A. LỜI MỞ ĐẦU
"Cơn sốt giá nhà đất" đang là vấn đề nóng được nhiều người quan tâm. Bởi cùng với
sự phát triển năng động của nền kinh tế thị trường thì trong nhiều năm trở lại đây, giá
đất, nhà ở đang có sự biến động một cách chóng mặt. Vậy nên, nhà ở với giá trị ngày
càng cao thì làm cho những tranh chấp diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Xuất
phát từ thực tế đó nên trong phạm vi bài tập nhóm, chúng em xin phân tích đề tài :
“Tìm hiểu 3 vụ việc tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở”.
B. NỘI DUNG
I. Cở sở lý luận về hợp đồng mua bán nhà ở
1. Khái niệm
Hợp đồng mua bán nhà ở là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên mua và bên bán,
theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyền giao nhà ở và quyền sở hữu nhà ở cho bên mua.
Bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán đúng thời hạn, địa điểm theo phương thức
mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán nhà ở.
2. Đặc điểm pháp lí của hợp đồng mua bán nhà ở
Hợp đồng mua bán nhà ở là một dạng của hợp đồng dân sự nói chung và là một loại
hợp đồng mua bán tài sản nói riêng nên nó cũng mang đặc điểm pháp lý như hợp đồng
mua bán tài sản :
- Hợp đồng mua bán nhà ở là hợp đồng song vụ : Bên mua và bên bán nhà ở đều có
quyền và nghĩa vụ đối nhau. Bên bán có quyền yêu cầu bên mua nhận nhà đã mua
đúng thời hạn các bên thỏa thuận đồng thời bên mua nhà ở có nghĩa vụ thanh toán
khoản tiền mua nhà ở đúng thời hạn, địa điểm và phương thức các bên đã thỏa thuận.
Bên mua nhà cũng có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao đúng nhà đã bán.
- Hợp đồng mua bán nhà ở là hợp đồng ưng thuận : Nó phát sinh hiệu lực pháp lý vào
thời điểm các bên đã giao kết xong hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán
nhà ở là khi hợp đồng mua bán bằng văn bản đó được các bên hoàn tất các thủ tục
công chứng, chứng thực
- Hợp đồng mua bán nhà ở là hợp đồng có đền bù : Khoản tiền và lợi ích vật chất
khác mà bên mua có nghĩa vụ trả cho bên bán nhà ở theo thỏa thuận hoặc theo quy
1. Vụ việc thứ nhất
1.1 Nơi xảy ra vụ việc: Đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội
1.2 Chủ thể của vụ việc:
- Nguyên đơn: Ông Trần Tấn Hiệp sinh năm 1943
Bà Vũ Thị Thục Đức, sinh năm 1943( vợ ông hiệp)
Trú tại 75 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội
- Bị đơn: Ông Lê Trọng Đỉnh, sinh năm 1949,
Bà Nguyễn Thị Thịnh, sinh năm 1952( Vợ ông Đỉnh)
Cùng trú tại số 6 Đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội.
1.3 Tóm tắt nội dung vụ việc
Ngôi nhà số 6 Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ thuộc quyền sở hữu của ông
Hiệp, bà Đức. Từ tháng 3 năm 2000 đến tháng 6 năm 2000 vợ chồng ông đã vay ông
Đỉnh nhiều lần tiền để kinh doanh. Khi đó, hồ sơ về ngôi nhà vợ chồng ông Hiệp đang
thế chấp tại ngân hàng Hàng Hải để vay tiền kinh doanh. Do sự thúc ép của ngân hàng
vậy nên vợ chồng ông đồng ý để ông Đỉnh nộp một phần tiền với tư cách vợ chồng
ông Hiệp nợ ông Đỉnh để trả nợ ngân hàng Hàng Hải và giải chấp ngôi nhà trên. Do
nghĩ là đã nợ ông Đỉnh một số tiền lớn nên ngày 6/3/2001, vợ chồng ông Hiệp đã viết
giấy nhận nợ ông Đỉnh là 5 tỷ đồng, cùng ngày vợ chồng ông Hiệp đưa ông Đỉnh toàn
bộ giấy tờ của ngôi nhà. Ngày 26/5/2001, hai bên là ông Hiệp bà Đức, ông Đỉnh bà
Thịnh đã lập bốn tờ khai thỏa thuận mua bán ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường
Quảng An, quận Tây Hồ có diện tích mặt sàn là 160m2 trên thửa đất 108, rộng 626
m2, thống nhất giá 7,6 tỷ đồng. Sau khi trừ số tiền còn nợ, số tiền vợ chồng ông Đỉnh
còn phải thanh toán cho vợ chồng ông Hiệp là 2,6 tỷ đồng. Hai bên còn thỏa thuận khi
nào vợ chồng ông Đỉnh trả đủ tiền thì sẽ làm hợp đồng mua bán nhà đất. Bản kê khai
mua bán nhà đất trên đã được Ủy ban nhân dân phường Quảng An xác nhận vào ngày
04/7/2001. Tháng 12/2001 ông Đỉnh đã có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân làm giấy
chứng nhận quyền sử dụng nhà đất mang tên mình.
