Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam - Pdf 36

đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng
suất, chất lượng cao là yếu tố quyết định của đất nước. Do vậy cần
có những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các vấn đề có liên
quan trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động.
Bài viết của em xin trình bày vấn đề: “ Quan hệ lao động - đối
tượng

điều

chỉnh

của

luật

lao

động

Việt

Nam.”

NỘI DUNG
I. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam.
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ
xã hội cùng loại có cùng tính chất cơ bản giống nhau được các quy
phạm của ngành luật ấy điều chỉnh.
Căn cứ theo Điều 1, Bộ luật lao động có quy định: “ Bộ luật lao

nghiệp… Mỗi loại QHLĐ này lại có những đặc điểm, thuộc tính
riêng. Dù muốn luật lao động điều chỉnh cũng không thể điều
chỉnh tất cả các QHLĐ theo nghĩa rộng này được. Vì vậy, theo tinh
thần của Luật lao động, chúng ta nên hiểu khái niệm QHLĐ theo
nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, QHLĐ là quan hệ giữa người lao động và người sử
dụng lao động trong quá trình lao động. Trong quan hệ này một


bên tham gia với tư cách của NLĐ, có nghĩa vụ phải thực hiện theo
yêu cầu của bên kia và có quyền nhận thù lao từ công việc đó. Bên
thứ hai là NSDLĐ, có quyền sử dụng sức lao động của NLĐ và có
nghĩa vụ phải trả thù lao về việc sử dụng sức lao động của NLĐ.
NSDLĐ là cá nhân hoặc tổ chức có vốn đầu tư, trang thiết bị kĩ
thuật, nhu cầu sử dụng lao động NLĐ là cá nhân, không có vốn,
dung sức lao động của mình để nuôi sống bản thân và gia đình.
NLĐ có nhu cầu, mong muốn bán được sức lao động với giá cao, có
môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho NSDLĐ
một cách thuận lợi. Còn đối tác của NLĐ là NSDLĐ cũng” hướng
tới” sức lao động, tức là sử dụng sức lao động của NLĐ vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Như vậy, giữa NLĐ
và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động mà mỗi bên đều có
quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
2. Đặc điểm của quan hệ lao động.
a. Trong quan hệ lao động, người lao động luôn phụ thuộc vào
người sử dụng lao động.
Sự phụ thuộc này thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong mỗi
hình thái kinh tế - xã hội nhưng nó tồn tại trong tất cả các giai
đoạn phát triển.
Thứ nhất, sự phụ thuộc của NLĐ vào NSDLĐ về mặt pháp lí. NSDLĐ

a. Quan hệ làm công ăn lương giữa NLĐ và NSDLĐ
QHLĐ giữa người làm công ăn lương và NSDLĐ được xác lập trên
cơ sở hợp đồng lao động. Xét về bản chất đó là sự thỏa thuận giữa
các bên theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, quan hệ làm công ăn lương giữa NLĐ và NSDLĐ là đối
tượng điều chỉnh chủ yếu nhất của luật lao động, bờ vì xuất phát
từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của các bên tham
gia QHLĐ
b. Các quan hệ lao động khác.
Là quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ nhưng không xác lập trên hợp
đồng lao động mà xác lập bằng các hình thức khác như: biên chế,
bầu cử…. Những quan hệ này luật lao động chỉ điều chỉnh một
phần chứ không điều chỉnh toàn bộ.
KẾT LUẬN
Luật lao động có vai trò quan trọng trong việc thực hiện và bảo vệ
các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động. Việc xác
đinh đối tượng điều chỉnh chủ yếu của các quan hệ lao động làm
công ăn lương, luật lao động đã thúc đẩy sự phát triển quan hệ lao
động tiêu biểu và phổ biến của nền kinh tế thị trường theo xu
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status