BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
--------
PHẠM THỊ NHINH
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIỂN ĐẢO
QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 – THPT
Chuyên ngành: LL&PP dạy học Địa lí
Mã số:
60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Thị Hải Yến
Hà Nội, 2015
LỜI CẢM ƠN
Sự thành công của đề tài nhắc tôi lòng biết ơn sâu sắc đến đấng sinh thành
luôn tạo điều kiện để tôi vƣơn lên phía trƣớc, những thầy cô, đồng nghiệp và bạn
bè đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua.
Tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS. Ngô Thị Hải Yến,
ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn tôi thực hiện đề tài đồng thời cũng là ngƣời thƣờng
xuyên động viên, khích lệ tôi vƣợt qua khó khăn để hoàn thành công việc một
GIÁO DỤC BIỂN ĐẢO QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 – THPT.................... 12
1.1. Một số vấn đề về giáo dục biển đảo trong trƣờng phổ thông .................. 12
1.1.1. Sự cần thiết phải giáo dục biển đảo ...................................................... 12
1.1.2. Tính hợp lí của giáo dục biển đảo trong nhà trƣờng phổ thông ............... 13
1.1.3. Nội dung giáo dục biển đảo trong nhà trƣờng phổ thông ..................... 15
1.1.3.2. Vấn đề phát triển tổng hợp các ngành kinh tế biển............................ 20
1.1.3.3. Khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trƣờng biển đảo tại các vùng KT – XH
của nƣớc ta ...................................................................................................... 24
1.1.4. Phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học tích hợp giáo dục biển đảo ......29
1.2. Mục tiêu, nội dung chƣơng trình Địa lí lớp 12 – THPT .......................... 30
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................. 31
1.2.2. Về nội dung chƣơng trình Địa lí lớp 12 THPT ..................................... 32
1.3. Hiện trạng tổ chức dạy học tích hợp biển đảo trong môn Địa lí 12 – THPT. 33
1.4. Đặc điểm tâm sinh lí và phát triển nhận thức của học sinh THPT .......... 38
1.4.1. Vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý của HS lớp 12 .............. 38
1.4.2. Đặc điểm cơ thể..................................................................................... 38
1.4.3. Đặc điểm trí tuệ và học tập ................................................................... 38
Tiểu kết chương 1........................................................................................... 40
Chƣơng 2: KHẢ NĂNG VÀ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIỂN
ĐẢO QUA MÔN ĐỊA LÍ 12 – THPT.......................................................... 42
2.1. Nguyên tắc và yêu cầu của việc tích hợp giáo dục biển đảo trong chƣơng
trình Địa lí 12 – THPT .................................................................................... 42
2.2. Xác định các địa chỉ và chủ đề tích hợp giáo dục biển đảo trong chƣơng
trình Địa lí 12 – THPT .................................................................................... 45
2.2.1. Xác định địa chỉ tích hợp giáo dục biển đảo qua các bài học trong
chƣơng trình Địa lí 12 – THPT ....................................................................... 45
2.2.2. Xác định các chủ đề tích hợp biển đảo ................................................. 49
2.3. Các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học tích hợp giáo dục biển đảo
Viết đầy đủ
CNTT
Công nghệ thông tin
GV
Giáo viên
GD – ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GDPT
Giáo dục phổ thông
HS
Học sinh
KT – XH
Kinh tế, xã hội
SGK
Sách giáo khoa
báo Tuổi Trẻ và Đài Truyền hình TP.HCM phối hợp tổ chức ...... 74
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh kết quả bài kiểm tra kiến thức HS hai lớp Thực
nghiệm và Đối chứng ...................................................................... 88
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI đƣợc các nhà chiến lƣợc xem là “thế kỉ đại dƣơng” bởi cùng với
tốc độ tăng trƣởng kinh tế và dân số hiện nay, tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài
nguyên không tái tạo đƣợc trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỉ tới, biển có
thể mở lối thoát khỏi tình trạng bế tắc nguyên, nhiên liệu cho sự phát triển. Chính vì
thế mà ngày nay tất cả các quốc gia có biển (kể cả các quốc gia không có biển) cũng
đều chú ý tới việc nghiên cứu, khai thác nguồn lợi từ biển, đều vƣơn ra biển, xây
dựng chiến lƣợc biển trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc.
Việt Nam là một quốc gia biển, biển Đông là một biển lớn trên thế giới và giữ
vị trí quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng cũng nhƣ của thế
giới. Từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với mọi
hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam. Biển không chỉ chứa đựng
tiềm năng kinh tế to lớn, là cửa ngõ để chúng ta mở rộng quan hệ với quốc tế mà
biển còn đóng vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng, là địa bàn chiến lƣợc quan
trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, nhƣng sự hiểu biết của chúng ta về biển còn
rất hạn chế, đặc biệt là thanh thiếu niên. Để thế hệ trẻ hiểu đƣợc vấn đề biển, đảo
của nƣớc ta, không có cách nào tốt hơn là đƣa chƣơng trình biển, đảo vào giáo dục
ở các cấp học. Nhiệm vụ của chúng ta là phải trang bị kiến thức và giáo dục ý thức
bảo vệ biển đảo cho HS – những ngƣời chủ tƣơng lai của đất nƣớc, nhằm nâng cao
nhận thức, xây dựng ý thức và hành vi đúng đắn cho thế hệ trẻ ở các trƣờng học. Ở
nhiều nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta, việc giáo dục biển đảo cho HS ở các
trƣờng phổ thông đƣợc thực hiện theo phƣơng thức tích hợp vào các môn học, trong
đó có môn Địa lí.
Trong chƣơng trình THPT, môn Địa lí lớp 12 có nhiều khả năng tích hợp vì
giáo dục biển đảo trong môn Địa lí lớp 12 – THPT.
- Xác định địa chỉ và các biện pháp tổ chức dạy học tích hợp giáo dục biển
đảo trong môn Địa lí lớp 12 – THPT.
- Thiết kế giáo án và thực nghiệm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề
tài nghiên cứu.
- Đƣa ra kết luận và kiến nghị về việc tích hợp giáo dục biển đảo qua môn
Địa lí lớp 12 – THPT.
2
5. Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam giáp biển ở ba phía Đông, Đông Nam và Tây Nam và biển đóng vai
trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Biển Đông tạo điều
kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ của các vùng, miền của Việt Nam
có điều kiện thuận lợi quan hệ trực tiếp, giao thƣơng với thị trƣờng khu vực và quốc
tế, trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá. Theo tài liệu cho rằng: “Trong vùng
“biển bạc”, mỗi hòn đảo không chỉ nhƣ những thỏi “vàng xanh”, mà còn là một “cột
mốc chủ quyền” tự nhiên của quốc gia. Biển thiêng liêng là vậy, nên bảo vệ và phát
triển vì sự trƣờng tồn của biển, đảo quê hƣơng là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
Quân và toàn dân ta”
[3]
. Trong cuốn Biển và hải đảo Việt Nam đã khẳng định:
“Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh đối với các nƣớc có
biển nói riêng và của Thế giới nói chung”
[1]
thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng biển, đảo; bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.
Tài liệu cũng đƣa ra những cách thức tổ chức hoạt động ngoại khoá để giáo dục cho
HS ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong nhà trƣờng phổ thông mang
tính chiến lƣợc lâu dài.
Tài liệu tuyên truyền chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên biển Đông
[2]
đã
nhấn mạnh vị trí chiến lƣợc của biển, đảo, các văn bản pháp lí, tình hình biển, đảo
gần đây, đặc biệt là khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trƣờng Sa.
Tài liệu tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về biên giới, biển, đảo Việt Nam
[4]
nhằm không ngừng nâng cao nhận thức đúng đắn của GV và HS trong các trƣờng
THPT về tầm quan trọng của biển đảo và hoàn thiện nội dung giáo dục biển đảo để
hỗ trợ cho chƣơng trình môn học Lịch sử, Địa lí cấp THPT.
Đề tài mà Phan Minh Nhựt thực hiện có tên Giáo dục kiến thức biển - đảo cho
học sinh tiểu học qua môn Tự nhiên – Xã hội [50] gồm 3 chƣơng, dài gần 80 trang,
gồm tiểu luận và tranh, ảnh minh hoạ. Chƣơng một nói về những vấn đề chung về
tình hình biển đảo Việt Nam; chƣơng hai khái quát tình hình thực tế tranh chấp trên
biển Đông hiện nay; chƣơng ba là đƣa giáo dục kiến thức biển đảo vào chƣơng trình
cho học sinh tiểu học qua bộ môn Tự nhiên – Xã hội.
