Bài tập lớn học kỳ môn luật Hành chính
MỤC LỤC:
Mục lục…………………………………………………………………………… 1
I.Lời mở đầu….…………………………………………………………….………2
II.Nội dung……………………………………………………………….……… 2
1.Nguyên tắc tập trung dân chủ……………………………………….…………2
2. Bản chất vị trí của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí nhà nước xã hội
chủ nghĩa………………………………………………………………………… 3
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước……………4
3.1.Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà
nước……………………………………………………………………………… 5
3.2. Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trưng ương.6
3.3.Việc phân cấp quản lí…………………………………………………………6
3.4.Hướng về cơ sở……………………………………………………………… 7
3.5.Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước………………….7
4. Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính ở Việt Nam
hiện nay……………………………………………………………………………8
4.1. Thể hiện bản chất nhà nước, bản chất giai cấp………………………………8
4.2. Phản ánh qui luật khách quan của hoạt động quản lí……………………… 8
4.3. Đảm bảo cho việc quản lí có hiệu quả cao nhất…………………………… 9
4.4. Đảm bảo quyền làm chủ đất nước của nhân dân có cơ sở để thực hiện……10
III.Kết bài…………………………………………………………………………10
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………………………11
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Hoạt động quản lí nhà nước nói chung và quản lí hành chính nhà nước xã hội
chủ nghĩa nói riêng là hoạt động có mục đích nhằm bảo vệ nhà nước, giai cấp
thống trị và quyền lợi của nhân dân, chính vì thế để đảm bảo hoạt động này được
tiến hành một cách có hiệu quả, cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định.
Đối với hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và đối với nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng một nguyên tắc cơ bản không thể thiếu đó
chính là nguyên tắc tập trung – dân chủ. Hiến pháp 1992 đã qui định rõ:
cần phải có sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, tuy nhiên khác về mức
Nguyễn Thị Kim Cúc_351823 2
Bài tập lớn học kỳ môn luật Hành chính
độ giữa chúng. Mỗi hoạt động quản lí nhà nước đều có những đặt thù riêng vậy cho
nên không thể qui kết một cách máy móc về mức độ kết hợp giữa hai yếu tố này.
Như vậy theo quan điểm thứ nhất thì cả hai yếu tố trên sẽ có mối quan hệ biện
chứng với nhau và tùy theo từng hoạt động cụ thể của cơ quan nhà nước mà chúng
phối hợp với nhau như thế nào.
2. Bản chất vị trí của nguyên tắc tập trung – dân chủ trong quản lí nhà
nước xã hội chủ nghĩa:
Trước hết khẳng định rằng nguyên tắc tập trung – dân chủ là nguyên tắc cơ bản
trong hệ thống nguyên tắc quản lí nhà nước xã hội chủ nghĩa. Từ khi xuất hiện nhà
nước cho đến nay một điều tất yếu là có nhà nước thì có sự tâp trung quyền lực nhà
nước. Tuy nhiên tùy theo trình độ phát triển của xã hội, tùy theo nhà nước đó bảo
về cho lợi ích giai cấp nào mà mức độ tập trung đó lại khác nhau. Ở nhà nước
phong kiến và nhà nước tư sản, quyền lực tập trung vào trong tay giai cấp thống trị
chiếm số ít trong xã hội. Việc quản lí nhà nước đó chỉ có nhiệm vụ đảm bảo quyền
lợi ích cao nhất cho giai cấp thống trị, bóc lột giai cấp bị trị. Tuy nhiên khi nhà
nước xã hội chủ nghĩa ra đời thì việc tập trung đó không còn ý nghĩa là để thống trị
nữa, nguyên tắc tập trung – dân chủ chính thức là một nguyên tắc cơ bản trong hệ
thống nguyên tắc quản lí nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước là sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt: tập trung (thống nhất) và dân
chủ, và thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa chế độ tập trung và chế độ dân chủ.
Do vậy, bất kỳ sự nhấn mạnh hay coi nhẹ một mặt nào của nguyên tắc này sẽ dẫn
đến sự thiếu hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Làm rõ
luận điểm này Lênin đã từng viết: “Quần chúng có quyền đưa bất cứ một người
công nhân trong số họ vào lãnh đạo nhưng điều đó không hề có nghĩa là công việc
tập thể không cần có người lãnh đạo để đảm nhiệm một trách nhiệm rõ ràng,
không cần có một trật tự chặt chẽ do ý chí của người lãnh đạo tạo ra. Nếu không
Nguyễn Thị Kim Cúc_351823 4
Bài tập lớn học kỳ môn luật Hành chính
3.1.Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà
nước cùng cấp.
Hiến pháp của Nhà nước ta ghi nhận nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân
dân. Người dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống cơ quan quyền
lực. Điều này đã được ghi nhận rõ tại Điều 6 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung
2001):“Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng
nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Trong hoạt động quản lí
hành chính nhà nước, cơ quan quản lí hành chính là một phần không thể thiếu. Từ
trung ương tới địa phương hệ thống các cơ quan đó được thành lập một cách chặt
chẽ và trong hoạt động của mình, các cơ quan đó luôn thể hiện tính phụ thuộc vào
co quan quyền lực nhà nước của mình.
Trong việc thành lập, sáp nhập hay giải thể: các cơ quan quyền lực cùng cấp
có quyền hạn nhất định trong việc này. Ở trung ương, Quốc hội có quyền thành lập
ra Chính phủ, trao cho Chính phủ quyền hành pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ…
đều do Quốc hội thành lập một cách trực tiếp hay gián tiếp. Ở địa phương, các ủy
ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra.Trong việc hoạt động quản lí
hành chính của cơ quan hành chính nhà nước thì luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát và
phải chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Việc phụ thuộc
của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm
cho hoạt động của nhà nước được thống nhất và đảm bảo cho nguyện vọng ý chí
của nhân dân. Đồng thời cũng thể hiện tính chất tập trung quyền lực vào cơ quan
quyền lực nhà nước, cơ quan do nhân dân bầu ra.
Tuy nhiên cơ quan quyền lực cũng trao cho cơ quan hành chính những quyền
nhất định. Trong thực tiễn hoạt động quản lí hành chính nhà nước rất đa dạng phức
tạp và thay đổi ngày một. Chính vì thế mà để hoạt động quản lí hành chính được
kịp thời hiệu quả thì cơ quan hành chính được quyền ban hành các văn bản qui
phạm, bên cạnh đó những hoạt động của cơ quan hành chính còn được cơ quan
Nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất
tinh thần của người dân lao động chính là các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính
Nguyễn Thị Kim Cúc_351823 6
Bài tập lớn học kỳ môn luật Hành chính
nhà nước. Chính vì thế việc hướng về cơ sở là một định hướng đúng đắn, sáng suốt.
Hướng về cơ sở là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ
sở quản lí tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống đơn vị kinh tế văn hóa –
xã hội trực thuộc. Nhà nước luôn tạo những điều kiện thuận lợi nhất về vật chất và
cả tinh thần để các đơn vị có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ của mình như hoạt
động sản xuất của cải vật chất, hoạt động xã hội…lại vừa có những chính sách và
biện pháp quản lí thống nhất và hiệu quả các đơn vị này.
3.5.Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính ở địa phương hay còn gọi là
nguyên tắc song trùng trực thuộc. Sự phụ thuộc này thể hiện ở cả hai mặt tổ chức
và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và được pháp luật qui
định một cách cụ thể. Cơ quan hành chính ở địa phương vừa phụ thuộc vào cơ quan
quyền lực cùng cấp vừa phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm
quyền chung ở cấp trên trực tiếp. Trong việc tổ chức: ủy ban nhân dân thì do hội
đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, kết quả bầu cử của ủy ban nhân dân thì phải đươc
chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Trong việc hoạt động ủy ban
nhân dân phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp
và cơ quan hành chính cấp trên. Mối quan hệ này vừa tạo điều kiện để cấp dưới
phát huy tính dân chủ vừa tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo hoạt động cấp
dưới. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nước
với lợi ích của đại phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích vùng lãnh thổ.
4. Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung – dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay:
4.1.Thể hiện bản chất nhà nước, bản chất giai cấp:
Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) khẳng định: “Nhà nước
Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
liêu… Nghệ thuật của sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỷ lệ kết hợp
tối ưu của hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh
vực, ngành cụ thể, trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ
Nguyễn Thị Kim Cúc_351823 8
Bài tập lớn học kỳ môn luật Hành chính
thể, trong từng địa phương, từng thời điểm khác nhau cần định ra liều lượng kết
hợp giữa những chế độ tập trung và chế độ dân chủ thích hợp tạo nên sự thống nhất
hai mặt của nguyên tắc.
Việc vận dụng nguyên tắc tập trung – dân chủ trong quản lí hành chính tạo
sự thống nhất về ý chí trong tổng thể hoạt động quản lí nhà nước, tạo sự nhịp nhàng
ăn khớp giữa các cơ quan, ngành khối trong toàn xã hội mà vẫn đảm bảo cho các
địa phương trong nước có quyền hạn tự do tương đối trong việc định hướng phát
triển cho địa phương mình, từ đó phát huy sức mạnh tổng thể toàn đất nước.
4.4.Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân có cơ sở để thực hiện
Việc vận dụng nguyên tắc tập trung – dân chủ là góp phần đảm bảo cho quyền
làm chủ của nhân dân có cơ sở để thực hiện. Nếu như Hiến pháp qui định về việc
“quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” một cách khái quát, trừu tượng thì việc
vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính nhà nước là một
hoạt động cụ thể tạo điều kiện để “quyền lực” đó được thực hiện. Cụ thể là trong
các chỉ thị số 22/1998/CT-TTg ngày 15-5-1998 của Thủ tướng Chính phủ về triển
khai Qui chế thực hiện dân chủ ở xã, nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 8-9-1998
của Chính phủ ban hành Qui chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan,
nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13/2/1999 của Chính phủ ban hành Qui chế
thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước, quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT
ngày 1-3-2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc ban hành qui chế
thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường…. về nội dung dân chủ ở cơ sở
đã thể hiện tính chất dân chủ, đảm bảo cho nhân dân lao động có thể tham gia đông
đảo vào quản lí hành chính nhà nước, thực hiện quyền giám sát của mình.
III. KẾT LUẬN:
Trên đây là những tổng hợp phân tích của bản thân về nguyên tắc tập trung –