
khác”.
- Đối với công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng hoặc tương đương trở
xuống bị kỷ luật buộc thôi việc, sau khi khiếu nại mà người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu vẫn giữ nguyên hình thức
kỷ luật đó thì trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại có quyền khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa
án theo quy định của pháp luật.
phần c: kết luận - kiến nghị
1. Kết luận.


Qua phân tích, trình bày trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết
khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong cơ quan hành
chính Nhà nước trên đã rút ra được một số vấn đề chính sau:
- Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật lên cấp
có thẩm quyền để đảm bảo tính đúng đắn, nghiêm minh của quyết
định kỷ luật.
- Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là một hình thức xử lý đối
với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong hoạt động công vụ
đụng chạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
+ Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật
là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc
thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình

công chức có trách nhiệm.
- Tăng cường hoạt động thanh tra; bởi hoạt động thanh tra, kiểm
tra là một nội dung của hoạt động quản lý. Thực hiện tốt chức
năng thanh tra là một yêu cầu quan trọng trong việc bảo đảm thực
hiện mục tiêu quản lý.


- Nghiên cứu sửa đổi Luật khiếu nại, tố cáo. Để tách Luật khiếu nại,
tố cáo thành hai luật: Luật tố cáo và Luật khiếu nại. Để luật khiếu
nại, đặc biệt là khiếu nại hành chính phù hợp với tình hình thực tế
của Việt Nam và thông lệ quốc tế.

- Tăng cường công tác phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật
sâu rộng trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính
trị - xã hội, lực lượng vũ trang và nhân dân để mọi người hiểu rõ
chính sách, pháp luật biểu dương kịp thời những nhân tố điển hình
tốt, phê phán những việc làm trái pháp luật. Góp phần xây dựng
một bộ máy quản lý khoa học, tiên tiến.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status