MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, hiện nay, đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa ,
hiện đại hóa nhưng nền kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng chủ yếu. Trong
tình hình đó, kèm theo là trình độ lao động thấp, nguồn vốn thấp, vì vậy để có
thể phát triển tốt nền kinh tế thì hợp tác xã đóng một vai trò không thể thiếu.
Luật Hợp tác xã ra đời năm 2003 đã bước đầu giúp cho việc tổ chức và khuyến
khích thành lập mới hợp tác xã trên toàn quốc, góp phần đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Mặc dù, luật hợp tác xã 2003 đã đem lại nhiều
lợi ích to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nhưng sau
nhiều năm thực hiện thì những hạn chế đã bắt đầu xuất hiện. Ngày 20/11/2012
tại kì hợp thứ 4 quốc hôi khóa 13 đã thông qua luật Hợp tác xã 2012. Luật hợp
tác xã 2012 được ban hành với nhiều quy định mới tiến bộ đã khắc phục được
đa số các hạn chế, thiếu sót còn tồn tại trong luật cũ. Để làm rõ vấn đề này, em
xin được “phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so
với Luật Hợp tác xã năm 2003”
NỘI DUNG
I.Khái quát về hợp tác xã
1.Khái niệm về hợp tác xã
Trong bản khuyến nghị phát triển hợp tác xã của tổ chức lao động quốc tế
được thong qua tại kì họp thứ 90 tại Geneve- Thụy Sĩ đã định nghĩa về hợp tác
xã: “ Hợp tác xã là một tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết lại
với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội
thông qua việc thành lập một doanh nghiệp sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng,
chấp nhận việc chia sử lợi ích và rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành
viên trong điều hành và quản lý dân chủ.”
Việt Nam căn cứ vào tình hình, đặc điểm kinh tế- xã hội của đất nước
cũng đã đưa ra định nghĩa hợp tác xã cho phù hợp với điều kiện nước ta. Luật
1
Hợp tác xã đang có hiệu lực thi hành năm 2012 có nêu khái niệm về hợp tác xã
độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo
công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm.
6. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho
thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã.
7. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành
viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp
tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế.
3.Luật hợp tác xã
Luật hợp tác xã có thể hiểu là luật quy định về việc thành lập, tổ chức và
hoạt động đối với hợp tác xã trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân,nhằm khuyến khích và phát triển mô hình Hợp tác xã kiểu mới, đồng thời
định hướng phát triển các hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp
tác xã.
Nước ta đến nay đã cho ra đời 3 luật hợp tác xã 1996, 2003 và đang có
hiệu lực thi hành là luật năm 2012. Các luật đều có những điểm mạnh phù hợp
với từng thời kỳ, bên cạnh đó là những hạn chế, bất cập đã được sửa đồi, bổ sung
trong các luật thay thế giúp hoàn thiện tổ chức, hoạt động hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã; phát huy được sức mạnh tập thể, nâng cao đời sống vật chất cho
thành viên hợp tác xã
và góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
II. Sự cần thiết phải sửa đồi, thay thế luật hợp tác xã 2003
1,Những điểm hạn chế, thiếu sót trong luật Hợp tác xã 2003
3
Luật hợp tác xã 2003 có nhiều ưu điểm giúp phát huy tích cực vai trò của
hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường. Luật đã kế thừa quy định của Luật hợp
Mục đích của xã viên thành lợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là nhằm tạo ra
việc làm và thu nhập cho chính mình, xã viên được hưởng lợi ích từ việc trả
lương và được chia lãi theo mức độ vốn góp, vừa là chủ sở hữu vừa là người lao
động trong hợp tác xã. Việc chưa làm rõ bản chất tổ chức hợp tác xã dẫn đến tình
trạng nhiều hợp tác xã rất lúng túng trong tổ chức, xây dụng phương án sản xuất,
kinh doanh, hoạt động.
Thứ ba, Luật 2003 chưa quy định thật rõ chức năng quản lý nhà nước của
các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các cấp.
Còn thiếu các quy định về quyền và nhiệm vụ của các cơ quan chức năng
nhà nước đối với việc thực hiện quy định pháp luật về hợp tác xã, liên hiệp hợp
tác xã.
