Cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu có nên xếp vào biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không - Pdf 36

Cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu có nên xếp vào các biện pháp
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không
Giao dịch dân sự là hoạt động tất yếu và phổ biến trong đời sống kinh tế, xã hội.
Nhằm mục đích đảm bảo và khắc phục rủi ro, vi phạm, bội ước và tranh chấp,
không đảm bảo được quyền lợi của người có quyền khi người vi phạm nghĩa vụ
không có khả năng tài sản để thực hiện nghĩa vụ, giao dịch đảm bảo đã được quy
định trong mục 5: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của phần thứ III trong BLDS
2005. Đồng thời nó còn tạo cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ có được
thế chủ động trong thực tế hưởng quyền dân sự.
Các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không thể thiếu được trong các
hệ thống pháp luật. Pháp luật của chúng ta và các hệ thống pháp luật mà chúng tôi
biết chia các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thành hai phần là phần
các quy định chung và phần những quy định cụ thể đối với từng loại biện pháp bảo
đảm. Điều 318 BLDS là điều luật đầu tiên về Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự và có 02 khoản. Khoản 1 có nội dung là “các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự bao gồm: a) Cầm cố tài sản; b) Thế chấp tài sản; c) Đặt cọc; d) Ký
cược; đ) Ký quỹ; e) Bảo lãnh; g) Tín chấp” và khoản 2 có nội dung là “trong trường
hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về biện pháp bảo đảm thì
người có nghĩa vụ phải thực hiện.biện.pháp.bảo.đảm.đó”. Điều 318 nêu trên đưa ra
7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và trong phần sau BLDS đưa ra quy
định cho từng biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ, ký cược, bảo
lãnh, tín chấp). Thuật ngữ “bao gồm” này theo hướng giới hạn các biện pháp bảo
đảm và do đó các bên không thể thỏa thuận biện pháp bảo đảm khác. Trong thực tế,
có trường hợp các bên thỏa thuận biện pháp bảo đảm không được BLDS dự liệu
nhưng Tòa án đã không chấp nhận như cầm giữ giấy tờ không là tài sản (giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, đăng ký xe máy…) hay chuyển quyền sở hữu
tài sản nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay.


Câu hỏi đặt ra là ngoài 07 biện pháp được quy định trong phần biện pháp bảo đảm
của BLDS, các bên có thể thỏa thuận tạo ra một biện pháp bảo đảm mới không?

Cầm giữ tài sản (jus retentionnis) là một quyền năng theo đó bên có quyền được
nắm giữ tài sản chừng nào bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ở
Việt Nam, theo các nhà bình luận, “ Quyền cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ
là quy định mới được đưa vào Bộ luật Dân sự 2005 so với quy định tại Bộ luật dân
sự 1995”.
Theo Khoản 1 Điều 416 Bộ luật Dân sự 2005: “Cầm giữ tài sản là việc bên có
quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng
của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện
nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận”.
Khi bên có quyền cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ không có
khả năng khai thác và hưởng lợi từ tài sản này một cách trọn vẹn. Chính vì vậy mà
cầm giữ tài sản tạo được sức ép cho bên có nghĩa vụ: nếu bên có nghĩa vụ muốn
khai thác, hưởng lợi một cách đầy đủ tài sản của mình thì họ phải thực hiện đứng
nghĩa vụ của mình để bên cầm giữ giao tài sản.
Ví dụ như A là người sửa chữa xe máy, A được giữ chiếc xe mà mình đã sửa cho
đến khi người yêu cầu sửa xe thanh toán toàn bộ tiền sửa xe.
Đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn mới trong BLDS 2005,
biện pháp này được áp dụng rộng rãi trong giao lưu dân sự kinh tế ở các nước và đã
từng được đề cập trong Luật dân sự La Mã. Hình thức bảo đảm mới này là hoàn
toàn phù hợp với yêu cầu thực tế.


Vì là một biện pháp bảo đảm mới cho nên chỉ qui định hết sức chung chung, chính
điều này có thể dẫn đến nhận thức không chính xác nội dung pháp lý của nó, cho
nên có thể sẽ có những nhầm lẫn tai hại trong việc áp dụng pháp luật.
2.2. Nội dung của cầm giữ.
2.2.1. Đặc điểm
Cầm giữ có ba đặc điểm cơ bản:
- Thứ nhất: Đây là một biện pháp bảo đảm duy nhất trong số các biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ được áp dụng mà không dựa trên sự thoả thuận của các bên liên

A mượn của B cái nồi cơm điện trong một ngày. Đến ngày hôm sau B sang đòi lại
nồi cơm, A không trả vì B còn nợ A 300 nghìn đồng và đòi B phải trả số tiền trên thì
A mới trả nồi. Yêu cầu trên của A là trái pháp luật về cầm giữ tài sản vì nghĩa vụ trả
tiền của B không phát sinh một cách trực tiếp từ chiếc nồi cơm điện nên A không
được cầm giữ nó.
Tuy nhiên pháp luật một số nước qui định rằng không áp dụng yêu cầu này nếu việc
chiếm giữ có liên quan đến các chủ thể là các chủ thể kinh doanh, ví dụ: doanh
nghiệp A mở tài khoản và nhận các dịch vụ tại Ngân hàng nhưng không thực hiện
việc chi trả các khoản tiền phí dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng được được quyền
phong toả tài khoản cho đến khi nào khách hàng trả xong nợ.


c) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm giữ tài sản chưa được thực hiện bởi
người có nghĩa vụ đúng hạn cam kết.
- Thứ ba: Chiếm giữ tài sản là một biện pháp có những nội dung pháp lý đồng nhất
với biện pháp cầm cố vì vậy các qui định về nghĩa vụ bảo quản tài sản trong cầm
giữ, xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ chính… có thể dẩn chiếu sang các điều luật
tương tự trong phần cầm cố.
Ngoài ra, ta còn nhận thấy cầm giữ còn có một số đặc điểm thường thấy sau:
- Cầm giữ tài sản áp dụng thông dụng trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực
hiện các nghĩa vụ của mình trong các quan hệ hợp đồng: vận tải, gia công, thuê, ký
gửi, ủy thác, sửa chữa tàu biển…
- Về tài sản được cầm giữ: có một số loại tài sản thường không được phép cầm giữ
như một số loạitàisản dễ hư hỏng trong thời gian ngắn, cácloạitàisảnbiếnchất theo
thời gian, các loại tài sản phục vụ cho các việc cứu người khẩn cấp, công vụ khẩn
và đang trên đường thực hiện việc đó.
Ví dụ:
Ngày 23/5/2013, bệnh viện M mang một chiếc xe cứu thương đi bảo dưỡng tại cửa
hàng sửa chữa ô tô của anh N và hẹn ngày 28/5 sẽ đến lấy và thanh toán tiền. Đến
ngày đã hẹn người của bệnh viện M tới lấy chiếc xe để sử dụng ngay cho một ca

(điều 163), theo nghị định áp dụng bộ luật dân sự về phần biện pháp bảo đảm thì
“giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền


gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và
được phép giao dịch” (khoản 9, điều 3).
Suy ra, theo bộ luật dân sự hiện hành những gì không phải tài sản thì không thuộc
quyền cầm giữ.
Tuy nhiên, trong luật thương mại, phạm vi của đối tượng thuộc quyền cầm giữ rộng
hơn, điều 149 luật thương mại: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại diện có
quyền cầm giữ tài sản, tài liệu được giao để bảo đảm việc thanh toán các khoản thù
lao và chi phí đã đến hạn”, điều 239 luật thương mại: “Thương nhân kinh doanh
dịch vụ logistics có quyền cầm giữ một số lượng hàng hóa nhất định và các chứng
từ liên quan đến số lượng hàng hóa để đòi tiền nợ đã đế hạn của khách hàng”.
Ví dụ thực tế: chủ cửa hàng xe máy Thanh Sang (bà Liên) và chủ cửa hàng xe máy
Đông Trang (ông Quang) ký hợp động mua bán xe gắn máy với nội dung, bà Liên
giao xe cho ông Quang, ông Quang bán được chiếc xe nào thì trả đủ tiền chiếc xe
đó. Một thời gian sau đôi bên có tranh chấp. Trong quá trình tố tụng, ông Quang
cho rằng bà Liên phải chịu trách nhiệm về việc bà Liên đã giữ 44 bộ đăng kiểm xe
là trái pháp luật. Tuy nhiên, theo bản án số 81/2009/DSST ngày 15-5-2009 của tòa
án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, theo thỏa thuận của các bên thì “khi
ông Quang trả tiền xong chiếc xe nào thì bà Liên sẽ giao phiếu đăng kiểm chiếc xe
đó cho ông Quang, như vậy do ông Quang còn thiếu tiền bà Liên nên bà Liên giữ lại
phiếu đăng kiểm là đúng, không vi phạm pháp luật”.
Trong vụ việc trên, bà Liên đã giữ phiếu đăng kiểm xe máy để gây sức ép cho ông
Quang, chừng nào ông Quang chưa thanh toán tiền xe thì bà Liên chưa đưa giấy
đăng kiểm. Như vậy, đối tượng được cầm giữ không phải tài sản nhưng lại rất hiệu
quả đối với bên cầm giữ.
Quyền cầm giữ cũng chỉ giới hạn trong tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ,
và như vậy, những gì không phải đối tượng của hợp đồng song vụ thì không có khả

- Thứ ba: Nghĩa vụ được bảo đảm phải là nghĩa vụ của người chủ sở hữu tài sản và
nghĩa vụ ấy phải phát sinh trực tiếp từ tài sản ấy.Những nghĩa vụ không phát sinh
một cách trực tiếp từ tài sản cầm giữ thì bên có quyền không được cầm giữ nó.
Tuy nhiên pháp luật một số nước qui định rằng không áp dụng yêu cầu này nếu việc
chiếm giữ có liên quan đến các chủ thể là các chủ thể kinh doanh, ví dụ: doanh
nghiệp A mở tài khoản và nhận các dịch vụ tại Ngân hàng nhưng không thực hiện
việc chi trả các khoản tiền phí dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng được quyền phong
toả tài khoản cho đến khi nào khách hàng trả xong nợ.
- Thứ tư: Nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm giữ tài sản chưa được thực
hiện bởi người có nghĩa vụ đúng hạn cam kết.
- Ví dụ:
T thuê H chở một lô hàng quần áo mà T đặt mua ở cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn)
đến cửa hàng của T ở Hà Nội. Khi H chuyển số hàng trên đến nơi thì T chưa có tiền
để thanh toán phí vận chuyển cho H.
Ta thấy ở tình huống trên:
H đang nắm giữ lô quần áo mà H có nghĩa vụ chuyển cho T.
Lô quần áo trên thuộc sở hữu của T và T có nghĩa vụ phải trả tiền vận chuyển số
quần áo đó từ Lạng Sơn đến Hà Nội cho H.
Tuy nhiên T lại chưa có tiền để trả phí vận chuyển đó cho H.
Như vậy trong tình huống này, H có quyền cầm giữ lô quần áo cho tới khi T trả tiền.
2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên.


Bên cầm giữ có quyền và nghĩa vụ:
- Cầm giữ toàn bộ hoặc một phần tài sản.
- Thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên
cầm giữ không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm giữ.
Theo quy định của bộ luật dân sự hiện hành thì ngoài việc được thu hoa lợi từ tài
sản cầm giữ dùng để bù trừ nghĩa vụ thì bên cầm giữ không có quyền định đoạt tài
sản cầm giữ. Tuy nhiên, trong luật thương mại, ở một số trường hợp, bên cầm giữ

Quyền và nghĩa vụ của công ty Đông Hải:
- Giữ lại 5 chiếc tàu trong số 10 chiếc tàu mà công ty Đại Ngư chưa có tiền để thanh
toán.
- Bảo quản, giữ gìn 5 chiếc tàu, không được để 5 chiếc tàu bị hỏng hóc, mất mát.
Nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải sửa chữa, bồi thường tương ứng cho công ty
Đại Ngư.


- Trong quá trình cầm giữ, nếu phải bỏ chi phí cho việc bảo quản thì khi công ty Đại
Ngư thực hiện nốt nghĩa vụ thanh toán thì có thể yêu cầu công ty này thanh toán cả
khoản chi phí bảo quản trên.
- Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn 5 chiếc tàu.
- Trả lại 5 chiếc tàu khi công ty Đại Ngư hoàn thành xong việc trả tiền 5 chiếc tàu.
Quyền và nghĩa vụ của công ty Đại Ngư:
- Chấp nhận để công ty Đông Hải giữ lại 5 chiếc tàu mà mình chưa có tiền để thanh
toán cho việc sửa chữa.
- Nếu công ty Đông Hải làm mất, hư hỏng 5 chiếc tàu trên thì được bồi thường thiệt
hại.
- Nếu công ty Đông Hải phải bỏ cho phí cho việc bảo quản 5 chiếc tàu thì phải
thanh toán chi phí trên cho công ty Đông Hải.
- Được trả lại 5 chiếc tàu sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ thanh toán với công
ty Đông Hải.
2.3.Chấm dứt cầm giữ.
Quyền cầm giữ chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Theo thỏa thuận của các bên: tức là bên cầm giữ đồng ý trả tài sản mà mình đang
cầm giữ cho bên có nghĩa vụ.
Để đạt được thỏa thuận này có thể xuất phát từ sự tin cậy giữa hai bên giao kết hợp
đồng hoặc bên có nghĩa vụ phải đáp ứng các điều kiện khác do hai bên thỏa thuận.



- Giống nhau: đều có mục đích đảm bảo cho nghĩa vụ được thực hiện đúng.
- Khác nhau:
Nội dung Cầm giữ Cầm cố
Thờiđiểm phát sinh Sau khi nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không
đúng Trước hoặc ngay từ khi giao kết hợp đồng, thờiđiểm nghĩa vụ không được
thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì tài sản cầm cố đượcđưa ra xử lý
Cơ sở phát sinh Pháp luật quy định Theo thỏa thuận của các bên tham gia nghĩa vụ
Tài sản cầm cố hoặc cầm giữ -Chính là đối tượng của hợp đồng song vụ.
- Bên có quyền có thể tự mình cầm giữ hoặc giao cho người thứ ba mà không cần
sự thỏa thuận của bên bị cầm giữ tài sản.
- Bên cầm giữ không có quyền xử lý tài sản cầm giữ, được thu hoa lợi và lợi tức từ
tài sản cầm giữ; được dùng số hoa lợi, lợi tức này để bù trừ nghĩa vụ. - Là tài sản
thuộc sở hữu của bên cầm cố hoặc tài sản được hình thành trong tương lai.
- Các bên thỏa thuận bên cầm cố hoặc người thứ ba giữ tài sản cầm cố.


- Bên nhận cầm cố tài sản có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thứcđã thỏa
thuận, không được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu không được bên cầm
cố đồngý.
Số lượng Điều luật trong BLDS
Một điều luật (Điều 416). 16 điều luật (từĐiều 326 đếnĐiều 341).
Ví Dụ
A thiếu tiền ăn chơi nên đã vay tiền B hẹn 1 tuần trả. 1 tuần sau A chưa trả, A và B
thỏa thuận B giữ chiếc đồng hồ của B cho đến khi A trả hết nợ. A thiếu tiền ăn chơi
nên đã đến tiệm cầm đồ và cầm cố chiếc xe máy của mình ở lại tiệm với giá X đồng
và hẹn 1 tuần sau sẽ quay lại chuộc xe.
2.5. So sánh với Nhật Bản
Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, một trong
những vấn đề quan trọng, có nhiều ý kiến khác nhau đó là cơ chế pháp lý giữa chủ
nợ có bảo đảm trong vật quyền bảo đảm pháp định với chủ nợ có bảo đảm trong vật

vụ của bên có nghĩa vụ .


Do đó, trước khi giao kết hợp đồng, các bên sẽ phải nhất trí chọn ra một món tài sản
để làm vật bảo đảm. Cho đến khi bên kia không thực hiện hoặc không thực hiện
đúng nghĩa vụ, bên có quyền sẽ được chiếm giữ món tài sản bảo đó. Vật bảo đảm
đó chính là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản
Ta có thể xét đến một số văn bản trên thế giới về cầm giữa như:
- CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CẦM GIỮ VÀ CẦM CỐ HÀNG HẢI 1993
(Tổ chức tại Palais des Nations, Geneva, từ 19 tháng 4 đến 6 tháng 5 năm 1993),
theo đó quyền cầm giữ hàng chỉ được thực hiện khi:
- Món nợ phải là tiền cước, phí hay những khoản tiền khác của chính lô hàng đang
trở trên tàu.
- Cầm giữ hàng đang trên tàu hoặc hàng đã dỡ xuống kho cảng nhưng vẫn còn nằm
trong sự kiểm soát của người chuyên chở. Những trường hợp nằm ngoài 2 điều kiện
kể trên chủ tàu không được áp dụng điều khoản cầm giữ hàng cho dù hợp đồng hay
vận đơn có đề cập đến điều khoản cầm giữ hàng hay không.
- Ở một số nước, quyền cầm hàng hóa không được hệ thống pháp luật công nhận và
cho phép, ví dụ như ở những nước mà việc nhập khẩu hàng hóa đều do Chính phủ
hoặc những cơ quan dịch vụ của Chính phủ đảm nhận. Ở những nước này, hàng hóa
là thuộc sở hữu của Nhà nước, chủ tàu khó thực hiện được quyền cầm giữ hàng hóa.
Còn ở Việt Nam, ngày 22 tháng 2 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định
11/2012/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2012 về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006
hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về giao dịch bảo đảm (các điều
từ 318 đến 373).


Quyền cầm giữ tài sản có phạm vi khá hẹp vì chỉ phát sinh trong quan hệ hợp đồng
song vụ và chưa được coi là một biện pháp bảo đảm (điều 416 Bộ luật Dân sự). Tuy

và các chủ thể khác có ba quyền nói trên
Trong Bộ luật dân sự 2005 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được đề cập đến
trong điều 461 Mua trả chậm, trả dần như một trường hợp riêng của hợp đồng mua
bán tài sản, dạng hợp đồng này được giao kết với điều kiện trì hoãn, bảo lưu quyền
sở hữu của các bên đối với tài sản đã bán. Vậy đây là cơ sở pháp lý trọng tâm mà từ
điều luật này chúng ta có thể xem xét một cách toàn diện vấn đề Bảo lưu quyền sở
hữu là một hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chính thức, chứ không phải là một
hình thức đặc biệt, một trường hợp đơn giản bằng một điều luật của hợp đồng mua
bán tài sản.
Có thể hiểu mua trả chậm là việc bên mua sẽ trả toàn bộ tiền cho bên bán sau một
thời gian nhất định sau khi giao kết hợp đồng và mua bán tài sản. Còn mua trả dần
là phương thức thanh toán nhiều lần( sô tiền trả trong một lần và thời ginan được trả
dần theo thỏa thuận của các bên) mặc dù tài sản mua bán được chuyển giao ngay
cho người mua ngay sau khi kí kết hợp đồng mua bán.
3.2. Nội dung bảo lưu quyền sở hữu
3.2.1. Đặc điểm
• Bên mua đã nhận vật nhưng quyền sở hữu vật vẫn thuộc bên bán. Lúc này việc
mua bán vẫn chưa làm phát sinh quyền sở hữu với người mua mà chỉ xảy ra khi bên
mua đã đồng ý lấy vật và thực hiện xong nghĩa vụ.


