ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
______________
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HƯNG YÊN
ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2030
BÁO CÁO KẾT QUẢ GIAI ĐOẠN IHƯNG YÊN - 2012
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
………………….
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NĂM 2011
ĐỀ TÀI
QUY HOẠCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HƯNG YÊN ĐẾN NĂM
2020 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2030
Đơn vị thực hiện Chủ nhiệm đề tài
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển PGS.TS. Phạm Ngọc Linh
HƯNG YÊN- 2012
MỤC LỤC
1
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN 1
______________ 1
1
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HƯNG YÊN ĐẾN
NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2030 1
BÁO CÁO KẾT QUẢ GIAI ĐOẠN I 1
1
1.2. Nhu cầu phát triển KH&CN của tỉnh Hưng Yên góp phần thực hiện Chiến lược phát
triển KH&CN quốc gia đến năm 2020 139
2. Nội dung quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ 140
2.1. Quy hoạch phát triển khoa học và công các ngành/ lĩnh vực 140
2.2. Quy hoạch phát triển các công nghệ ưu tiên 142
2.3. Quy hoạch phát triển tiềm lực KH&CN 142
I. CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH 144
1. Giải pháp thực thi quy hoạch phát triển ngành/ lĩnh vực 144
1.3. Giáo dục, y tế 151
2. Giải pháp gắn KH&CN với xây dựng cơ chế, chính sách của Tỉnh 161
3. Giải pháp nhằm tăng cường tiềm lực KH&CN của Tỉnh 162
4. Giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý KH&CN của Tỉnh 165
4.1. về cơ chế quản lý KH&CN 165
a) Đổi mới về căn bản thiết chế quản lý KH&CN 165
b) Đổi mới cơ chế lập kế hoạch KH&CN 166
5. Giải pháp KH&CN trong điều kiện BĐKH 172
II. CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM 172
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 173
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
1
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN 1
______________ 1
1
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HƯNG YÊN ĐẾN
NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2030 1
BÁO CÁO KẾT QUẢ GIAI ĐOẠN I 1
1
1
HƯNG YÊN - 2012 1
1.1.1. Nhu cầu KH&CN trong lĩnh vực NN&PTNT 132
1.1.3. Nhu cầu KH&CN trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ-du lịch 135
1.2. Nhu cầu phát triển KH&CN của tỉnh Hưng Yên góp phần thực hiện Chiến lược phát
triển KH&CN quốc gia đến năm 2020 139
2. Nội dung quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ 140
2.1. Quy hoạch phát triển khoa học và công các ngành/ lĩnh vực 140
2.2. Quy hoạch phát triển các công nghệ ưu tiên 142
2.3. Quy hoạch phát triển tiềm lực KH&CN 142
I. CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH 144
1. Giải pháp thực thi quy hoạch phát triển ngành/ lĩnh vực 144
1.3. Giáo dục, y tế 151
2. Giải pháp gắn KH&CN với xây dựng cơ chế, chính sách của Tỉnh 161
3. Giải pháp nhằm tăng cường tiềm lực KH&CN của Tỉnh 162
4. Giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý KH&CN của Tỉnh 165
4.1. về cơ chế quản lý KH&CN 165
a) Đổi mới về căn bản thiết chế quản lý KH&CN 165
b) Đổi mới cơ chế lập kế hoạch KH&CN 166
5. Giải pháp KH&CN trong điều kiện BĐKH 172
II. CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM 172
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 173
7
MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra với quy mô lớn và tác
động ngày càng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ, bởi đây là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với
năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Với nhận thức đó, nhiều nước đã hướng
chính sách phát triển KH&CN vào việc ứng dụng nhanh chóng và hiệu quả những
thành tựu mới nhất của KH&CN. Nhờ đó, họ đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ của
lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động.
Với những cố gắng và quyết tâm cao, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên đã
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HƯNG YÊN
1. Đặc điểm tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng Kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, không có biển, không có rừng, tiếp giáp với 5 địa phương là: Hà
Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Thái Bình. Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành
chính gồm Thành phố Hưng Yên và 9 huyện (Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn
Giang, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Phù Cừ và Tiên Lữ), với tổng diện tích tự
nhiên 926,03 km
2
và dân số 1.132.285
1
người (năm 2010), mật độ dân số trung bình
1.223 người/km
2
, thuộc loại cao so với mức bình quân chung của cả nước và của
vùng Đồng bằng Sông Hồng.
Trên địa bàn Hưng Yên có hệ thống các tuyến giao thông quan trọng gồm:
quốc lộ 5A, Đường Cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, đường 39A, đường 38 và đường
sắt Hà Nội - Hải Phòng, nối Hưng Yên với các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là với Hà
Nội, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh. Có hệ thống sông Hồng, sông Luộc
tạo thành mạng lưới giao thông thủy khá thuận lợi cho giao lưu hàng hóa và đi
lại. Tuy ở vị trí trung tâm, nhưng một số khu vực trong tỉnh còn bị cách ly vì
thiếu đường và cầu.
Theo Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính
phủ, Hưng Yên là một trong 7 tỉnh, thành của vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ. Vị
thế địa kinh tế thuận lợi của Hưng Yên thể hiện ở chỗ: nằm trên các trục giao thông
chính và rất gần những Trung tâm kinh tế lớn ở phía Bắc, cụ thể là:
- Thủ đô Hà Nội: Cách Hưng Yên hơn 60 km, là trung tâm kinh tế, chính trị,
khoa học kỹ thuật, văn hóa, đào tạo và y tế lớn của cả nước. Có các tuyến vành đai
tỉnh kém phát triển
Với đặc điểm đó, đòi hỏi Hưng Yên phải phát triển nhanh trên cơ sở phát huy
cao độ những giá trị truyền thống và tiềm năng sẵn có của tỉnh, cùng với sự nỗ lực
cao của toàn thể cán bộ và nhân dân trong tỉnh để có thể hội nhập nhanh vào nền
kinh tế của vùng và cả nước.
1.2. Khí hậu và thời tiết
Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên chịu
ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, bốn mùa rõ rệt.
Trong thời kỳ đầu mùa đông khí hậu tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt; mùa hạ
nóng ẩm, nhiều mưa. Số giờ nắng trung bình 1.650 giờ/năm, nhiệt độ trung bình
23,2
0
C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16
0
C. Tổng nhiệt độ trung bình năm
8.500 - 8.600
0
C. Lượng mưa trung bình 1.450 - 1.650mm, nhưng lượng mưa phân bố
không đều trong năm. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) tập trung tới 70% lượng
mưa cả năm, gây úng lụt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất. Mùa khô (từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau) lạnh và thường có mưa phùn, thích hợp cho gieo trồng nhiều loại
cây ngắn ngày có giá trị kinh tế.
10
Nhìn chung, chế độ khí hậu-thời tiết của Hưng Yên rất thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp: các chế độ nhiệt, ẩm, nắng cho phép canh tác nhiều vụ cây trồng ngắn
ngày trong năm và thích hợp để bố trí một cơ cấu cầy trồng, vật nuôi đa dạng có
nguồn gốc nhiệt đới và một số cây trồng (rau, hoa, quả,…) có nguồn gốc ôn đới.
Tuy vậy, cũng cần lưu ý một số hạn chế trong chế độ khí hậu: mùa mưa tập
trung vào một thời gian ngắn nên dễ gây úng ngập nội đồng và thường kèm theo
bão. Thời kỳ mùa lạnh cũng xuất hiện những đợt rét hại (nhiệt độ xuống dưới 10
- Lâu năm 5.948,52 6,42
Đất nuôi trồng thủy sản 4.896,95 5,29
Đất nông nghiệp khác 213,65 0,23
Nguồn: Niên Giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010
11
b/ Đất phi nông nghiệp
Năm 2010, đất phi nông nghiệp của tỉnh có 33.391,18 ha, chiếm 36,06%
tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, gồm đất chuyên dùng và đất ở. Trong đó:
Đất chuyên dùng của tỉnh có 17.270,54ha, chiếm 18,65% so với diện tích tự
nhiên, được sử dụng với cơ cấu như sau:
Bảng 3: Cơ cấu sử dụng đất chuyên dùng
Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng số
17.270,54 100
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
259,42 0,28
Đất quốc phòng, an ninh
93,52 0,1
Đất sản xuất kinh doanh phi NN
2.637,01 2,85
Đất có mục đích công cộng
14.280,59 15,42
Nguồn: Niên giám thống kế tỉnh Hưng Yên năm 2010.
