Hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 - 2020 - Pdf 36

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
-----------------------------------------------

NGUYỄN QUANG HUY

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Hà Nội, tháng 6 năm 2015


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
-----------------------------------------------

ĐỀ ÁN
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

Người thực hiện: Nguyễn Quang Huy
Lớp: CCLLCT B4-14
Chức vụ: Phó trưởng phòng QLCN&SHTT
Đơn vị công tác: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn
Người hướng dẫn: Tiến sĩ Đậu Tuấn Nam

Hà Nội, tháng 6 năm 2015

: Giáo dục – đào tạo

GDP

: Tổng sản phẩm quốc nội

KH&CN

: Khoa học và công nghệ

KH

: Khoa học

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

LĐ&TBXH

: Lao động và thương binh xã hội

NCKH

: Nghiên cứu khoa học

NN&PTNN

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn


1

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án
Ngày nay KH&CN được coi là khâu then chốt trong phát triển kinh
tế - xã hội, KH&CN mang lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển của quốc gia,
giúp đẩy nhanh CNH-HĐH, thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện
đại, nâng cao năng suất lao động, hàng hóa, của cải vật chất tăng cao, đất
nước ngày càng phát triển và có vị thế về kinh tế trong quá trình hội nhập.
Ngoài ra, KH&CN giúp nâng cao chất lượng y tế, quốc phòng, an ninh,... về
máy móc, phương tiện. Rút ngắn thời gian thực hiện ý tưởng, vòng đời các
sản phẩm KH&CN, giải phóng người lao động khỏi quá trình sản xuất trực
tiếp, thay đổi các quan hệ xã hội, thể hiện hào khí dân tộc.
Khoa học và công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản suất nòng cốt,
trực tiếp của xã hội, là động lực cơ bản cho phát triển kinh tế - xã hội. Chính
vì vậy đầu tư cho KH&CN chính là đầu tư cho phát triển. Xác định rõ tầm
quan trọng của KH&CN, từ rất sớm, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên
quan tâm xây dựng tiềm lực phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã ban hành
nhiều văn bản quan trọng khẳng định vai trò nền tảng của KH&CN đối với
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tỉnh Lạng Sơn hơn 10 năm gần đây (2000 - 2014) đã có nhiều thành tích
đáng khích lệ trong phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã chú trọng đầu tư cho
phát triển KH&CN, phấn đấu đạt mức đầu tư kinh phí là 1% trong tổng chi
ngân sách hàng năm của tỉnh cho KH&CN. Tuy nhiên, các chính sách
KH&CN nói chung và chính sách đầu tư phát triển KH&CN nói riêng ở tỉnh
Lạng Sơn còn thiếu và nhiều bất cập, nguồn vốn huy động cho đầu tư thấp





3

2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm.
Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
đạt 8 - 10 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 100
kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ
cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.
Đến năm 2020, hình thành 01 tổ chức nghiên cứu và ứng dụng đạt trình
độ vùng, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu của địa phương đặt ra
đối với KH&CN; 10 doanh nghiệp KH&CN; 01 cơ sở ươm tạo công nghệ
cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.
3. Giới hạn của đề án:
Đối tượng nghiên cứu của đề án là: hệ thống các chính sách đầu tư phát
triển khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Về mặt không gian: nghiên cứu chính sách đầu tư phát triển trong phạm
vi không gian tỉnh Lạng Sơn.
Về mặt thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu chính sách đầu tư phát triển
KH&CN ở tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2000 – 2014 làm cơ sở cho việc xây
dựng, hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển KH&CN trong giai đoạn 20152020..


4

B. NỘI DUNG

1. Căn cứ xây dựng đề án
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm về khoa học và công nghệ

nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử
nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới.
f. Đầu tư phát triển KH&CN
Đầu tư phát triển KHCN là một quá trình bao gồm từ xác định mục tiêu,
phương hướng, tạo nguồn vốn, phân bổ và cân đối, thực hiện cấp phát và
quản lý chi tiêu nhằm mục tiêu nâng cao về chất trình độ KH&CN. Quá trình
xây dựng và phát triển nền KH&CN của đất nước phụ thuộc rất lớn vào nguồn
tài chính đầu tư cho KH&CN.
Việc tăng đầu tư phát triển cho KH&CN sẽ tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật để
phát triển nhanh về kinh tế và ngược lại khi nền kinh tế đạt trình độ cao sẽ tạo
điều kiện cho KH&CN phát triển. Thông thường khi thu nhập quốc dân càng
cao thì khả năng chi cho hoạt động KH&CN càng lớn. Tuy nhiên, khi thực hiện
đầu tư phát triển KH&CN, có nhiều ý kiến cho rằng đầu tư cho KH&CN là tốn
kém và không có hiệu quả nhưng nhiều nhà khoa học lại nhận định rằng đầu tư
cho KHCN chưa đủ tầm, chưa đến ngưỡng. Đây là vấn đề lớn đối với việc
hoạch định chính sách đầu tư hợp lý cho phát triển KHCN.
1.1.2. Vai trò của chính sách đầu tư phát triển KH&CN
Chính sách đầu tư phát triển KH&CN là một tập hợp các văn bản quy
phạm pháp luật định rõ các phương châm, nguyên tắc, quy định, thể lệ của
nhà nước đối với hoạt động KH&CN, làm cơ sở cho công tác quản lý KH&CN.
Có chính sách KHCN quốc gia, cũng có chính sách của một vùng, một đơn vị
hành chính hoặc một tổ chức, một ngành cụ thể. Tập hợp các chính sách ấy thể
hiện thái độ của nhà nước hay chủ thể quản lý đối với mục tiêu phát triển


6

KHCN, các biện pháp thực hiện mục tiêu đó trong phạm vi cả nước hoặc ngành
hẹp, địa phương.
a. Vai trò của chính sách đầu tư phát triển KH&CN

Trong chính sách đầu tư phát triển KH&CN lại được chia thành nhiều
chính sách khác nhau và giữa các chính sách này có mối quan hệ chặt chẽ,
phụ thuộc nhau, đó là các bộ phận chính sách đầu tư phát triển KH&CN.
Chính sách đầu tư của nhà nước cho KH&CN
Đầu tư tài chính từ nhà nước cho KH&CN là quá trình phân phối sử
dụng một phần vốn NSNN để duy trì, phát triển hoạt động KH&CN. Nhà
nước xây dựng hướng nghiên cứu và những hoạt động nghiên cứu ưu tiên
trong chiến lược phát triển KT-XH ở mỗi thời kỳ. Trên cơ sở đó xác định mức
đầu tư cho hoạt động KH&CN. Thông qua nguồn tài chính này, Nhà nước sẽ
điều chỉnh các hoạt động nghiên cứu phát triển KH&CN theo đường lối, chủ
trương của mình.
Nguồn vốn NSNN cấp đầu tư cho KH&CN được kết cấu từ hai phần:
vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các cơ quan khoa học và kinh phí sự nghiệp
KH&CN.
Chính sách xã hội hóa hoạt động đầu tư phát triển KH&CN
Đầu tư phát triển KH&CN là nhu cầu thực tế khách quan nhằm đẩy
mạnh hoạt động NCKH và ứng dụng công nghệ. Nền kinh tế chuyển sang thị
trường, việc đầu tư phát triển KH&CN không còn là việc riêng của các cơ
quan nhà nước mà là của chung xã hội, của toàn bộ nền kinh tế. Phát triển
KH&CN đem lại lợi ích thiết thực cho cả cá nhân và xã hội. Khi các sản
phẩm KH&CN có tính xã hội thì các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và cộng
đồng đều có trách nhiệm quan tâm góp sức lực trí tuệ, tiền của để phát triển
hoạt động KH&CN.
Trên thế giới, nhất là những nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ đầu tư
cho KH&CN ngoài NSNN thường rất cao. Mỹ, Đức, Ailen, Đài Loan trên


8

60%; Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điển trên 70%...

+ Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư cho
KH&CN theo yêu cầu phát triển của doanh nghiệp. nguồn vốn của Quỹ này
được hình thành từ lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp và các nguồn khác.
+ Doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu những vấn đề KH&CN thuộc lĩnh vực
ưu tiên, trọng điểm của nhà nước được cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN
các cấp có thẩm quyền xét tài trợ từ ngân sách sự nghiệp KH&CN hoặc được
quỹ phát triển KH&CN xem xét tài trợ.
Hai là, Khuyến khích đầu tư KH&CN thông qua chính sách ưu đãi về tín
dụng
Tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN vay vốn trung và dài hạn để tiến
hành hoạt động KH&CN được hưởng lãi suất ưu đãi khi vay vốn tại Quỹ phát
triển KH&CN quốc gia và quỹ khác.
Trường hợp vay vốn tại các ngân hàng thương mại để đầu tư vào hoạt
động KH&CN, các tổ chức, cá nhân được quỹ hỗ trợ phát triể xem xét hỗ trợ
lãi suất sau đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư theo điều lệ của quỹ.
Những chương trình, đề tài, dự án KH&CN phục vụ trực tiếp các chương
trình KT-XH trọng điểm của Nhà nước và phát triển tiềm lực KH&CN quốc
gia có yêu càu sử dụng vốn lớn, được ưu tiên xét cho sử dụng vốn hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) theo phương thức: 1) Tài trợ không hoàn lại hoặc cho
vay ưu đãi đối với các hoạt động nghiên cứu và phát triển 2) Cho vay đối với
dự án đầu tư xây dựng tiềm lực KH&CN hoặc cho vay có thu hồi đối với các
dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN.
Ba là, Cho phép thành lập các quỹ phát triển KH&CN để huy động các
nguồn vốn từ xã hội
- Quỹ phát triển KH&CN quốc gia: Chính phủ lập Quỹ phát triển
KH&CN quốc gia để sử dụng vào các mục đích sau: tài trợ cho việc thực hiện
nghiên cứu cơ bản; tài trợ cho các nhiệm vụ KH&CN đột xuất, mới phát sinh,


10

11

tế thì có thể đánh giá bằng chỉ tiêu định lượng, thể hiện tương quan so sánh
giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra.
Tính hiệu lực của chính sách
Tính hiệu lực của chính sách phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của
chính sách đó trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn
của các nhà hoặc định chính sách. Việc đánh giá hiệu lực của chính sách, tức
là nhằm trả lời câu hỏi: chính sách có đạt được kết quả có giá trị hay không?
Hiệu lực chính sách gồm có:
- Hiệu lực lý thuyết: thể hiện sự ra đời, có mặt của chính sách để chính
sách được thực thi. Hiệu lực này được xác định bởi cơ quan hoặc người có
thẩm quyền quyết định chính sách.
- Hiệu lực thực tế của chính sách thể hiện tác động của chính sách trong
đời sống KT-XH của đất nước.
Tính khả thi của chính sách
Tính khả thi của chính sách đầu tư phát triển KH&CN là tiêu chí quan
trọng nhất để đảm bảo cho chính sách đó được thực hiện trên thực tiế. Tính
khả thi phải được xem xét trên nhiều phương diện: từ việc xác định đúng các
nguyên nhân làm xuất hiện vấn đề chính sách đến việc lựa chọn mục tiêu, giải
pháp, công cụ và thời điểm ban hình thích hợp.
Chính sách đầu tư phát triển KH&CN dù hay, hấp dẫn đến đâu nhưng
không được đảm bảo bằng các điều kiện vật chất, kỹ thuật và nhân lực, không
giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chủ thể chính sách và đối tượng
chính sách, không phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, các quy luật
khách quan và điều kiện thực tế của Việt Nam, điều kiện và tiềm năng của
mỗi địa phương thì chính sách đó không thể thực thi được trên thực tế.
Tính khả thi của chính sách là một yêu cầu hết sức quan trọng để biến
mong muốn của Nhà nước và nhân dân thành hiện thực. Tính khả thi của




