Ba vụ việc có tranh chấp về hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên vay - Pdf 29

I. Lý luận chung về hợp đồng vay tài sản:
II. Ba vụ việc có tranh chấp về hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ của bên vay:
1. Vụ việc thứ nhất:
1.1. Tóm tắt vụ việc:
Nguyên đơn là bà Trần Thị Ngọ sinh năm 1953, trú tại số 39 Tôn Đức
Thắng quận Lê Chân thành phố Hải Phòng.
Bị đơn là bà Lưu Thị Mến sinh năm 1950, trú tại số 21/27 Vạn Mỹ quận
Ngô Quyền thành phố Hải Phòng.
Tháng 9 năm 1995, bà Đỗ Thúy Mai có hỏi vay tiền bà Lưu Thị Mến. Bà
Mến không có tiền nên đã đồng ý cho bà Mai mượn hồ sơ nhà đất của mình để bà
Mai đi vay người khác. Ngày 28 tháng 9 năm 1995, bà Đặng Thị Tính(là người
quen của bà Mến và bà Ngọ) mời bà Ngọ đến nhà bà Tính để bà Mến và bà Mai
gặp thỏa thuận vay tiền. Tại đó,bà Mai đã viết giấy biên nhận vay tiền với nội
dung: “ Tôi là Lưu Thị Mến, có cầm giấy tờ nhà để thế chấp vay tiền của bà Ngọ,
số tiền là 40 triệu đồng, hạn 2 tháng sau sẽ trả cả gốc lẫn lãi” . Có một số giấy tờ
kèm theo là CMND mang tên Lưu Thị Mến; quyết định giao đất và giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của bà Mến; thong báo về cải tạo,sửa chữa và xây dựng
nhà ở. Sau khi viết xong, bà Mai đọc cho mọi người cùng nghe, bà Mến xác nhận
có đọc lại và ghi tên “ Lưu Thị Mến” dưới chỗ người vay tiền. Người làm chứng
là Đỗ Thúy Mai, Vũ Thuận và Lê Thị Hiền. Chiều ngày 28 tháng 9 năm 1995, bà
Mai cùng bà Tính đến nhà bà Ngọ để giao giấy tờ nhà và nhận 40 triệu mà không
có ủy quyền của bà Mến. Ngày 29 tháng 10 năm 1995 bà Tính đưa cho bà Ngọ 2
triệu nói là bà Mến trả bà Ngọ tiền lãi.
Hết hạn cam kết, bà Ngọ đến đòi tiền thì bà Mến cho rằng bà Mến không
vay tiền của bà Ngọ mà là bà Mai vay. Bà Mai đã bỏ trốn.
Ngày 31 tháng 11 năm 1996, bà Ngọ khởi kiện yêu cầu bà Mến phải trả 40
triệu cùng lãi suất theo quy định.
Theo bà Mến thì ban đầu bà không đồng ý với nội dung giấy bên nhận đã
ghi, nhưng bà Mai và bà Tính nói phải ghi như vậy người ta mới cho vay tiền vì
giấy tờ đứng tên bà. Do không đồng ý với nội dung của biên nhận nên bà đã

đó, bà Mai đã lạm dụng tín nhiệm của bà Mến để chiếm đoạt tài sản.
1.4. Cách giải quyết vụ việc của nhóm:
Qua những tình tiết đã phân tích trên, nhóm chúng tôi xin đề xuất cách giải
quyết như sau: thứ nhất, vụ án trên có dấu hiệu lừa đảo, nên cần phải đuợc giải
quyết bằng hình sự mới đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương
sự. Cụ thể là bà Ngọ sẽ được trả lại số tiền đã cho vay, còn bà Mến cũng được trả
lại giấy tờ nhà đất mà không bên nào phải chịu thiệt. Vì suy cho cùng thì cả bà
Ngọ và bà Mến đều là người bị hại trong trường hợp này. Còn bà Mai là người
lạm dụng tín nhiệm và lừa đảo chiếm đoạt tai sản phải là người chịu trách nhiệm
trực tiếp về số tiền đã mượn của bà Ngọ. Giấy tờ nhà đã đem thế chấp thì bà Ngọ
phải hoàn trả cho bà Mến.
2. Vụ việc thứ 2
2.1. Tóm tắt vụ việc
Nguyên đơn: Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (gọi tắt
là bên A). Trụ sở: số 17 Bến Chương Dương, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại sản xuất Lam Giang (gọi
tắt là bên B). Trụ sở: số 171 Trần Hưng Đạo, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 23-11-1999 Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long có
ký hợp đồng tín dụng số 101.01.99- HĐTD cho Công ty trách nhiệm hữu hạn
thương mại sản xuất Lam Giang vay với số tiền vay là 800.000.000đ.
- Thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 24-11-1999 đến ngày 24-05-2000 gia
hạn đến 24-11-2000.
- Lãi suất cho vay là 0,85%/tháng, lãi suất quá hạn 125%/tháng. Lãi phạt
chậm trả là 5% tính trên số lãi chậm trả. Thời hạn hợp đồng (điểm 2 Điều 12 Hợp
đồng tín dụng 101.01.99) có hiệu lực từ ngày ký tới ngày bên B hoàn trả xong cả
gốc và lãi cho bên A như thoả thuận.
- Tài sản đảm bảo cho khoản nợ vay nói trên là căn nhà số A8 (số mới 18)
đường Sư Vạn Hạnh nối dài, phường 12, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh có
công chứng số 78898 ngày 23- 11-1999 của Phòng công chứng Nhà nước số 2
thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Đắc Cường đứng ra bảo lãnh (hành động

09-2001 là 103.919.900đ.
Bên B phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng Nhà
nước quy định trên số nợ gốc cho đến khi thanh toán xong nợ.
– Tuyên bố hợp đồng bảo lãnh vay vốn số 0041.99/HĐ-BL ký ngày 23-
11- 1999 đã được Phòng công chứng Nhà nước số 2 thành phố Hồ Chí Minh
chứng nhận số 78898 ngày 23- 11- 1999 giữa bên A, ông Nguyễn Đắc Cường và
bà Hứa Thị Phấn là vô hiệu.
– Không phát mại căn nhà số A8 (số mới 18) đường Sư Vạn Hạnh nối dài,
phường 12, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh của bà Trần Thị Thanh Mỹ.
– Bên A có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị Thanh Mỹ toàn bộ giấy tờ
nhà số A8 (số mới 18) đường Sư Vạn Hạnh nối dài, phường 12, quận 10, thành
phố Hồ Chí Minh hiện đang quản lý theo hợp đồng bảo lãnh.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 02 tháng 07 năm 2003 bên A có đơn khiếu
nại giám đốc thẩm, nội dung đề nghị công nhận hợp đồng bảo lãnh vay vốn số
0041.99/HĐ-BL ngày 23-11-1999 có hiệu lực pháp luật; đề nghị Toà án đồng ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status