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp có 259,42 ha, chiếm 1,5% tổng diện
tích đất chuyên dùng. Đất mục đích công cộng chiếm chủ yếu trong diện tích đất
chuyên dùng (82,7%).
Đất ở
Đất dân cư nông thôn tỉnh Hưng Yên đã được hình thành từ lâu đời gắn liền
với biến động lịch sử của tự nhiên và xã hội, tồn tại theo quy mô các làng, xã, phân
bố rải rác ở 145 xã trong toàn tỉnh với tổng diện tích khu dân cư nông thôn là
yêu cầu phát triển công nghiệp và đô thị của tỉnh mà còn có thể cung cấp khối lượng
lớn cho các khu vực lân cận.
1.3.3. Tiềm năng phát triển du lịch
Có thể nói, xét về điều kiện địa hình tự nhiên, tài nguyên du lịch của Hưng
Yên kém phong phú và hấp dẫn hơn so với nhiều địa phương khác. Tuy nhiên, bù
lại Hưng Yên lại là khu vực tập trung nhiều di tích lịch sử nổi tiếng. Theo thống kê,
toàn tỉnh có hơn 1.210 di tích lịch sử và văn hóa, trong đó có 159 di tích được xếp
hạng quốc gia, cùng hàng ngàn tài liệu và hiện vật cổ có giá trị. Đặc biệt quần thể di
tích Phố Hiến, Đa Hòa - Dạ Trạch, khu tưởng niệm Lương y Hải Thượng Lãn Ông,
Nhà tưởng niệm đồng chí Nguyễn Văn Linh; nhà thờ Bà Hoàng Thị Loan; là
nguồn tài nguyên du lịch văn hóa rất có giá trị cho phát triển du lịch. Hơn nữa, với
vị trí gần Hà Nội và các khu vực đô thị lớn của vùng Đồng bằng Sông Hồng, Hưng
Yên có khả năng gắn kết với các tuyến du lịch từ Hà Nội qua Hưng Yên, Hải
Dương đi Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Thái Bình ; hiện nay tỉnh Hưng Yên
đang cho xây dựng khu đô thị mới thương mại- du lịch Văn Giang là điều kiện tốt
để phát triển du lịch lịch sử và nghỉ dưỡng nếu cơ sở hạ tầng phục vụ loại hình du
lịch này được xây dựng tốt. Đây là một lợi thế quan trọng, nếu khai thác tốt và có sự
liên kết chặt chẽ với các tỉnh lân cận vẫn sẽ tạo nên những tuyến du lịch hấp dẫn,
góp phần phát triển nhanh các ngành du lịch dịch vụ, tăng xuất khẩu tại chỗ và tạo
việc làm cho lao động trong tỉnh.
1.3.4. Môi trường sinh thái
Hưng Yên là một tỉnh thuần nông, đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; các ngành kinh tế-xã hội chưa phát triển mạnh; các trung
tâm kinh tế xã hội, các đô thị, thị trấn, thị tứ đang được hình thành và phát triển nên
mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai chưa nghiêm trọng.
13
Tuy nhiên, việc hình thành các khu, điểm công nghiệp: Như Quỳnh, Phố
Nối, thành phố Hưng Yên và gần thủ đô Hà Nội, các phương tiện giao thông cơ giới
hoạt động nhiều, bên cạnh đó việc sản xuất vật liệu xây dựng, nung gạch ngói cùng
với chất thải trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ, làng nghề;
là tỉnh có mật độ dân số rất đông đúc. Dân số trung bình năm 2010 có 1.132.285
người, đạt mật độ bình quân 1.223 người/km
2
, nằm trong số các tỉnh nông nghiệp có
14
mật dộ dân số cao nhất nước. Dân số thành thị của Hưng Yên năm 2010 có 139.527
người, chỉ chiếm 12,32% dân số toàn tỉnh.
Dưới tác động của chính sách kế hoạch hoá gia đình, tốc độ tăng dân số trung
bình trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có xu hướng giảm dần qua các năm kể từ năm
1997. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 1998 là 1,29% (so với năm 1997) và giảm
xuống chỉ còn 0,937% năm 2010; tính bình quân cả giai đoạn 2001-2010, tốc độ
tăng dân số trung bình trên địa bàn tỉnh là 1,005%/năm.
Cùng với quá trình đô thị hóa nhanh sau khi tái lập tỉnh, dân số thành thị
có xu hướng tăng nhanh, tăng bình quân 9,5%/năm giai đoạn 1997-2000 và
tăng bình quân 3,3%/năm trong giai đoạn 2001-2010 (sẽ là 4,8%/năm nếu tính
cả giai đoạn 1997-2010).
Song song với sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
kể từ năm 1997 (các khu công nghiệp Phố Nối A, Phố Nối B ở phía Bắc của tỉnh),
một lực lượng lớn lao động từ các địa phương khác đến sinh sống và làm việc trên
địa bàn tỉnh, làm cho dân số và lao động trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tăng, nẩy sinh
những đòi hỏi về mặt xã hội cần được quan tâm giải quyết như vấn đề nhà ở cho lực
lượng lao động này trên địa bàn tỉnh, vấn đề trật tự an ninh xã hội, v.v. Đồng thời,
trong giai đoạn vừa qua, một lực lượng lớn lao động của tỉnh di chuyển đến các địa
phương khác trong cả nước, đặc biệt là đến một số thành phố lớn để tìm kiếm việc
làm ngắn hạn và dài hạn.
Bảng 4. Một số chỉ tiêu về dân số Hưng Yên
Chỉ tiêu 2000 2005
2008
2009 2010
1, Dân số trung bình cả tỉnh (nghìn người) 1.079 1.111 1.126 1.131 1.132
2.3. Truyền thống văn hóa, xã hội
Hưng Yên vốn là vùng đất phù sa cổ của đồng bằng Bắc Bộ, được kiến tạo,
hình thành từ hàng vạn năm trước. Từ thời Hùng Vương dựng nước, cư dân nơi đây
đã biết trồng lúa nước, đánh cá, nuôi tằm, dệt vải, … biết dùng cây thuốc nam chữa
bệnh. Như vậy, vùng đất này đã hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử
của đất nước và dân tộc, đã tích tụ cả một bề dầy truyền thống lịch sử và văn hóa.
Hàng năm, đất Hưng Yên được sông Hồng bồi đắp thêm phù sa, kết hợp với khí hậu
nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
Con người Hưng Yên có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, chinh phục
và cải tạo thiên nhiên để phát triển sản xuất. Truyền thống nổi bật của người Hưng
Yên là tinh thần yêu nước, yêu quê hương, anh dũng bất khuất chống giặc ngoại
xâm bảo vệ quê hương đất nước. Bên cạnh đó, tinh thần đoàn kết, gắn bó, sống
nhân nghĩa, thủy chung cũng là phẩm chất, truyền thống quý báu của người Hưng
Yên xưa và nay.
Hưng Yên có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, ý chí vượt khó thành
tài. Hưng Yên có Văn Miếu Xích Đằng nổi tiếng là một trong 5 tỉnh có Văn Miếu lớn
của cả nước và được nhà nước xếp hạng năm 1992. Tuy là một vùng quê xưa còn
chưa thực sự phát triển, nhưng nhờ đức tính hiếu học, vượt khó thành tài, Hưng Yên
là một trong số những tỉnh có nhiều nhà khoa học và danh nhân văn hóa, tên của họ
được lưu danh trên bia của Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn Miếu Huế, v.v. là truyền
thống quý báu khích lệ các thế hệ con em Hưng Yên tiếp tục phấn đấu trong học tập,
rèn luyện, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hưng Yên trong
giai đoạn hiện nay.
16
Hưng Yên có điểm xuất phát về kinh tế thấp hơn so với các tỉnh trong vùng,
lại không có rừng, biển, ít tài nguyên khoáng sản. Nhưng tiềm năng lớn và ưu việt
của Hưng Yên là con người. Truyền thống cách mạng, văn hóa cũng là một tiềm
năng, một nguồn lực to lớn. Từ khi tái lập tỉnh, truyền thống đó đã được phát huy
cao độ, đưa tỉnh vượt qua những khó khăn ban đầu, tạo ra một bước phát triển
nhanh về kinh tế – xã hội, đặt nền móng vững chắc cho những bước phát triển tiếp
17
con, đạt 111,2% KH, tăng 6% CK, sản lượng thịt gia cầm 20,9 ngàn tấn, đạt 97,2%
KH, tăng 9,9% so CK. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng cao, đạt 4.800 ha, tăng
9% so CK, sản lượng thuỷ sản đạt 23,1 nghìn tấn, đạt 100,4% KH, tăng 8,8% so
CK.
- Sản xuất công nghiệp dần phục hồi và tăng trưởng khá, các hợp đồng sản
xuất được kết nối trở lại, giá trị sản xuất công nghiệp ước 19.855 tỷ đồng, đạt 100%
KH, tăng 14,65% so CK; trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước 1.642 tỷ
đồng, đạt 96,58% KH, tăng 7,01% CK; khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
ước 9.465 tỷ đồng, đạt 100,6% KH, tăng 17,3% CK; khu vực hộ kinh doanh cá thể
ước 1.441 tỷ đồng, đạt 100,1% KH, tăng 8,16% CK; khu vực doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài ước 7.306 tỷ đồng, đạt 100,1% KH, tăng 14,5% CK. Một số sản
phẩm công nghiệp tăng khá như: Thức ăn gia súc tăng 16,4%, bao bì tăng 2,8 lần,
thép cán các loại tăng 16,2%, tủ lạnh, tủ đá tăng 30%, xe máy tăng 20,3%. Bên cạnh
đó cũng còn một số sản phẩm công nghiệp giảm hoặc tăng chậm so cùng kỳ như:
Giầy dép các loại giảm 8,7%, ti vi tăng 8,4%, động cơ các loại tăng 8,7% .
- Các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ ngày
càng lớn mạnh về cả qui mô cũng như chất lượng phục vụ; mạng lưới bán buôn, bán
lẻ ngày càng được củng cố và phát triển, phục vụ tốt cho phát triển kinh tế – xã hội
của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; đặc biệt là các
hàng hoá, dịch vụ chất lượng cao, hiện đại như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, khách sạn, nhà hàng phát triển mạnh. Thị
trường bất động sản phục hồi và phát triển sôi động trở lại. Tổng mức lưu chuyển
hàng hoá bán lẻ ước 9.923 tỷ đồng, đạt 124% so KH, tăng 25,3% so cùng kỳ.
- Hệ thống giao thông của tỉnh được quan tâm cải tạo, nâng cấp, góp phần
quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân
dân. Nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch của tỉnh đã và đang được triển khai,
đường 200 đang được đẩy nhanh tiến độ, đường 195 đã khởi công, đường cao tốc
nối Quốc lộ 5 cao tốc với đường cao tốc cầu Giẽ – Ninh Bình đang trình Bộ Giao
thông thẩm định để phê duyệt. Dịch vụ vận tải hành khách và hàng hoá phát triển
giám sát không thường xuyên và chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản
lý kinh tế trình độ, chuyên gia đầu ngành cao còn ít. Công tác phối kết hợp giữa một
số ngành, một số đơn vị hiệu quả chưa cao
Để tiếp tục đà tăng trưởng và thực hiện mục tiêu “Để phát triển kinh tế với tốc
độ cao và vững chắc, trên cơ sở tăng nhanh giá trị sản xuất ngành công nghiệp, dịch
vụ, kết hợp với sự chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phấn đấu đưa
Hưng Yên cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp trước năm 2020 với cơ cấu kinh tế
hợp lý, thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức trung bình của cả nước, tiếp tục
quan tâm đến phát triển các vấn đề xã hội, giữ vững chính trị, đảm bảo an ninh quốc
phòng và trật tự an toàn xã hội ‘’ thì việc phát triển khoa học và công nghệ cần
phải được chú trọng và coi « Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh
Hưng Yên đến năm 2010 và định hướng chiến lược đến năm 2030’’ là một giải
pháp mang tính đột phá để đạt được mục tiêu mà Tỉnh đề ra
19
PHẦN THỨ HAI
TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HÔI TỈNH HƯNG YÊN
1. Khoa học & công nghệ tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
1.1. Kết quả tăng trưởng và chuyển dịch cơ câu kinh tế
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
a/ Tốc độ gia tăng giá trị sản xuất (GTSX)
Bảng 5. Tăng trưởng giá trị sản xuất của tỉnh Hưng Yên theo ngành
Đơn vị: %, theo giá cố định 1994
Chỉ tiêu 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Bình quân
2001-2010
Giá trị sản xuất 15,9 20,6 20,9 21,1 18,5 9,7 14,4 17,3
1. Nông nghiệp, thủy sản 3,61 5,05 4,27 3,90 4,28 -3,4 5,58 4,14
2. Công nghiệp & Xây dựng 27,3 27,5 26,8 26,8 22,5 11,4 15,2 22,6
2. Phi sản xuất nông nghiệp 14,49 19,41 20,05 20,49 17,8 10,2 13,69
Công nghiệp, xây dựng 11,81 16,52 17,01 17,95 15,7 8,2 11,16
Dịch vụ 2,67 2,89 3,04 2,55 2,13 1,9 2,53
Nguồn: Tính toán từ số liệu Cục thống kê Hưng Yên: NGTK Hưng Yên 2010.
Theo số liệu, thì năm 2009 là năm tương đối đặc biệt, do thời tiết diễn biến
phức tạp và khủng hoảng tài chính thế giới làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất các
ngành kinh tế, do vậy năm 2009 là năm không phản ánh thực chất xu hướng phát
triển chung. Để có bức tranh chung về xu thế phát triển chung của tỉnh trong giai
đoạn qua, làm căn cứ xây dựng cho các năm tiếp theo thì ta tạm loại trừ số liệu của
năm 2009 để đánh giá.
Đóng góp của các ngành cho tăng trưởng giá trị sản xuất trên địa bàn tỉnh
trong giai đoạn 2001-2010 đã có nhiều chuyển biến, mức đóng góp cho tăng trưởng
giá trị sản xuất từ khu vực phi sản xuất nông nghiệp đạt cao, năm 2010 chiếm
95,38%; trong đó, mức đóng góp của khối ngành công nghiệp cho tăng trưởng của
tổng giá trị sản xuất trên địa bàn tỉnh năm 2010 cao hơn nhiều so với chỉ tiêu này
năm 2001. Khối ngành công nghiệp, xây dựng đóng góp 8,92% trong tổng số
12,73% tăng trưởng chung GTSX năm 2001 (chiếm 70%); và đóng góp 11,16%
trong tổng số 14,35% tăng trưởng chung GTSX năm 2010 (chiếm 77,74%). Nhìn
chung, mức đóng góp của các ngành công nghiệp và xây dựng vào tăng trưởng
chung của giá trị sản xuất trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng lên: 70% năm 2001,
76,8% năm 2003, 78,2% năm 2004, 80,1% năm 2005 và năm 2008 là 85,1%, năm
2010 77,74% điều đó đã minh chứng tình hình phát triển kinh tế của tỉnh trong thời
gian qua là sự đóng góp lớn của việc thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư vào phát
triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh và sự bùng nổ về đầu tư xây dựng trên địa bàn
(xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu, cụm công nghiệp, quy mô thị xã trung tâm Hưng
Yên phát triển nhanh).
Bên cạnh mức đóng góp cao của khu vực sản xuất phi nông nghiệp, đặc biệt là
ngành công nghiệp, xây dựng vào tăng trưởng tổng số GTSX trên địa bàn tỉnh, mức
đóng góp của khối ngành nông nghiệp có xu hướng giảm trong giai đoạn 2001-
2010. Năm 2001, khối ngành nông nghiệp đóng góp 1,09% trong tổng số 12,73%
14,5%; tựu chung lại, khối ngành phi nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao trong
giai đoạn 2001-2010, bình quân 16,68%/năm.
Bảng 8: Đóng góp cho tăng trưởng GDP của tỉnh từ các ngành
Đơn vị tính: %, theo giá cố định 1994
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng mức tăng trưởng GDP 12,9 13,7 13,7 12,3 7,01 12,1
Trong đó:
1. Nông nghiệp, thủy sản 1,4 1,09 1,1 1,04 -0,55 1,2
2. Phi sản xuất nông nghiệp 11,5 12,63 12,65 11,28 7,56 10,9
Công nghiệp và xây dựng 6,82 7,6 8,06 7,55 4,2 6,18
Dịch vụ 4,68 5,03 4,58 3,73 3,36 4,72
Nguồn: tính toán từ số liệu Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010
22
Về đóng góp cho tăng trưởng GDP trên địa bàn tỉnh, trong tổng số 10,9%
tăng trưởng GDP trên địa bàn năm 2001, có 1,45 điểm % là đóng góp của khu vực
nông nghiệp (chiếm 13,3%); 9,46 điểm % là đóng góp của khu vực phi sản xuất
nông nghiệp, trong đó: 5,66 điểm % là đóng góp của khu vực công nghiệp - xây
dựng (chiếm 51,9%) và 3,8 điểm % là đóng góp của khu vực dịch vụ (chiếm
34,9%). Trong khi đó, năm 2010, trong tổng số 12,1% tăng trưởng GDP trên địa
bàn, có 1,2 điểm % là đóng góp của khu vực nông nghiệp (chiếm 9,92%, giảm
3,38% so với năm 2001); có 10,9 điểm % (chiếm 90,08% tổng mức tăng trưởng
GDP trên địa bàn) là đóng góp của khu vực phi sản xuất nông nghiệp, trong đó:
6,18 điểm % là đóng góp của khu vực công nghiệp-xây dựng (chiếm 51,07%, xấp xỉ
bằng năm 2001) và 4,72 điểm % là đóng góp của khu vực dịch vụ (chiếm 39,01%,
tăng 4,1% so với năm 2001).
Bảng 9: Đóng góp cho tăng trưởng GDP cả nước của các ngành
Đơn vị tính: %, theo giá cố định 1994
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng mức tăng trưởng GDP 8,5 8,2 8,5 6,2 5,32
1. Nông nghiệp, thủy sản 1,0 0,66 0,64 0,73 0,32
tỷ đồng, gấp 3,88 lần so với năm 2000.
So với quy mô kinh tế của vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ, kinh tế của tỉnh
khá nhỏ bé, trong giai đoạn 2001-2010, GDP của tỉnh tăng từ mức 3,8% lên 4,69%.
Trong đó, khối ngành nông nghiệp tăng từ 11,2 lên 13,4%; khối ngành công nghiệp
tăng nhanh hơn, từ 2,7-5%; khối ngành dịch vụ tăng từ 2,1-3,4%.
Biểu đồ 2: Quy mô GDP Hưng Yên so với vùng Kinh trọng điểm Bắc Bộ
năm 2001 và năm 2009 (%)
24
Bảng 9: Quy mô kinh tế trên địa bàn tỉnh (GDP)
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010
1. GDP theo giá so sánh
1994
2978 5312 6040 6871 7719 8259 9260
- Nông nghiệp, thủy sản 1428 1779 1837 1903 1976 1932 2014
- Công nghiệp & Xây dựng 772 1959 2362 2850 3369 3695 4235
- Dịch vụ 776 1573 1840 2117 2373 2633 3011
2. GDP theo giá hiện hành 4156 8238 9829 12271 15523 17909 21638
- Nông nghiệp, thủy sản 1703 2512 2722 3547 4350 4858 5410
- Công nghiệp & Xây dựng 1267 3133 3951 5040 6588 7673 9521
- Dịch vụ 1184 2592 3155 3683 4585 5379 6707
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên 2010
d/ Mức sống dân cư
Kết quả tăng trưởng kinh tế đạt mức cao trong giai đoạn 2001-2010 đã góp
phần cải thiện mọi mặt đời sống của nhân dân trong tỉnh. GDP bình quân đầu
người của tỉnh năm 2010 là 19,1 triệu đồng (giá hiện hành), tăng 4,96 lần so với
năm 2000.
Được sự quan tâm của các cấp, các ngành, cùng với các chương trình phát
triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chương trình xóa đói giảm
nghèo, chương trình giải quyết việc làm trên địa bàn, đời sống vật chất và tinh thần