Tìm hiểu 3 vụ việc tranh chấp về hợp đồng vay tài sản - Pdf 34

Lời nói đầu
Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày
của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã
hội của Nhà Nước , nảy sinh từ các nhu cầu sinh hoạt và nhu cầu sản xuất cũng
như các nhu cầu khác trong cuộc sống hàng ngày . Những nhu cầu ngày càng
tăng đó của con người đòi hỏi phải có những phương tiện pháp lý mới nhằm
điều chỉnh và ổn định xã hội .
Chính vì lý do đó, Sự ra đời của những quy phạm pháp luật như một
phương tiện pháp lý điều chỉnh các quy định trong hợp đồng vay tài sản là điều
tất yếu. Trong cuộc sống hàng ngày luôn tồn tại rất nhiều khó khăn tạm thời về
kinh tế, đặc biệt đối với những gia đình túng thiếu cần vốn để sản xuất, kinh
doanh. Bởi vậy việc vay mượn tiền, vàng của người khác một nhu cầu cấp thiết,
một đòi hỏi của thực tiễn khách quan, cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật .
Trải qua hàng ngàn năm phát triển, Hợp đồng vay tài sản ngày nay đã trở thành
một quan hệ tương đối phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Nó có tác dụng
giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh tế trước mắt; giúp các doanh
nghiệp khắc phục khó khăn khi thiếu vốn để sản xuất và lưu thông hàng hoá,
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh
nghiệp. Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, trong
sản xuất, kinh doanh.
Nhận thức được tầm quan trọng của “ hợp đồng vay tài sản “ đối với sự
phát triển và công bằng của xã hội , em xin chọn câu hỏi : “Tìm hiểu 3 vụ việc
tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” làm đề tài nghiên cứu trong bài tập nhóm
tháng 1 .
Bài làm còn nhiều thiếu sót , mong thầy cô nhẹ nhàng chỉ bảo.
1|Page


Nội dung
A. Cơ sở lý luận

đối với tài sản vay. Khi hết hạn của hợp đồng vay tài sản, bên vay có nghĩa vụ
trả cho bên kia một tài sản khác cùng loại với tài sản đã vay hoặc số tiền đã vay.
b. Kỳ hạn
Hợp đồng vay tài sản có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định, không
xác định). Nếu hợp đồng vay tài sản không thoả thuận về kỳ hạn, thì hợp đồng
vay tài sản được coi là không có kỳ hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay
phải thực hiện hợp đồng bất kì thời điểm nào. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho
bên vay chuẩn bị tiền hoặc tài sản khi trả, bên cho vay phải báo cho bên vay
một thời gian hợp lý để thực hiện hợp đồng. Hết thời hạn đó, bên vay buộc phải
thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 477 BLDS). Nếu hợp đồng không có kì hạn,
thì bên vay có thể thực hiện hợp đồng vào bất cứ thời gian nào, bên cho vay
không được từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Xác định
thời điểm chấm dứt hợp đồng vay có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu của hợp đồng .
Trường hợp hết hạn hợp đồng mà bên vay không trả nợ được, thì phải
chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Nếu là vay có lãi, thì bên vay
còn phải trả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà
nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Nếu vay không
có lãi thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do
Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả
nợ, nếu có thỏa thuận (khoản 4 Điều 474).
c. Hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng vay tài sản có thể bằng miệng hoặc bằng văn
bản. Hình thức miệng thường được áp dụng trong những trường hợp như số
lượng tài sản cho vay không lớn hoặc giữa các bên có mối quan hệ thân quen.
3|Page


Trường hợp cho vay bằng miệng, nếu xảy ra tranh chấp hợp đồng, bên cho vay
phải chứng minh được là mình đã cho vay một số tiền hoặc một số tài sản nhất

có quyền yêu cầu bên vay phải trả cho mình một số tiền, tài sản tương ứng với
tiền, tài sản đã cho vay. Ngoài ra nếu các bên có thoả thuận về lãi suất, bên cho
vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi như thoả thuận. Nếu hợp đồng cho vay có áp
dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay không thực hiện
đúng thời hạn, thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ như thoả thuận hoặc yêu cầu bán đấu gía để thực hiện nghĩa vụ. Bên
cho vay có nghĩa vụ giao tài sản đầy đủ, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại
như thoả thuận cho bên vay. Nếu bên cho vay có ý lừa dối bên vay chuyển giao
tài sản không bảo đảm chất lượng mà gây thiệt hai cho bên vay, thì phải bồi
thường.
b. Bên vay
Là người cần đến sự giúp đỡ về vật chất của bên cho vay. Do vậy, khi hết
hạn của hợp đồng phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình phát sinh
từ hợp đồng đã kí kết. Phải trả đủ tiền hoăc tài sản đã vay và tiền lãi nếu có thoả
thuận hoặc pháp luật có quy định. Nếu đối tượng hợp đồng là tài sản, thì phải trả
bằng tài sản cùng loại. Nếu hợp đồng cho vay không kì hạn, khi bên cho vay
yêu cầu trả nợ, thì phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thoả thuận. Bên vay
cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào. Thời điểm này được coi là
thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay không kì hạn. Trường hợp các bên có
thoả thuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản
của bên vay có đúng mục đích như thoả thuận hay không. Nếu sử dụng tài sản
không đúng mục đích đã thoả thuận, bên cho vay có quyền hủy hợp đồng (Điều
475 BLDS).
Nếu hợp đồng có kì hạn mà bên vay trả nợ trước thời hạn thì phải trả toàn
bộ nợ gốc và lãi của cả thời hạn vay trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Bởi vì khi cho vay, bên cho vay đã xác định trong thời gian cho vay đó không
sử dụng tài sản, tiền vào mục đích khác, do vậy khi trả lại tài sản thì bên cho
5|Page




Nguyên đơn: ông Ngô Thế Cẩm

sinh năm1952

Trú tại: Khu tập thể Z117, xã Đông Xuân, Sóc Sơn, Hà Nội.
Bị đơn : ông Ngô Văn Toản

sinh năm 1952 (xin xử vắng mặt).

Trú tại: Khu tập thể Z117,xã Đông Xuân, Sóc Sơn, Hà Nội.
1.2.Nội dung vụ việc :
Ông Ngô Thế Cẩm và Ngô Văn Toản có mối quan hệ bạn bè và ở cùng
khu tập thể Z117, xã Đông Xuân, Sóc Sơn, Hà Nội, thường xuyên chơi với nhau
nên ngày 21/9/2005 ông Toản có hỏi vay ông số tiền là 25.000.000đ với mục
đích để mua xe máy. Vì nể bạn nên ông đã dùng số tiền được bồi thường do vợ
ông bị tai nạn giao thông chết để cho ông Toàn vay với số tiền là 25.000.000,
ông nể bạn nên không tính lãi nhưng ông Toàn vẫn tự viết giấy biên nhận và trả
lãi 1% tháng để nhằm mục đích chống trượt giá, hai bên thoã thuận với nhau là
đến năm 2008 thì thanh toán. Quá trình thực hiện cho đến tháng 4/2008 ông
Toản đều trả lãi đầy đủ, tháng 8/2008 sau khi Toản đi viện điều trị tai biến mạch
máu não thì bà Tịch là vợ ông có sang trả lãi của tháng 5, 6, 7 và thôi không trả
lãi nữa. Ông đã sang đòi nhưng ông Toản không trả lãi và không nhận vay.
Trong quá trình vay, tháng 7/2007 ông Toản đã trả ông được 5.000.000đ,
hiện nay vẫn còn nợ ông 20.000.000 triệu đồng. nay ông yêu cầu ông Toản phải
trả ông 20.000.000đ tiền gốc và lãi vay theo thoã thuận ban đầu là 1%/ tháng
với số tiền gốc hiện chưa trả.
Ông Ngô Văn Toản là bị đơn khai tại toà án như sau: Ông và ông Cẩm
hoàn toàn không có quan hệ vay nợ gì, mặc dù năm 2008 ông có tai biến mạch
máu não nhưng đến nay trí não đã hoạt động bình thường, ông không cần ai

Từ những căn cứ và giám định pháp lý nói trên của tổng cục cảnh sát, có
thể khẳng định ông Ngô Văn Toản đã vay của ông Ngô Văn cẩm 25.000.000đ
lãi suất 1%/tháng hợp đồng vay nợ không có thời hạn. Phía ông Cẩm xác nhận
ông Toản đã trả 5.000.000đ hiện còn 20.000.000đ tiền gốc.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã căn cứ vào những điều khoản cụ thể
để đưa ra phán quyết. Buộc ông Ngô Văn Toản phải trả cho ông Ngô Thế Toản
20.000.000đ tiền gốc và tiền lãi theo thoã thuận. Về lãi suất 1% hai bên thoã
8|Page


thuận không vượt quá 150% của lãi suất do ngân hàng Nhà nước công bố đối
với loại vay tương ứng nên được chấp nhận. Về lãi suất phía ông Cẩm yêu cầu
ông Toản trả lãi suất kể từ tháng 8/2008 đến tháng 12/2009( đến thời điểm xét
xử là 16 tháng *20.000.000*1%x16 = 3.200.000đ và 500.000đ chi phí giám
định), tổng cộng số tiền ông Toản phải trả cho ông Cẩm là 23.700.000đ.
Như vậy, qua việc phân tích như trên ta có thể khẳng định, căn cứ cũng
như quyết định của Toà án nhân dân Sóc Sơn trong việc xét xử vụ án này là
hoàn toàn hợp lý và đúng đắn.
2. Vụ việc thứ 2
Ngày 8/2/2010, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành đưa ra xét xử
công khai vụ án thụ lý số 24/2010/DS-ST về việc tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.
2.1. Chủ thể :
- Bên nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Bảo Trâm, sinh năm 1955. Hộ khẩu thường trú:
số 22, tổ 20 Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm – Hà Nội. Hiện trú tại: 37 ngõ 296/ 29
Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai – Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của chị Trâm là anh Nguyễn Nghiêm Dân, sinh năm
1976, trú tại: số 37, ngõ 296/ 29 Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai – Hà Nội.
- Bị đơn: chị Trần Thị Hằng, sinh năm 1954. Trú tại: số 4B, ngõ 322, đường
Bạch Đằng, quận Hoàn Kiếm – Hà Nội.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Bảo Trâm về việc đòi số tiền
còn thiếu theo bản cam kết ngày 01/01/2008 đối với chị Trần Thị Hằng. Buộc
chị Trần Thị Hằng phải trả cho chị Đỗ Thị Bảo Trâm 54.800.000đ theo bản cam
kết ngày 01/01/2008 với hình thức mỗi tháng là 600.000đ cho đến khi hết số
tiền nêu trên.
Chị Hằng phải chịu 2.700.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại chị Trâm 2.500.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 003889 ngày
22/06/2009 tại Thi hành án dân sự tại quận Hoàn kiếm
Bản án còn quyết định vể quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi án có hiệu lực pháp luật có đơn xin thi hành án của người được thi hành
án thì người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nếu không
10 | P a g e


thực hiện thì phải chịu khoản tiền lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy
định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2.4. Nhận xét của nhóm :
Cách giải quyết của tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là tương đối chính xác
bởi lẽ :
Tuy chị Trần Thị Hằng không thừa nhận nợ chị Đỗ Thị Bảo Trâm số tiền
54.800.000đ; nhưng tại bản cam kết ngày 01/01/2008 (BL 12) của chị Trần Thị
Hằng có nội dung: “ Tôi có vay của chị Trâm ở số 3, ngõ 533, Bạch Đằng –
Hoàn Kiếm – Hà Nội số tiền là 56.000.000đ”. Tại bản tự khai ngày 30/06/2009
(BL 22) chị Hằng thừa nhận chữ viết và chữ ký tại bản cam kết nêu trên là do
chị viết và kí ra. Đồng thời tại tòa án cấp phúc thẩm chị Hằng đã thừa nhận nợ
chị Trâm số tiền nêu trên, chỉ yêu cầu được trả dần mỗi tháng 600.000đ. Như
vậy có đủ cơ sở để khẳng định chị Hằng có nợ chị Trâm số tiền nêu trên và đã
cam kết trả nợ. Do đó, tòa xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản đã
quyết định buộc chị Hằng trả cho chị Trâm 54.800.000đ là hoàn toàn hợp lý .
Tuy nhiên vẫn còn 1 số điểm bất hợp lý trong quyết định của tòa án nhân dân

với đất anh Thắng. Nhưng diện tích đất này chưa được chuyển quyền sở hữu
sang tên nên khi viết giấy vay tiền tuy có thỏa thuận tài sản thế chấp nhưng anh
Thắng không giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất đó của bà Thanh
giao cho. Số đất thừa kế được thoả thuận chia như sau: anh Thắng được 300m2,
bà Thanh được 580m2, còn lại là của ông Thành (anh ruột của bà Thanh).
Nguồn gốc diện tích đất này là của bố mẹ bà Thanh để lại cùng nhà ở do ông
Thành quản lý. Đây chỉ là thỏa thuận tự chia đất giữa ba người mà chưa có văn
bản chính thức. Bà Thanh đi Đắk Lắk từ năm 1993 đến năm 2003 mới quay trở
về địa phương và anh Thắng đã đòi tiền nhiều lần nhưng bà Thanh không có
tiền trả. Theo thoả thuận của hai bên, sau thời hạn 5 năm nếu bà Thanh không
trả được tiền vay thì phải trả cho anh Thắng bằng tài sản thế chấp để thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên bà Thanh vẫn không thực hiện được thoả thuận trên
là thế chấp tài sản còn lại của bà là diện tích đất được thừa kế. Nay anh Thắng
12 | P a g e


làm đơn kiện lên Toà án nhân dân huyện Đông Anh – Hà Nội yêu cầu bà Thanh
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh Thắng.
3.3.

Cách giải quyết của TAND huyện Đông Anh

Sau khi xem xét hồ sơ vụ án Toà án quyết định như sau:
Căn cứ vào các Điều 467, 468, 473, 475, 717, 720 BLDS Việt Nam.
Khoản 3 Điều 25, Điều 27, Điều 29 và Điều 245 BLTTDS.
Nghị định 70/CP ngày 12/06/1997 của Chính phủ về quy định án phí, lệ
phí.
∗ Quyết định:
a. Buộc bà Nguyễn Thị Thanh phải trả cho anh Nguyễn Văn Thắng
số tiền vay ban đầu là 9.000.000 đồng.

xác định rõ khoảng thời gian để bà Thanh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh
Thắng. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của hai bên mới được thực hiện một cách
thoả đáng theo quy định của pháp luật.

14 | P a g e


Danh mục tài liệu tham khảo

1 . Giáo trình luật dân sự Việt Nam , NXB đại học luật Hà Nội
2 . Bộ luật dân sự 2005
3 . Bộ luật tố tụng dân sự
4 . Bộ luật hình sự
5 . Luật đất đai
6 . Luật hôn nhân gia đình
7 . http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/05/566335/
8 . http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/02/23/4416-2/
9 . http://www.luattructuyen.net/

Mục lục
15 | P a g e


Lời nói đầu
Nội dung
A.Cơ sở lý luận
1. Khái niệm về hợp đồng cho vay tài sản
2. Đối tượng và kỳ hạn của hợp đồng vay tài sản
3. Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay tài sản
4. Quyền và nghĩa vụ của các bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status