13

bàn về công tác khoa học công và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nhấn
mạnh “...tăng mạnh đầu tư cho các hoạt động KH&CN từ nhiều nguồn. Dành
một tỷ lệ cao hơn trong ngân sách Nhà nước cho kinh phí sự nghiệp khoa học
ít nhất 2% ngân sách hàng năm...”. Cùng với việc tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà
nước cho KH&CN, Nghị quyết của Đảng cũng khẳng định cần phải đa dạng
hoá các nguồn vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN.
* Các văn bản của địa phương.
Nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, Tỉnh ủy,
UBND tỉnh Lạng Sơn cũng đã có sự quan tâm chỉ đạo xây dựng hệ thống văn
bản nhằm cụ thể hóa các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Cụ
thể đã ban hành:
- Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh số
13/CTr/TU ngày 06/11/02 về thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX về khoa học & công nghệ;
- Chương trình hành động của Tỉnh ủy số 24/CTr-TU về một số chủ
trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Lạng Sơn
lần thứ XIII, trong đó có công tác khoa học & công nghệ;
- Đề án Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Lạng Sơn đến
năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.
- Quyết định số 06/2009/QĐ-UBND ngày 11/5/2009 của UBND tỉnh
Lạng Sơn ban hành một số chính sách hỗ trợ và ưu đãi đầu tư vào Khu kinh tế
cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn;
- Quyết định số 25/QĐ-UBND ngày 11/01/2012 của UBND tỉnh Lạng
Sơn Ban hành quy định tạm thời một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ áp
dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống trên địa bàn

cầu hóa tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ; tự do hóa kinh tế và tài chính
tiếp tục gia tăng, nhiều hình thức liên kết mới xuất hiện. KH&CN ngày càng


15

trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ và
theo đó chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành lợi thế chủ yếu của mỗi quốc
gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta có nhiều khả
năng hơn để tiếp cận những thành tựu KH&CN hiện đại của thế giới, tiếp nhận
chuyển giao những công nghệ thích hợp mà trong nước chưa làm được để nâng
cao trình độ công nghệ, nâng cao trình độ nhân lực KH&CN thông qua đào tạo
và nghiên cứu ở nước ngoài, kích thích đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp
đồng thời tạo ra sự cạnh tranh về kinh tế và KH&CN.
Tại tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn kể từ năm 2009 trở về trước các chính sách
thu hút đầu tư, khuyến khích đầu tư phát triển KH&CN hoàn toàn chưa được
xây dựng và ban hành. Sau năm 2009 thì có một số văn bản được ban hành
trong đó có 02 văn bản quy định rõ nét nhất có tác động trực tiếp đến việc
thúc đẩy đầu tư phát triển KH&CN trên địa bàn nhưng lại chưa phát huy được
hiệu quả. Theo Quyết định số 06/2009/QĐ-UBND thì tỉnh ưu đãi cho 53 dự
án đầu tư vào tỉnh Lạng Sơn với tổng số vốn hơn 700 triệu đô la Mỹ tuy nhiên
đến hết năm 2014 mới chỉ có 03 dự án được đầu tư với tổng số vốn khoảng 05
triệu đô la Mỹ mà 03 dự án này lại là xây dựng bến bãi, cơ sở hạ tầng phục vụ
xuất nhập khẩu nên không có tác dụng thúc đẩy nhiều trong việc phát triển
KH&CN. Năm 2012 tỉnh Ban hành Quyết định số 25/QĐ-UBND quy định
một số chính sách khuyến khích cụ thể hơn nhưng lại là tạm thời và ngắn hạn
(giai đoạn 2011-2015) do vậy cũng chưa mang lại được hiệu quả như mong
muốn.
2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án

đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt
động KH&CN. Theo đó phấn đấu đạt tỷ lệ 50/50 giữa kinh phí đầu tư cho
khoa học và công nghệ từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước và nguồn