Không đồng ý với yêu cầu này của ông Đỉnh, ngày 5/6/2002, vợ chồng ông Hiệp đưa
Xét thấy hai bên đều có lỗi trong việc xác lập hợp đồng mua bán nhà ở.
2. Vụ việc thứ hai
2.1 Nơi xảy ra vụ việc: Nguyên Hồng, Phường Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
2.2 Chủ thể của vụ việc:
- Nguyên đơn:
+ Ông Nguyễn Văn An, sinh năm 1953
+ Bà Định thị Hiền, sinh năm 1958 ( Vợ ông An)
Trú tại: 8B Nguyên Hồng, Phường Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
- Bị đơn:
+ Bà Hoàng Thị Vân, sinh năm 1953
+ Ông Nguyễn Đăng Hải (chồng bà Vân), sinh năm 1950
Trú tại: 1A Láng Hạ - Ba Đình – Hà Nội
2.3.Tóm tắt nội dung vụ việc:
Bà Hiền và bà Vân là bạn làm ăn lâu năm. Tháng 3/1996, bà Vân vay của bà Hiền 200
triệu đồng với lãi suất 9%/ tháng. Trước đó bà Vân có vay của bà Dương Thị Huệ 300
triệu nên bà Vân quyết định bán ½ căn nhà tại 8B Nguyên Hồng, Phường Thành
Công, Ba Đình, Hà Nội cho bà Hiền với điều kiện bà Hiền sẽ trả thay bà Vân số tiền
nợ bà Huệ. Bà Hiền bán căn nhà của mình tại 144 Nguyên Hồng, quận Đống Đa cho
một người quen với giá 300 triệu đồng để trả nợ thay cho bà Vân. Nhưng trên thực tế
hợp đồng mua bán nhà giữa bà Vân và bà Hiền chưa được xác lập, việc bà Hiền trả
tiền thay thực chất là cho bà Vân vay. Tính đến năm 1997, tổng số tiền bà Vân nợ bà
Hiền là 840 triệu đồng. Bà Vân không có khả năng thanh toán nên bà Hiền đã yêu cầu
bà Vân bán ½ căn nhà cho mình
Ngày 20/6/1997, vợ chồng bà Vân bán cho vợ chồng bà Hiền ½ căn nhà tại số 8B
Nguyên Hồng, quận Ba Đình, Hà Nội với giá 900 triệu đồng. Ngôi nhà này được xây
trên đất lấn chiếm đồng thời nằm trong diện mở đường và xây dựng công trình công
cộng. Giấy mua bán nhà được viết tay, các bên cùng kí tên, tuy nhiên không có xác
nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chưa thực hiện hợp đồng mua bán nhà
trường hợp pháp luật có quy định khác”. Theo như thoản thuận là vợ chồng bà Vân
bán cho vợ chồng bà Hiền ½ ngôi nhà nhưng nội dung của hợp đồng không đề cập cụ
thể mua bán phần nào của ngôi nhà: vị trí, diện tích như thế nào. Theo Điều 134 và
Điều 135 BLDS năm 2005 thì tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán nhà này là giao dịch
dân sự vô hiệu là có căn cứ pháp luật
Nhưng bên cạnh đó, nhóm em cũng thấy rằng để xác định hậu quả pháp lý của giao
dịch dân sự vô hiệu và trách nhiệm bồi thường của các bên thì tòa án cần phải xác
định cụ thể mức độ lỗi giữa các bên. Xét thấy, trong quá trình xác lập hợp đồng mua
bán nhà, hai bên đều có lỗi cụ thể là bà Vân với vai trò là người bán nhà nhưng biết
ngôi nhà này được xây trên đất lấn chiếm đồng thời nằm trong diện mở đường và xây
dựng công trình công cộng mà vẫn bán cho bà Hiền đồng thời bà Vân lại thực hiện
việc mua bán nhà khi chưa có đầy đủ những giấy tờ hợp pháp về nhà đất. Còn với bà
Hiền do thiếu hiểu biết hoặc cố tình không làm đúng theo quy định của pháp luật vẫn
xác lập hợp đồng mua bán nhà.
Thứ ba là về giá trị quyền sử dụng nhà đất: ngôi nhà nằm trên đất lấn chiếm, lại được
xác định nằm trong diện quy hoạch mở đường và xây dựng công trình công cộng. Với
tình trạng nhà đất nêu trên và mức độ lỗi của hai bên nên tòa án đã xác định giá trị
quyền sử dụng đất với đơn giá 19 triệu/m2 là hợp lý về các loại giá đất trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Vì vậy, xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu tính giá trị quyền sử
dụng đất tại 8B Nguyên Hồng là chưa hợp lý nên tòa án đã bác bỏ yêu cầu này.
3. Vụ việc thứ ba
Quyết đinh số 18/2003/HĐTP-DS ngày 30-05-2003 về vụ án tranh chấp hợp đồng
mua bán nhà.
3.1 Nơi xảy ra vụ việc: phường Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Chủ thể của vụ việc:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Hiền, sinh năm 1957 và các con bà Hiền là
Trần Thị Ngọc Diệp; Trần Thị Ngọc Chi; Trần Thị Ngọc Hiếu; Trần Thị Bích Trâm
(đều do bà Hiền giám hộ); cùng trú tại số 4 khu phố II, phường Tân Thuận Tây, quận
7, TP. Hồ Chí Minh.
nếu nhà đất có tranh chấp thì bên bán chịu trách nhiệm. Hợp đồng này chỉ có ông
Lung, ông Thọ ký và Uỷ ban nhân dân phường Bình Thuận xác nhận chữ ký của hai
ông, chứ chưa phải là xác nhận tình trạng tài sản chuyển dịch và chưa qua Công chứng
theo quy định.
Thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 04-12-1999, phía ông Thọ mới giao cho ông
Lung 51.000USD và 430 triệu đồng. Phía ông Thọ cho rằng lần thứ 4 giao cho ông
Lung 320 triệu đồng, nhưng không làm biên nhận. Điều này không được nguyên đơn
thừa nhận. Sau đó, ông Thọ cũng không trả thêm tiền cho ông Lung, không thiết lập
hợp đồng mua bán nhà đất theo quy định với lý do ông Lung không cùng ông Thọ lo
thủ tục mua bán nhà đất đó. Ngày 18-04-2000, ông Thọ khởi kiện tại Toà án nhân dân
quận 7 yêu cầu ông Lung phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà đất cho ông Thọ,
sau đó, ông Thọ sẽ trả hết số tiền còn lại là 1 tỷ đồng. Ngày 01-11-2000, ông Thọ xin
rút đơn khởi kiện ông Lung tại Tòa án để yêu cầu Uỷ ban nhân dân quận 7 giải quyết
hợp đồng nêu trên. Sự việc chưa được giải quyết thì ngày 10-05-2000 ông Lung chết.
Những người hưởng thừa kế của ông Lung gồm: bà Muội (là mẹ ông Lung); bà Hiền
(là vợ) cùng các con của ông Lung gồm: Trần Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Ngọc Chi,
Trần Thị Ngọc Hiếu và Trần Thị Bích Trâm.
Ngày 01-11-2002, bà Hiền cùng các con của ông Lung lập giấy uỷ quyền cho bà
Lệ giải quyết tranh chấp nhà đất nói trên với ông Thọ. Ngày 22-11-2000, bà Lệ khởi
kiện ông Thọ tại Toà án yêu cầu ông Thọ tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà với
ông Lung, yêu cầu ông Thọ phải trả số tiền còn lại và lãi suất chậm trả trên số tiền đó.
Ông Thọ cho rằng nhà đất của ông Lung phần lớn chưa được hợp pháp hoá quyền sở
hữu nên yêu cầu phía bà Lệ làm xong thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà đất, thì ông
Thọ mới trả nốt số tiền còn lại; nếu không thì xin huỷ hợp đồng mua bán nhà và yêu
cầu phía bà Lệ trả lại ông số tiền 1,4 tỷ đồng cùng với lãi suất và tiền sửa chữa nhà hết
100 triệu đồng. Nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng thì số tiền còn lại là 1 tỷ đồng ông sẽ
trả khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, việc hợp đồng phải kéo dài là do ông không
đủ tiền trả cho ông Lung, hai bên có ra Ngân hàng vay tiền theo thoả thuận nhưng
quyền sử dụng.
3.5 Nhận xét của nhóm về cách giải quyết của tòa án
Mặc dù bà Hiền là vợ ông Lung không ký hợp đồng mua bán nhà với ông Thọ
nhưng bà Hiền không những không có ý kiến phản đối mà còn yêu cầu ông Thọ thực
hiện hợp đồng đã ký với ông Lung nên không có căn cứ cho rằng ông Lung bán nhà
đất mà không được sự đồng ý của bà Hiền như lập luận trong kháng nghị của Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao.
Cũng tại hợp đồng mua bán nhà ở lập tháng 12-1999 quy định ông Thọ phải thanh
toán cho ông Lung 1,4 tỷ đồng vào ngày 24-09-1999, số tiền còn lại thanh toán đợt 2
là 1 tỷ đồng vào ngày 24-12-1999. Tuy ông Thọ khai đã trả cho ông Lung 1,4 tỷ đồng,
nhưng thực tế, ông Thọ mới chỉ giao cho ông Lung được 1,08 tỷ đồng ,phần còn lại,
ông Thọ không thanh toán. Như vậy, ông Thọ là người vi phạm thoả thuận về điều
khoản thanh toán. Như vậy, bản thân ông Thọ là người có lỗi không thanh toán theo
thoả thuận và hợp đồng mua bán nhà giữa ông Lung với ông Thọ bị vô hiệu về mặt
hình thức. Nay bà Lệ đại diện cho các thừa kế của ông Lung yêu cầu huỷ hợp đồng
mua bán nhà giữa ông Lung với ông Thọ. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 151/DSST
ngày 24-01-2002 của TAND TP.Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 119/DSPT
ngày 30-05-2002 của Toà Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã áp dụng
Điều 146 BLDS để xử hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông Lung với ông Thọ là có
căn cứ. Nhóm em đồng ý với phán quyết trên.
III. Nhận xét về những quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán nhà ở và phương
hướng hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng mua bán nhà ở
1. Nhận xét và đưa ra một số bất cập trong quy định của pháp luật về hợp đồng mua
bán nhà ở
Cùng với sự phát triển nhanh chóng, năng động của nền kinh tế thị trường thì hợp
đồng mua bán nhà ở là một trong những loại hợp đồng diễn ra ngày càng phổ biến.
Vậy nên, sẽ khó tránh khỏi những tranh chấp với mức độ phức tạp khác nhau xảy ra.
Điều quan trọng mà chúng ta quan tâm trước mắt hoàn thiện dần về các quy định của
BLDS 1995 để cho phép giao dịch cả đối với những tài sản hình thành trong tương lai.
Khi trong hợp đồng mua bán nhà ở mà các bên thỏa thuận đối tượng là nhà ở hình
thành trong tương lai thì có được xem xét để công chứng hay không? Đây là vấn đề
cần có hướng dẫn thực hiện thống nhất.
