quan hệ tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở
ĐỀ BÀI: Vợ chồng ông A, bà B có 3 người con là C, D, E. Năm 2000 ông bà chết
không để lại di chúc. Tài sản ông bà để lại cho các con là căn nhà 3 tầng tổng diện
tích 320m2 ở phố X, Hà Nội. Sau khi ông bà chết, anh C ở tầng 1, chị D ở tầng 2,
anh E ở tầng 3. Năm 2006 anh C bán cho ông K ½ diện tích nhà tầng 1 và khi giao
nhà thì xảy ra tranh chấp do chị D, anh E không đồng ý việc bán nhà. Nay chị D,
anh E kiện ông K yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà. Hỏi:
1. Xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp mà Tòa án cần phải giải quyết?
2.
Tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
các
đương
sự
trong
chấp về quyền sở hữu tài sản phát sinh từ hợp đồng dân sự. Do đó quan hệ pháp luật
có tranh chấp ở đây là quan hệ pháp luật dân sự. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 25 BLTTDS 2004.
2. Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án.
Trong vụ án dân sự, đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh
vực mình phụ trách. Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTDS năm 2004 thì
“Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị
đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Trong vụ án trên, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đó là:
- Chị D và anh E tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn bởi:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là
người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy
định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi
ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm…”. Trong vụ án này, chị D và anh E là
người khởi kiện để yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán nhà giữa anh C và ông K
vì cho rằng việc mua bán này đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ
đó là quyền sở hữu đối với căn nhà 3 tầng là di sản của ông A, bà B để lại. Do đó
chị D và anh E được xác định là nguyên đơn trong vụ án.
- Ông K tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn bởi:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 56 BLTTDS thì “Bị đơn trong vụ án dân sự là
người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này
quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.Trong vụ án này, ông K là
người bị nguyên đơn là chị D và anh E khởi kiện để yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng
mua bán nhà vì cho rằng hợp đồng mua bán nhà giữa ông K và anh C mà không có
sự đồng ý của chị D và anh E đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Do đó ông K được xác định là bị đơn trong vụ án.