• Khi nhận được tài sản mua bán và có quyền đưa tài sản vào khai thác công dụng,
còn bên bán vẫn được sở hữu tài sản.
• Theo đó bên bán có thể bán được tài sản, còn bên mua có cơ hội có được tài sản
mà mình mong muốn khi họ chưa thể đủ tiền mua ngay.
• Khác với các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khác (cầm cố, thế chấp, đặt
cọc, ký cược, kỹ quỹ, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ) bên nhận vật lại là bên có nghĩa
vụ phải thực hiện công việc, hành vi nào đó.
Việc quy định vấn đề bảo lưu quyền sở hữu nhằm giúp cho bên mua khi nhận được
tài sản họ phải sử dụng tài sản một cách có hiệu quả, có ý thức bảo vệ tài sản và có

Hợp đồng ngoài quy dịnh về đối tượng, giá cả, thời gian chậm thanh toán, các bên
phải thỏa thuận về hậu quả pháp lý khi bên mua vi phạm nghĩa vụ với bên bán.
Đối tượng thường là những tài sản có đăng ký quyền sở hữu (như ô tô, xe máy,
nhà…).
Bên bán chọn một trong hai phương thức: không tạo điều kiện để bên mua làm thủ
tục đăng ký quyền sở hữu hoặc cùng bên mua làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu tài
sản cho bên mua nhưng bên bán giữ lại bản gốc.
3.2.4. Yêu cầu về hình thức của hợp đồng mua trả chậm, trả dần


• Theo Khoản 2 Điều 461:
"Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có
quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác".
Do đó, Hợp đồng mua trả chậm, trả dần phải được lập thành văn bản. Quy định hình
thức chặt chẽ cho hợp đồng mua bán tài sản trả chậm, trả dần xuất phát từ cơ sở:
trong hình thức mua bán này, việc thực hiện nghĩa vụ của các bên không phát sinh
và chấm dứt ngay mà là cả một quá trình.
Theo thông tư số 04/2007/TT- BTP ngày 17/05/2007 Bộ Tư pháp hướng dẫn về
thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả
chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu của bên bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp
đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ .
Việc hợp đồng mua trả chậm, trả dần được thành lập bằng văn bản như vậy sẽ giúp
cho bên bán dễ thực hiện quyền yêu cầu của mình, nâng cao trách nhiệm của bên
mua đối với việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết
Giá trị của đăng ký đối với các bên. “Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan
đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào
Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm” (khoản 1 Điều 2 Nghị định số 83
năm 2010).

ngay.(Bên mua sẽ trả tiền một thời gian nhất định sau khi giao kết hợp đồng và nhận
tài sản).
- Mua trả dần là thanh toán nhiều lần mặc dù tài sản mua bán được chuyển giao
ngay cho người bán sau khi kí hợp đồng mua bán. (Bên mua trả thành nhiều lần và
số tiền trả trong một lần do thỏa thuận các bên).
Hình thức hợp đồng Có thể hợp đồng hoặc không có Có hợp đồng bằng văn bản
Quyền các bên
Trong thời hạn dùng thử, vật vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán. Bên mua có
quyền sử dụng, khai thác công dụng của tài sản
Bên bán có quyền đòi lại tài sản đã bán nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán
(như không trả tiền, trả tiền không đầy đủ, trả tiền không đúng hạn…). bên bán còn
quyền sở hữu với tài sản.
Nghĩa vụ Bên bán phải chịu mọi rủi ro xảy ra đối với vật nếu không có thỏa thuận
khác, không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản khi bên
mua chưa trả lời
Bên mua nếu không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và bồi thường thiệt hại nếu
làm mất mát, hư hỏng vật dùng thử Bên mua có nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận
và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Hiệu lực sau khi giao kết Chưa phát sinh hiệu lực mà còn phải chờ sự trả lời chấp
nhận hay không chấp nhận mua sau một thời gian dùng thử của bên mua. Phát sinh
hiệu lực ngay khi chấp nhận mua vật.
3.4. Thực tế áp dụng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status