* Chủ thể của hợp đồng mua bán nhà ở:
Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05-11-2001 của thủ tướng chính phủ về việc
người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam. Theo đó người Việt
Nam định cư ở nước ngoài thuộc một trong những đối tượng thì được mua nhà để ở
gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại VN:
a) Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam;
b) Người có công đóng góp với đất nước;
c) Nhà văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam;
d) Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam.
Luật quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở gắn
liền với quyền sử dụng đất, có thể được hiểu là họ chỉ được mua nhà ở chứ không
được mua đất. Như vậy đối với đất dự án, Việt kiều có được mua rồi sau đó tự xây
nhà? Vấn đề này vẫn phải chờ. Chúng tôi cho rằng, pháp luật cần quy định cho những
đôi tượng này được sang nhượng quyền sử dụng đất để họ có thể sở hữu một căn nhà
vừa ý.
Mới đây, Quốc hội vừa ban hành Nghị Quyết (NQ) số 19/2008/NQ-QH12 có
hiệu lực tư ngày 1/1/2009 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở
hữu nhà ở tại Việt Nam, nghị quyết này có hiệu lực trong vòng 5 năm.
Theo chúng tôi nghị định trên còn quá nhiều điểm khắt khe với các đối tượng này,
như họ chỉ được sở hữu nhà trong thời hạn là 50 năm (khoản 1 Điều 4 nghị định) tức
là hết thời hạn sử dụng đó chủ sở hữu căn hộ phải bán hoặc tặng cho người khác và
chỉ cho phép họ mua căn hộ chung cư trong các dự án nhà ở thương mại(khoản 1 Điều
5 nghị định). Phải chăng đây chính là lý do khiến cho hiện nay vẫn còn khá ít những
người nứớc ngoài mua nhà ở Việt Nam trong khi pháp luật đã “thông thoáng” hơn
Về nguyên tắc áp dụng quy định hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu
theo BLDS 2005 nếu giao dịch đó vi phạm điều cấm pháp luật hoặc trái đạo đức xã
hội, dù tài sản đó đã được chuyển giao cho người thứ ba trong bất kỳ thời gian nào.
Những trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu khác thì giao dịch với người thứ ba
ngay tình vẫn có giá trị pháp lý (các bên giao dịch trả lại tiền cho nhau), và nên tạo
điều kiện thuận lợi cho người thứ ba ngay tình làm thủ tục đứng tên sở hữu nhà ở.
2. Phương hướng hoàn thiện:
Thứ nhất, chính phủ cần ban hành các nghị định hướng dẫn cụ thể thi hành các quy
định về hợp đồng mua bán nhà ở trong đó quy định thống nhất về cách hiểu và thi
hành đúng các quy định của BLDS về hợp đồng mua bán nhà ở, quy định thống nhất
về trình tự thủ tục tiến hành kí kết, thực hiện các giao dịch mua bán nhà ở. Nhà nước
phải giám sát chặt chẽ đối với giao dịch mua bán nhà ở
Thứ hai, nhà nước và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành việc tuyên
truyền pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở mọi cấp độ. Phổ
biến pháp luật nhà ở và hợp đồng mua bán nhà ở bằng chính hoạt động của các cơ
quan chức năng chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và các cơ quan hữu
quan khác
Thứ ba là cải cách cơ chế hành chính trong việc quản lý nhà ở và hoạt động mua bán
nhà ở. Thống nhất việc quản lý nhà ở, đất ở vào một đầu mối tạo điều kiện thuận lợi
cho việc đăng ký quyền sở hữu nhà ở để chủ sở hữu khi xác lập hợp đồng giao dịch
mua bán nhà ở không gặp khó khăn, cũng như không trốn tránh sự giám sát của cơ
quan nhà nước
C. KẾT LUẬN
Qua ba vụ việc trên ta thấy còn rất nhiều vấn đề đặt ra xung quanh hợp đồng mua bán
nhà ở. Để đáp ứng được sự phát triển của đất nước cũng như thỏa mãn nhu cầu của
người dân thì chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện các quy định của pháp
luật về hợp đồng mua bán nhà ở nói riêng và các hợp đồng dân sự khác nói chung.
Đồng thời cần nâng cao ý thức của người dân, trình độ hiểu biết pháp luật để dễ dàng