17

ngoài ngân sách nhà nước thông qua các biện pháp như: khuyến khích doanh
nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN; doanh nghiệp được khấu hao
nhanh đối với tài sản, thiết bị, máy móc; được vay vốn với lãi xuất ưu đãi tại
Quỹ phát triển KH&CN để tiến hành hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi
mới công nghệ. Các tổ chức KH&CN có thể khai thác nguồn vốn ngoài nước
từ hoạt động hợp tác quốc tế khác nhau (hợp tác nghiên cứu, đào tạo song
phương, đa phương). Đối với phần NSNN sẽ tập trung đầu tư vào các lĩnh
vực trọng điểm được xác định trong Chiến lược phát triển KH&CN, các lĩnh
vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách và những lĩnh vực
công ích do Nhà nước quy định…
Bên cạnh đó nhiều chủ trương chính sách khác cũng đã được ban hành
như: Nghị định 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các tổ chức KH&CN nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức này được quyền tự
chủ về kế hoạch, tài chính, về tổ chức cán bộ và hợp tác quốc tế đồng thời
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình. Nghị định 80/2007/NĐ-CP
về thành lập doanh nghiệp KH&CN; Nghị định số 95/2014/NĐ-CP quy định
về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học công nghệ. Thông tư
liên tịch số 44/2007/TTLT/BKHCN-BTC ngày 7/5/2007 của Bộ Khoa học và
Công nghệ, Bộ Tài chính hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán
kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước;
Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BKHCN-BTC ngày 4/10/2006 của Bộ
Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ khoán kinh phí đề
tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước…

trợ.
2.2.2. Tính hiệu quả của chính sách
Thực trạng chính sách đầu tư cho phát triển KH&CN ở tỉnh Lạng Sơn
trong giai đoạn 2000 – 2014 thể hiện qua các chính sách của địa phương ban


19

hành đã và phát huy hiệu quả nhất định, cụ thể:
a. Về đầu tư tài chính từ NSNN cho KH&CN
Kết quả thống kê cho thấy trong giai đoạn 2000 – 2014 đầu tư tài
chính cho KH&CN từ nguồn NSNN của tỉnh Lạng Sơn ổn định qua các
năm. Chi đầu tư phát triển KH&CN đạt mức dưới 1% so với tổng chi
NSNN của tỉnh.
b. Về đội ngũ nguồn nhân lực
Đội ngũ cán bộ KH&CN không ngừng được nâng lên, số người có trình
độ đại học và trên đại học tăng mạnh; việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
cao phục vụ cho tiến trình đẩy mạnh CNH-HĐH được chú trọng đúng mức,
bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển của tỉnh.
Tính đến hết năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 07 tiến sỹ, hơn 450 thạc sỹ, 3.100
cán bộ, công chức viên chức có trình độ đại học, cao đẳng. Số lượng lao động
đã qua đào tạo đến hết năm 2014 dự kiến đạt 56%.
Có thể thấy rằng đội ngũ cán bộ KH&CN ở Lạng Sơn vẫn nhiều hạn
chế: chất lượng đội ngũ cán bộ KH&CN chưa cao, cơ cấu cán bộ bất hợp lý
về ngành nghệ, trình độ, lĩnh vực hoạt động, chưa có những chuyên gia đầu
ngành, khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ hạn chế.
c. Về cơ sở vật chất các tổ chức KH&CN:
Mạng lưới tổ chức KH&CN ở Lạng Sơn gồm: các đơn vị KH&CN độc
lập (các cơ quan nghiên cứu và phát triển, các trường trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề, trường cao đẳng, đại học, các đơn vị dịch vụ KH&CN); các

của các nguồn tài chính khác cho hoạt động KHCN ở tỉnh, chưa có chế độ
thống kê, đánh giá đầy đủ nhưng theo nhận định chung của các nhà quản lý
thì “Việc đầu tư cho KH&CN được huy động bằng một số nguồn khác còn rất
hạn chế mà chủ yếu vẫn do ngân sách nhà nước đầu tư”.
2.2.4 Tính khả thi của các chính sách
Tỉnh Lạng Sơn đã ban hành được các chính sách khuyến khích, thu hút



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status