Gần đây nhất có cuốn Giáo dục chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia dùng
trong Nhà trường phổ thông
[36]
nhân tƣơng lai của đất nƣớc, hơn ai hết họ phải biết, phải hiểu về lịch sử của dân tộc
nói chung và lịch sử khẳng định chủ quyền biển đảo nói riêng để từ đó khơi dậy,
củng cố tình yêu Tổ quốc, nâng cao ý thức học tập, phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc,... Hay Giáo dục chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ Việt Nam
[46]
đã đề cập
đến sự cần thiết của giáo dục chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ Việt Nam, thực
trạng giáo dục chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ từ góc nhìn giáo dục phổ thông và
chủ quyền biển, đảo từ góc nhìn luật pháp quốc tế. Quyển sách không chỉ cung cấp
thông tin cho thế hệ trẻ mà còn góp phần tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu
nƣớc, nâng cao ý thức trách nhiệm bào vệ chủ quyền biển, đảo đất nƣớc.
5
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những nét tổng quan về biển
đảo, vai trò và tầm quan trọng của việc giáo dục biển đảo. Việc tích hợp giáo dục
biển đảo đã đƣợc xác định là một trong những nội dung cần thiết cần phải tích hợp
trong môn Địa lí. Tuy nhiên, vấn đề tích hợp đó còn ở mức liên hệ, mang tính khái
quát, chƣa có những biện pháp và hình thức tổ chức cụ thể trong chƣơng trình Địa lí
và đặc biệt là lớp 12 – THPT. Vì thế, theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT
ngày 5/5/2006 của Bộ trƣởng Bộ GD – ĐT, nội dung kiến thức về biển đảo và tài
nguyên biển đảo đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình và SGK cấp THPT. Nội dung này
đƣợc đề cập khá hệ thống trong một số bài học và môn học, trong đó có môn Địa lí.
Trong chƣơng trình SGK Địa lí từ tiểu học đến THCS và THPT, thì nội dung giáo
dục biển đảo đều đƣợc đề cập tƣơng đối chi tiết trong các cấp học với các nội dung
nhƣ biển đảo Việt Nam, thiên nhiên chịu ảnh hƣởng sâu sắc của biển, phát triển các
của Bộ GD – ĐT. Hiện nay, Bộ GD – ĐT đang dự thảo xây dựng Đề án “Đổi mới
chƣơng trình SGK GDPT sau năm 2015”. Các kết quả nghiên cứu về biên giới, hải
đảo và bảo vệ môi trƣờng biển, hải đảo sẽ đƣợc xem xét và vận dụng để biên soạn
chƣơng trình và SGK cho các cấp học trong thời gian tới, nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ tinh
thần yêu nƣớc, lòng tự hào dân tộc và quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nƣớc nói chung, chủ
quyền biển đảo Việt Nam nói riêng. Nhƣ vậy, rõ ràng ngành giáo dục đã bắt đầu có chuyển
biến tích cực nhằm giúp các em HS nâng cao ý thức về biển, đảo quê hƣơng.
Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học cũng nhƣ chỉ thị, nhiệm vụ
của Bộ GD – ĐT, tác giả nhận thấy cần phải nghiên cứu khả năng và biện pháp tổ chức
dạy học tích hợp vấn đề biển đảo nhƣ thế nào qua môn học Địa lí lớp 12 – THPT.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và một số điều kiện nên đề tài đƣợc giới hạn trong phạm vi sau:
- Thời gian: Từ tháng 8/2014 đến tháng 10/2015.
- Nội dung: Đề tài tập trung vào khả năng và biện pháp tổ chức dạy học
tích hợp giáo dục biển đảo qua môn Địa lí 12 – THPT và tổ chức thực nghiệm
qua bài 2 và bài 8 (Địa lí 12 – THPT).
- Đối tƣợng khảo sát: GV và HS lớp 12 – THPT trên địa bàn Hà Nội.
- Đối tƣợng thực nghiệm: Đề tài tiến hành thực nghiệm HS lớp 12 – THPT ở
một số trƣờng nhƣ:
+ Trƣờng THPT Quang Trung – Đống Đa – Hà Nội.
+ Trƣờng THPT Lý Thái Tổ – Hà Nội.
7
7. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học Địa lí ở các trƣờng THPT, nếu vận dụng dạy học
tích hợp giáo dục biển đảo qua môn Địa lí 12 – THPT thì sẽ góp phần nâng cao chất
lƣợng dạy học bộ môn, giúp cho HS nhận thức đầy đủ các vấn đề về biển đảo, hình
thành các kĩ năng cần thiết, có ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo và tăng cƣờng tình
tích hợp, xây dựng các bài toán nhận thức, các biện pháp cụ thể để hình thành và
phát triển các năng lực cho HS.
* Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm tƣơng đối mới, ra đời trên cơ sở đúc rút
kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, phản ánh xu thế phát triển của
thời đại và định hƣớng cho tƣơng lai của nhân loại. Đây vừa là quan điểm vừa là
mục tiêu nghiên cứu của Địa lí.
Vận dụng quan điểm này để giáo dục HS trong việc khai thác, sử dung hợp lí
các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên từ biển, đảo; có các định hƣớng
hành động bảo vệ biển đảo,…
* Quan điểm dạy học tích hợp
Dạy học các môn học cần dạy cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến
thức vào các tình huống khác nhau. Tức là, dạy cho HS biết cách sử dụng kiến thức
và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống cụ thể, có ý nghĩa nhằm mục
đích hình thành, phát triển năng lực. Đồng thời, chú ý xác lập mối liên hệ giữa các
kiến thức, kĩ năng khác nhau của môn học này với các môn học hay các phân môn
khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và
năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích hợp. Do vậy, nói đến dạy học
tích hợp với việc hình thành, phát triển năng lực của ngƣời học đồng nghĩa với việc
ngƣời học là trung tâm của hoạt động học.
Vận dụng quan điểm này để tích hợp những nội dung giáo dục biển đảo cho
HS, từ đó đƣa ra những khả năng và biện pháp tích hợp cho hiêụ quả, giúp HS có
cái nhìn tổng quan về biển đảo, phát huy năng lực của HS, hình thành thái độ tình
yêu biển đảo và trách nhiệm phải bảo vệ chủ quyền biển đảo.
8.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Một công trình nghiên cứu khoa cần phải đƣợc thực hiện theo một qui trình rõ
9
Đề tài tiến hành thực nghiệm giảng dạy một số nội dung có thể tích hợp giáo
dục biển đảo để thu nhận thông tin nhằm kiểm tra tính khả thi của việc tổ chức dạy
học tích hợp biển đảo cho HS lớp 12 – THPT trong dạy học Địa lí 12. Từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm để tổ chức dạy học tích hợp một cách hiệu quả nhất.
* Phương pháp thống kê toán học
Phƣơng pháp này để xử lí khảo sát kết quả thực nghiệm sƣ phạm. Trong quá
trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số tham số để đo lƣờng nhƣ: giá trị trung
bình, phƣơng sai, độ lệch chuẩn,… để xử lí kết quả thực nghiệm.
.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục biển đảo qua
môn Địa lí lớp 12 – THPT
Chương 2: Khả năng và biện pháp tích hợp giáo dục biển đảo qua môn
Địa lí 12 – THPT
Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm
11
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC
BIỂN ĐẢO QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 – THPT
1.1. Một số vấn đề về tích hợp giáo dục biển đảo trong trƣờng phổ thông
1.2. Sự cần thiết phải tích hợp giáo dục biển đảo trong trường phổ thông
đƣa chƣơng trình biển, đảo vào giáo dục ở các cấp học. Mới đây, Bộ GD – ĐT có
nhiều chƣơng trình tập huấn về nội dung biển, đảo Việt Nam đối với các GV dạy
môn Địa lí ở bậc THPT trên khắp cả nƣớc và các đề án phục vụ cho nhiệm vụ này.
Đặc biệt nhất là kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2011 – 2012, vấn đề
biển, đảo đã đƣợc đƣa vào nội dung thi. Nhƣ vậy, ngành giáo dục đã bắt đầu có
chuyển biến tích cực nhằm giúp cho HS những hiểu biết về tiềm năng, mức độ khai
thác và sự cần thiết phải khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng
biển, đảo; bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc. Thực tế ấy, đòi hỏi việc giáo dục
biển đảo cho HS là điều cần thiết và có ý nghĩa chiến lƣợc trong giai đoạn hiện nay và
phải đƣa chƣơng trình biển đảo vào giáo dục ở các cấp học. Ở bậc Đại học và cao hơn,
việc giáo dục này càng trở nên quan trọng và có tính chuyên sâu, chuyên ngành hơn,
nhất là đối với sinh viên sƣ phạm, bởi sau này họ sẽ trở thành các thầy, cô giáo truyền
dạy kiến thức cho nhiều thế hệ HS khác.
1.1.2. Tính hợp lí của giáo dục biển đảo trong nhà trường phổ thông
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Ngƣời về thăm Bộ đội Hải
quân (năm 1961): “Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Biển ta dài, tƣơi đẹp, ta phải
biết giữ gìn lấy nó”. Vì thế, các trƣờng phổ thông là lực lƣợng hùng hậu về công tác
tuyên truyền, vận động cộng đồng nâng cao ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trƣờng,
ứng phó với biến đối khí hậu, bảo vệ tài nguyên biển, đảo và chủ quyền vùng biển
thiêng liêng của Tổ quốc góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nƣớc. Trƣớc hết,
về đội ngũ GV ở các trƣờng phổ thông là những ngƣời đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức
lẫn công cụ để những kiến thức về biển, đảo không chỉ nằm trên tấm bản đồ, tƣ liệu xơ
cứng mà phải thấm sâu vào nhận thức, chảy trong huyết quản và trở thành câu chuyện
tâm tình giữa thầy và trò. Đó không chỉ là vấn đề kĩ thuật mà còn là vấn đề nghệ thuật.
Ở nhà trƣờng phổ thông đội ngũ GV vừa nhiệt tình, vừa có kĩ năng và có nghệ thuật
13
truyền đạt. Các thầy cô có thể dùng nhiều hình thức nhƣ hình ảnh, tấm gƣơng, tham
cụ thể, cần bổ sung nội dung giáo dục biển, đảo Việt Nam cho HS bằng những tiết
học chính khoá riêng biệt. Đối với nhà trƣờng, bên cạnh việc xen kẽ vào chƣơng
trình giáo dục ngoài giờ lên lớp, lồng ghép vào các tiết học và các hoạt động văn
hoá – văn nghệ trong nhà trƣờng rất cần hơn nữa những buổi tổ chức ngoại khoá về
biển, đảo của quê hƣơng.
1.1.3 Nội dung giáo dục biển đảo trong nhà trường phổ thông
Góp phần tăng cƣờng công tác giáo dục về tài nguyên và môi trƣờng biển, đảo
cho đội ngũ GV và HS trong ngành GD – ĐT giai đoạn 2011 – 2015, Bộ GD – ĐT đã
biên soạn Tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung về tài nguyên và môi trường biển, đảo
cho HS THPT [14]. Tài liệu này đƣa ra những nội dung giáo dục biển đảo thành các chủ
đề để nâng cao nhận thức cho GV và HS cấp THPT, đồng thời thông qua việc giáo dục
dần hình thành các kĩ năng sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng biển, đảo.
1.1.3.1. Biển Đông và vùng biển Việt Nam
Một là, khái quát về biển Đông:
* Vị trí và giới hạn của biển Đông
Với diện tích hơn 3477 nghìn km2, biển Đông là một biển lớn, đứng thứ ba
trong các biển của Thế giới. Chiều dài của biển Đông là khoảng 1900 hải lí (tữ vĩ
độ 30 N đến vĩ độ 260B, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 600 hải lí (từ kinh độ 1000 Đ
đến kinh độ1210 Đ). Vùng biển nƣớc ta tiếp giáp với vùng biển của 8 nƣớc: Trung
Quốc, Cam-pu-chia, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Xing-ga-po, In-đô-nê-xi-a, Bru-nay,
Phi-lip-pin. Biển Đông là một biển nửa kín vì các đƣờng thông ra đại dƣơng đều có
các đảo và quần đảo bao bọc, thông với Thái Bình Dƣơng bằng nhiều eo biển.
* Một số đặc điểm tự nhiên của biển Đông
Biển Đông có địa hình phức tạp. Độ sâu trung bình là 1.140 m, nơi sâu nhất
đạt 5.559 m. Nhìn chung, biển Đông sâu ở phía Đông giáp Phi-lip-pin và ở vùng
trung tâm, nông ở phía Tây và phía Nam giáp Việt Nam và Ma-lai-xi-a. Thềm lục
địa của biển Đông khá bằng phẳng. Khí hậu biển Đông mang tính chất nhiệt đới ẩm
gió mùa, chịu sự chi phối của hai hệ thống khí áp: áp cao Xi-bia vào mùa đông và
châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xing-ga-po, Trung Quốc,…) có nền kinh tế phụ
thuộc sống còn vào giao thông trên biển Đông. Có tới 70 % khối lƣợng dầu mỏ
nhập khẩu và khoảng 45 % khối lƣợng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản đƣợc vận
chuyển qua tuyến đƣờng này. Hơn 90 % lƣợng vận tải thƣơng mại của Thế giới đƣợc
16
thực hiện bằng đƣờng biển và 45 % trong số đó đi qua biển Đông. Quanh biển Đông có
nhiều eo biển quan trọng đối với nhiều nƣớc (eo biển Ma-lắc-ca, eo biển Xun-đa,…).
Eo biển Ma-lắc-ca nằm giữa đảo Xumatra (In-đô-nê-xi-a) và bán đảo Mã Lai, nối
biển Đông với Ấn Độ Dƣơng. Dƣới góc độ kinh tế và chiến lƣợc, tầm quan trọng
của eo biển Ma-lắc-ca sánh ngang với kênh đào Xuy-ê hoặc kênh đào Pa-na-ma. Vì
vậy, đây đƣợc coi là điểm điều tiết giao thông đƣờng biển quan trọng nhất châu Á.
Theo số liệu năm 2006 – 2007 của Bộ Năng lƣợng Hoa Kì, gần 1/3 số dầu mỏ của thế
giới đƣợc vận chuyển bằng tàu thuyền qua eo biển này, biến nó trở thành 1 trong 2
tuyến đƣờng biển quan trọng nhất thế giới (sau tuyến đƣờng biển qua eo Hooc-mut).
- Tiềm năng kinh tế của biển Đông: Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài
nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các
nƣớc xung quanh, đặc biệt là tài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch,… Xung
quanh biển Đông có các nƣớc đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản quan trọng của thế
giới nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,... Biển Đông đƣợc coi là 1 trong 5 bồn
trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng
dầu khí cao. Theo đánh giá của Bộ Năng lƣợng Hoa Kì, lƣợng dự trữ dầu đã đƣợc
kiểm chứng ở biển Đông là 7 tỉ thùng. Còn theo đánh giá của Trung Quốc thì trữ
lƣợng dầu khí ở biển Đông khoảng 213 tỉ thùng, trong đó trữ lƣợng dầu tại quần đảo
Trƣờng Sa có thể lên tới 105 tỉ thùng. Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu
vực Hoàng Sa, Trƣờng Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng.
Hai là, vùng biển Việt Nam:
* Các vùng biển và thềm lục địa
ngoài lãnh hải, có độ sâu khoảng 200 m. Trên thềm lục địa, Nhà nƣớc ta có chủ
quyền hoàn toàn về mặt thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đặc
biệt là dầu khí ở vùng thềm lục địa phía Nam).
* Đảo và quần đảo trong vùng biển Việt Nam
Theo Công ƣớc về Luật biển năm 1982 thì đảo là một vùng đất tự nhiên có
nƣớc bao bọc, khi thuỷ triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nƣớc. Quần đảo là
một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nƣớc tiếp liền và các
thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể
thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị. Trên vùng biển nƣớc ta có hơn 4000 hòn
đảo lớn nhỏ. Sau đây là một số quần đảo và đảo trên vùng biển nƣớc ta.
18