Một số quy định có tính khả thi thấp như quy định trường hợp nguồn tài
chính còn lại của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không đủ để thực hiện việc giải
thể bắt buộc thì sử dụng nguồn tài chính từ quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã tại
địa phương để thực hiện giải thể bắt buộc. Tuy nhiên quỹ này không phải địa
phương nào cũng có, hầu hết các địa phương chưa thành lập quỹ này.
Thứ tư, chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân trong việc
giám sát, kiểm tra thi hành luật, chưa có chế tài cụ thể và đủ sức răn đe để pháp
luật có hiệu lực.
Thứ năm, Luật hợp tác xã 2003 chưa có chính sách đặc thù khuyến khích
phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phù hợp với bản chất tổ chức hợp tác
xã.
2.Thực tiễn áp dụng luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã 2003
5
Bên cạnh một số kết quả đạt được, khu vực hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã còn có một số tồn tại chủ yếu.
-Đất nước ta không thoát ra được khỏi những yếu kém kéo dài, trình độ
công nghệ lạc hậu, năng lực đội ngũ cán bộ quản lý yếu, chất lượng lao động
phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp
nhân, tự chủ,tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn
điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của
pháp luật.”
Điều 3 khoản 1 luật hợp tác xã 2012 nêu khái niệm về hợp tác xã như sau:
“1.Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do
ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong
quản lý hợp tác xã.
2. Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp
nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn
nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của
hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân
chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã.
3. Khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ
hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp
của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật doanh nghiệp”
So với luật hợp tác xã 2003. Luật mới năm 2012 đã thể chế hóa rõ hơn,
nhất quán và xuyên suốt trong toàn bộ các điều luật về bản chất tổ chức hợp tác
xã. Với luật hợp tác xã 2003, quy định chưa chặt chẽ dẫn đến việc dễ gây hiểu
7
nhầm coi hợp tác xã như doanh nghiệp, công ty, luật cũ quy định “hợp tác xã
hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” làm nhiều người lầm tưởng hợp tác
xã không khác gì doanh nghiệp, trong khi Nhà nước có một số chính sách dành
riêng cho tổ chức mang tên hợp tác xã, nên đã quyết định thành lập hợp tác xã để
được thụ hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước. Do đó, luật hợp tác xã 2012 đã
Như vậy, luật mới đã làm rõ hơn bản chất hợp tác xã là tổ chức kinh tế
thuộc thành phần kinh tế tập thể, quản lý dân chủ, tự chịu trách nhiệm, đồng sở
hữu hợp tác xã, số lượng tối thiểu 7 thành viên mới được thành lập Hợp tác xã.
Mặc dù luật không xác định hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp nhưng xác định hợp tác xã thành lập để hợp tác tương trợ nhau trong sản
xuất, kinh doanh. Hợp tác xã vẫn được thành lập doanh nghiệp trực thuộc nhưng
chỉ khác là khi hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn, có nghĩa là hợp tác xã
mới thành lập hoặc hoạt động yếu kém thì chưa được thành lập doanh nghiệp
trực thuộc. Đối với Liên hiệp hợp tác xã, ít nhất 4 hợp tác xã mới được thành lập
Liên hiệp thay vì hợp tác xã và doanh nghiệp có nhu cầu là có thể thành lập Liên
hiệp như trong luật hợp tác xã 2003 quy định.
2. Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp tác xã
Chính sách hỗ trợ, ưu đãi hợp tác xã đã được quy định trong luật Hợp tác
xã 2003 tại điều 3 và Luật Hợp tác xã 2012 tại điều 6.
Luật mới đã làm rõ hơn với 6 danh mục chính sách hỗ trợ, 2 danh mục
chính sách ưu đãi chung cho các loại hình hợp tác xã, đặc biệt trong lĩnh vực
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, ngoài các chính sách hỗ trợ,
ưu đãi trên, còn được hưởng them 5 mục ưu đãi nữa về đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng, giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động tín dụng, vốn giống khi gặp
khó khăn do thiên tai, dịch bệnh.
Bên cạnh đó, luật 2012 đã có các quy định mang tính nguyên tắc về chính
sách hỗ trợ hợp tác xã phù hợp với bản chất của tổ chức của hợp tác xã, đi đôi
9
với quy định tương đối chặt chẽ, rõ rang về bản chất tổ chức hợp tác xã. Chủ
trương của luật là cần có những chính sách riêng hỗ trợ hợp tác xã, nhưng chỉ
quy định mang tính nguyên tắc trong luật và giao cho Chính phủ thực hiện phù
hợp với tình hình cụ thể của hợp tác xã, từng giai đoạn đảm bảo Luật Hợp tác xã
là khung luật cơ bản tập trung điều chỉnh tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
vốn tối đa của một thành viên chỉ từ 5% đến 20% thì mức vốn góp tối đa trong
Luật hợp tác xã 2003 là quá cao. Do đó, việc giảm xuống còn 20% là hợp lý và
cần thiết.
Việc quy định mức vốn góp tối đa là rất quan trọng, xuất phát từ một
nguyên tắc có tính nền tảng của hợp tác xã là một thành viên chỉ có một phiếu
biểu quyết, đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng trong quản lý hợp tác xã, nếu không
hạn chế mức vốn góp thì nguyên tắc này sẽ bị vô hiệu hóa vì nếu để thành viên
muốn góp bao nhiêu cũng được thì người có quá nhiều vốn sẽ có thực quyền
hơn so với người góp ít vốn. Mặt khác, việc quy định này giúp tránh bị biến
động mạnh về vốn,nếu một thành viên góp vốn tỉ lệ quá cao thì việc rút vốn của
người đó sẽ làm cho hợp tác xã phải giải thể. Vì vậy, mức vốn góp tối đa theo
luật mới quy định là hợp lý.
4. Về thành viên hợp tác xã
Điều 17 Luật Hợp tác xã 2003:
“1.Công dân Việt Nam từ mười tám tuổitrở lên, có năng lực hành vi dân
sự đầyđủ, có góp vốn, góp sức, tán thành Điều lệhợp tác xã, tự nguyện xin gia
nhập hợp tác xã cóthể trở thành xã viên.
Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách là xã viên theo quy
định của Điều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý và điều hành
hợp tác xã.
11
2. Hộ gia đình, pháp nhân có thể trở thành xã viên theo quy định của Điều lệ
hợp tác xã. Khi tham gia hợp tác xã, hộ gia đình, pháp nhân phải cử người đại
diện có đủ điều kiện như đối với cá nhân tham gia.
3. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thể là xã viên của nhiều hợp tác xã trong
trường hợp Điều lệ hợp tác xã không cấm.”
Điều 13 Luật Hợp tác xã 2012 khoản 1 quy định:
“1. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân trở thành thành viên hợp tác xã phải
đối tượng hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, dẫn đến mọi người có
thể có sự hiểu nhầm. Hiện nay, vì nhiều yêu cầu mới, hợp tác xã mở rộng trên
nhiều lĩnh vực, hoạt động kinh doanh nên khái niệm “thành viên hợp tác xã” là
sát nghĩa nhất.
5. Về mô hình quản trị điều hành
Luật Hợp tác xã 2012 đã thay thế một loạt khái niệm sử dụng trong luật
hợp tác xã 2003, khái niệm “Hội đồng quản trị” thay “ Ban quản trị”, “Chủ tịch
hội đồng quản trị” thay “trưởng ban quản trị”, “giám đốc” thay “chủ nhiệm”,
“đăng ký hợp tác xã” thay “đăng ký kinh doanh”.
Luật hợp tác xã 2012 cũng quy định rõ ràng và cụ thể hơn về số lượng,
quyền và chức năng mô hình quản trị điều hành so với luật hợp tác xã 2003.
Về việc hội đồng quản trị triệu tập đại hội thành viên bất thường.
Luật Hợp tác xã 2003 quy định tại điều 21: “ Đại hội xã viên bất thường
do Ban quản trị hoặc Ban kiểm soát của hợp tác xã triệu tập để quyết định
những vấn đề cần thiết vượt quá quyền hạncủa Ban quản trị hoặc của Ban kiểm
soát.
13
Trong trường hợp có ít nhất một phần ba tổng số xã viên cùng có đơn yêu
cầu triệu tập Đại hội xã viên gửi đếnBan quản trị hoặc Ban kiểm soát thì trong
thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ đơn, Ban quản trị phải triệu tập
Đại hội xã viên bất thường; nếu quá thời hạn này mà Ban quản trị không triệu
tập thì Ban kiểm soát phải triệu tập Đại hội xã viên bất thường để giải quyết các
vấn đề nêu trong đơn”
Ở luật hợp tác xã 2012 còn có quy định thêm 2 trường hợp khác tại điều
31:
“b,Hội đồng quản trị không tổ chức được cuộc họp định kỳ sau hai lần
triệu tập
c.Theo đề nghị của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên”