1. KHÁI NIỆM ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ, NGHĨA
VỤ DÂN SỰ VÀ CĂN CỨ LÀM PHÁT SINH NGHĨA VỤ DÂN SỰ
1.1. Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự
Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự là các quan hệ tài sản và quan hệ
nhân thân phát sinh giữa các chủ thể của Luật Dân sự, nhằm đáp ứng những lợi
ích vật chất hoặc tinh thần cho chính chủ thể tham gia quan hệ đó cũng như các
chủ thể khác. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu đối
tượng điều chỉnh là quan hệ tài sản.
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác có liên quan
đến tài sản. Khái niệm tài sản được liệt kê tại Điều 163, BLDS 2005, theo đó:
“Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
1.2. Khái niệm nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ dân sự về tài sản
Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó một bên chủ thể phải
làm hoặc không được làm một hoặc một số công việc nhất định vì lợi ích của
chủ thể bên kia (gọi là bên có nghĩa vụ), bên được hưởng lợi ích có quyền yêu
cầu bên kia thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc nào đó vì quyền
lợi của mình (gọi là bên có quyền).
Nghĩa vụ về tài sản là nghĩa vụ dân sự có đối tượng là tài sản. Tùy theo
tính chất của từng loại tài sản cụ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mà các bên
thỏa thuận để xác định nội dung của quan hệ nghĩa vụ.
1.3. Các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự
Các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự bao gồm:
Hợp đồng dân sự tuân thủ các điều kiện mà pháp luật quy định đối với
một hợp đồng.
Hành vi pháp lý đơn phương với ý chí của một bên thể hiện trong đó
không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đồng thời nếu sự thể hiện ý chí đó có
kèm theo một số điều kiện nhất định thì chỉ khi nào những người khác thực hiện
đúng các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên.
Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật: Xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người khác. Nghĩa vụ này còn gọi là
1
2
3. CHỨNG MINH: “NGHĨA VỤ DÂN SỰ LÀ MỘT QUAN HỆ PHÁP
LUẬT” TỪ QUAN HỆ VỪA XÂY DỰNG
3.1. Khái niệm quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là dạng quan hệ xã hội đặc trưng bởi sự hiện diện và
tương tác về quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể, được pháp luật quy định
và được đảm bảo bằng các biện pháp nhà nước.
Cơ cấu của quan hệ pháp luật bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung của
quan hệ pháp luật. Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể.
3.2. Chứng minh “Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật”
Từ khái niệm về quan hệ pháp luật và từ tình huống nêu trên, ta có thể
chứng minh nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật vì nó có đầy đủ các yếu tố
của quan hệ pháp luật.
Chủ thể của quan hệ pháp luật nghĩa vụ trong tình huống là anh A và anh
B, cả hai đều có năng lực chủ thể. Các chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ
dân sự phát sinh từ quan hệ mua bán mà họ tham gia.
Nội dung của quan hệ pháp luật nghĩa vụ trong tình huống bao gồm tổng
hợp các quyền và nghĩa vụ của anh A và anh B trong quan hệ mua bán ôtô. Cụ
thể nội dung các quyền và nghĩa vụ của A và B đã được phân tích tại phần 2.
Khách thể của quan hệ pháp luật nghĩa vụ trong tình huống là những xử
sự của A và B mà thông qua đó, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thực
hiện. Khách thể đó là hành vi giao xe và giấy tờ của anh B và hành vi trả tiền
của anh A. Đối tượng của nghĩa vụ ở đây là chiếc ôtô Mercedes C100 cũ của
anh B và số tiền 1 tỷ của anh A.
4. KẾT LUẬN
Từ tình huống đã xây dựng, ta thấy rằng, nghĩa vụ dân sự có đủ ba yếu tố
của quan hệ pháp luật, bao gồm chủ thể (bên mang quyền và bên mang nghĩa
vụ), khách thể (sự xử sự của các bên chủ thể) và nội dung (quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể). Do đó, nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật.