Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
MỤC LỤC
MỤC LỤC...............................................................................................................................................1
CHƯƠNG I.............................................................................................................................................2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG...............................................................................2
SINH HỌC Ở VIỆT NAM.........................................................................................................................2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH........................................................................7
HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..................................................................................................................7
2.1. Khái quát về đặc điểm tình hình.................................................................................................7
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên...........................................................................................7
2.1.2. Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội..................................................................................8
2.2. Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay....................................9
2.2.1. Thực trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam.............................................................................9
2.2.2. Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.........................................14
2.3. Nguyên nhân.............................................................................................................................22
CHƯƠNG III.........................................................................................................................................23
QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP....................................................................................23
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG.....................................................................23
SINH HỌC Ở VIỆT NAM.......................................................................................................................23
3.1.Quan điểm của Đảng về xây dựng pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học.....................................23
3.2. Định hướng đến năm 2020.......................................................................................................24
3.3. Giải pháp cơ bản.......................................................................................................................26
QLXH-K29
1
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG I
lý bảo tồn đa dạng sinh học; Tổ chức thực hiện các kế hoạch, quy hoạch bảo tồn
thiên nhiên hoặc đa dạng sinh học”. [1]
Đối với việc thành lập và quản lý các khu bảo tồn: Khu bảo tồn bao
gồm: khu dữ trữ sinh quyển, khu bảo vệ thiên nhiên, khu di sản thiên nhiên, khu
bảo vệ cảnh quan và vườn quốc gia.
Luật Đa dạng sinh học của Việt Nam quy định về việc phân loại, tiêu chí
và thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên; xác định ranh giới và phân khu chức
năng trong khu bảo tồn; ban quản lý khu bảo tồn và quy chế quản lý khu bảo
tồn; quy trình, thủ tục thành lập khu bảo tồn; cơ chế hỗ trợ cộng đồng xung
quanh và vùng lân cận khu bảo tồn; Quy định cấp phép cho các hoạt động trong
khu bảo tồn; mối quan hệ giữa các khu bảo tồn (quốc gia và địa phương) để
QLXH-K29
3
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
tránh sự mâu thuẫn và trùng lặp về các biện pháp bảo vệ và quản lý; xây dựng
kế hoạch quản lý, cơ chế quản lý và bảo vệ chung.
Đối với việc quản lý hệ sinh thái và vùng sinh thái: Để quản lý và bảo tồn
các hệ sinh thái, cần quy định việc kết hợp cảnh quan vào các công trình mới
đối với các khu định cư bên ngoài các khu bảo tồn thiên nhiên, nhằm hài hoà
chức năng và thẩm mỹ với các giá trị thiên nhiên và môi trường nhân tạo; Quy
định việc xây dựng quy hoạch cảnh quan đối với các khu vực cần bảo vệ và
đánh giá tác động môi trường; Lập danh mục các hệ sinh thái bị đe dọa và các
hệ sinh thái cần được bảo vệ; Trong xây dựng và quản lý, áp dụng các kỹ thuật
thân thiện với môi trường và đa dạng sinh học.
Đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật: Các đối
tượng cần quản lý và bảo vệ là các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, bị
đe doạ hoặc các loài thuộc danh mục Sách Đỏ và nguồn gen của chúng; các loài
công nghệ do họ quản lý; quy định những người tiếp cận và thu thập hoặc thăm
dò sinh học với mục đích thương mại phải trả phí và chia sẻ công bằng và hợp
lý các lợi ích về việc chuyển giao công nghệ và chia sẻ kiến thức và khoa học;
quy định quyền trao đổi các nguồn gen và vật liệu di truyền; cấp phép đối với
việc tiếp cận các nguồn gen.
Đối với việc điều tra, nghiên cứu, quan trắc và quản lý thông tin về đa
dạng sinh học:
Hỗ trợ và khuyến khích điều tra, nghiên cứu, thăm dò, tiếp cận, tạo và
chuyển giao công nghệ thích hợp đối với đa dạng sinh học; đăng ký và lưu trữ
các kết quả nghiên cứu; cấp phép nghiên cứu và thăm dò sinh học;
Xây dựng cơ chế phối hợp hài hoà giữa các cấp để hỗ trợ thực hiện công
tác giám sát, quan trắc; kiểm kê các nguồn đa dạng sinh học; quan trắc hiện
trạng và diễn biến các hệ sinh thái cũng như số lượng, mức độ bị đe dọa của các
loài sinh vật; xây dựng cơ chế quan trắc và các bộ chỉ thị để xác định hiện trạng
bảo tồn các thành phần đa dạng sinh học; báo cáo tình trạng bảo tồn thiên nhiên
và đánh giá tác động môi trường; tăng cường và cơ chế hoạt động của các trạm
quan trắc về đa dạng sinh học; quy định về giám sát, quan trắc đa dạng sinh học;
Quy định về việc xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng
sinh học; Cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành: Quy định
về thu thập, đăng ký và phân tích thông tin, dữ liệu; Hợp tác trong lĩnh vực
kiểm kê đa dạng sinh học.
Đối với các nguồn lực cho đa dạng sinh học: Thành lập Quỹ bảo tồn đa
dạng sinh học quốc gia để sử dụng vào việc quản lý và bảo tồn đa dạng sinh
học; Xây dựng cơ chế thu và sử dụng Quỹ; Tăng cường phát huy tác dụng của
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Xây dựng đề án 1% ngân sách cho công tác
bảo vệ môi trường và các nguồn thu từ các dịch vụ đa dạng sinh học; Quy định
cơ chế thu và chi Quỹ cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học.
Đối với việc quản lý thực hiện: Quy định thẩm quyền và trách nhiệm cho
các cơ quan đồng thực hiện; Bộ chủ quản có trách nhiệm thống nhất quản lý các
QLXH-K29
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH
HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái quát về đặc điểm tình hình
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên
Nước Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, bắc giáp nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa, tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và vương
quốc Campuchia, đông và nam giáp Biển Đông (Thái Bình Dương), có diện tích
329.600 km2 đất liền, gần 700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo.
Địa hình vùng đất liền của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra
(Bắc bộ và Nam bộ), ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung bộ). Địa hình miền Bắc
tương đối phức tạp. Rừng núi trải dài từ biên giới Việt Trung cho đến tây Thanh
Hóa với nhiều núi cao như Phanxipăng (3.142m), nhiều khu rừng nhiệt đới, và
nhiều dãy núi đá vôi như Cao Bằng, Bắc Sơn, Hòa Bình, Ninh Bình, Phong Nha
- Kẻ Bàng ... với hàng loạt hang động, mái đá. Cùng với nhiều loại thực vật
khác nhau, rừng Việt Nam còn có hàng trăm giống động thực vật quý hiếm;
nhiều loại đá, quặng, tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự sinh sống và phát
triển con người.
Biển Việt Nam bao bọc phía đông và nam đất liền nên từ lâu đời được
người Việt Nam gọi là biển Đông. Việt Nam có khoảng 3.200 km bờ biển,
700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa,
Phú Quốc, Côn Sơn. Biển đông là một phần của Thái Bình Dương với diện tích
3.447.000 km2 , là biển lớn hàng thứ ba trong số các biển có trên bề mặt Trái
Đất, kéo dài khoảng từ vĩ độ 30o Bắc (eo Gaspo) tới vĩ độ 26o Bắc (eo Đài Loan)
và từ kinh độ 100o Đông (cửa sông Mê nam, vịnh Thái Lan) tới kinh độ 12 o
Đông (eo Minđôrô). Bờ phía bắc và phía tây của Biển Đông bao gồm : một
đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn.
Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng
mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùng
thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong
đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính đa dạng sinh học cao hơn
và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng
thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núi
thấp; kiểu phụ rừng trên núi đá vôi
• Hệ sinh thái đất ngập nước
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy,
than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm
thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả
những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp".
Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái,
thuộc hai nhóm ĐNN: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển, trong đó có một số kiểu
có tính đa dạng sinh học cao:
Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị
như cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ,
bãi ăn và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác;
xâm chiếm và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại
tác động của sóng biển và bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động
vật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát).
Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á.
U Minh Thượng và U Minh Hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng
QLXH-K29
9
Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng
trên 1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá phong phú. Trong vùng
biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20
kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc sáu vùng đa dạng sinh học biển khác nhau.
QLXH-K29
10
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
Đa dạng loài
Tập hợp các dẫn liệu nghiên cứu, điều tra cơ bản đã có từ trước đến nay,
thành phần loài thực vật, động vật ở Việt Nam được thống kê thì nhóm sinh vật
vi tảo ở vùng nước ngọt được xác định là 1.438 loài chiếm 9,6% so với thế giới
(số loài có trên thế giới là 15.000); thực vật bậc cao có khoảng 11.400 loài
chiếm 5% so với thế giới (số loài có trên thế giới là 220.000); bò sát có 296 loài
chiếm 4,7% so với thế giới (số loài có trên thế giới là 6.300)..
Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ đa
dạng sinh học cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000 - 30.000 loài
thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ đa dạng sinh học (chiếm 6,5%
số loài có trên thế giới).
• Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đã ghi
nhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam. Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc
thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao. Trong số đó có 10 % số loài thực vật là
đặc hữu.
Khu hệ động vật: cho đến nay đã thống kê được 307 loài giun tròn, 161
loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ
nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310
loài và phân loài thú.
phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam. Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân
bố ở các thủy vực sông, suối, vùng núi.
• Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ
Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệt
đới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam. Trong
vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn
20 kiểu hệ sinh thái điển hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau,
trong đó có hai vùng biển: Móng Cái - Đồ Sơn, Hải Vân - Vũng Tàu có mức độ
đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại. Đặc biệt, tại vùng thềm lục địa có 9
vùng nước trồi có năng suất sinh học rất cao, kèm theo là các bãi cá lớn. Tổng
số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng 11.000 loài, trong đó cá
(khoảng 130 loài kinh tế) có 2.458 loài; rong biển có 653 loài; động vật phù du
có 657 loài; thực vật phù du có 537 loài; thực vật ngập mặn có 94 loài; tôm biển
có 225 loài...
Các nghiên cứu về biến động nguồn lợi đã cho thấy danh sách khu hệ cá
biển của Việt Nam đến tháng 1/2005 là 2.458 loài, tăng 420 loài so với danh
sách được lập năm 1985 (có 2.038 loài) và đã phát hiện thêm 7 loài thú biển
mới.
Một số loài sinh vật mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở Việt
Nam . Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ các kết quả điều tra cơ bản các vùng
lãnh thổ khác nhau ở Việt Nam, một số loài mới được phát hiện và mô tả, trong
đó có nhiều chi mới, loài mới cho khoa học. Một số các nhóm sinh vật trước
QLXH-K29
12
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
đây chưa được nghiên cứu, nay đã có những dẫn liệu bước đầu như nhóm giáp
xác bơi nghiêng ở biển, dơi, kiến, ốc ở cạn..
QLXH-K29
13
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.300 giống
của 115 loài cây trồng. Đây là tài sản quý của đất nước, phần lớn không còn
trong sản xuất và trong tự nhiên nữa. Một bộ phận quan trọng của số giống này
là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quý mà duy nhất chỉ nước ta có.
• Về vật nuôi
Hiện nay Việt Nam có 14 loài gia súc và gia cầm đang được chăn nuôi
chủ yếu bao gồm 20 giống lợn trong đó có 14 giống nội, 21 giống bò (5 giống
nội), 27 giống gà (16 giống nội), 10 giống vịt (5 giống nội), 7 giống ngan (3
giống nội), 5 giống ngỗng (2 giống nội), 5 giống dê (2 giống nội), 3 giống trâu
(2 giống nội), 1 giống cừu, 4 giống thỏ (2 giống nội), 3 giống ngựa (2 giống
nội), bồ câu, hươu và nai (có khoảng 10 ngàn con hươu nai được nuôi trong
toàn quốc).
2.2.2. Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng
sinh học bằng nhiều biện pháp như công bố các khu vườn quốc gia, ban hành
các chính sách, văn bản pháp luật, ban hành Sách đỏ Việt Nam và tham gia các
công ước quốc tế trong lĩnh vực đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, trước khi ban hành Luật đa dạng sinh học, Việt Nam chưa có
hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học thống nhất. Các quy phạm pháp luật về
đa dạng sinh học đang nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá
trị pháp lý khác nhau và mỗi văn bản chỉ đề cập đến một hoặc vài khía cạnh của
đa dạng sinh học, điều này đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của việc áp
đã quy định thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng gọi là Kiểm lâm nhân
dân.
Đến năm 1991, trên cơ sở của Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng năm
1972 và để đáp ứng tình hình thay đổi của đất nước, Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng, theo
Luật này, rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ
phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế
quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc,
nghiêm cấm mọi hành vi huỷ hoại tài nguyên rừng. Việc khai thác các loại thực
vật rừng, săn bắt động vật rừng phải tuân theo quy định của Nhà nước về quản
lý, bảo vệ động thực vật rừng; những loài động thực vật rừng quý, hiếm phải
được quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt (Điều 19). Danh mục và chế độ quản
lý, bảo vệ những loài động thực vật rừng quý hiếm do Hội đồng bộ trưởng quy
định. Nghiêm cấm mọi hành vi phá rừng, đốt rừng; lấn, chiếm rừng, đất trồng
rừng; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng, chăn thả
gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật. Việc nhập nội giống thực vật rừng,
động vật rừng phải bảo đảm những nguyên tắc sinh học và những quy định về
kiểm dịch quốc gia, không gây hại đến hệ sinh thái và phải được Bộ Lâm
nghiệp cho phép. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 là một trong những
QLXH-K29
15
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng, phát
triển, khai thác và sử dụng rừng; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên; bảo
tồn thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm; góp phần vào việc phòng chống
thiên tai.
Qua hơn mười năm thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991,
16
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
mặt của chiến tranh, bảo vệ có hiệu quả các hệ sinh thái trong điều kiện nhiệt
đới của nước ta, chủ động đề phòng, ngăn chặn các tác động có hại đối với môi
trường và tài nguyên”. Kể từ đây công tác bảo vệ môi trường đã thực sự trở
thành sự nghiệp của Nhà nước, của toàn dân.
Các vấn đề môi trường luôn được kết hợp xem xét trong việc xây dựng
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật Bảo vệ môi trường
được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 đã đặt nền móng cho việc
hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở Việt Nam và tạo những chuyển
biến tích cực trong công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học.
Mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn
chế.
Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm mục tiêu ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục
hồi và cải thiện môi trường của những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn
đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công
nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, trước những áp lực của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, sự diễn biến sôi động và toàn diện của toàn cầu hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế, Luật bảo vệ môi trường năm 1993 đã dần bộc lộ những
hạn chế, bất cập. Do vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua Luật bảo vệ môi
trường mới thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993. Theo Luật này “Hoạt
động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp;
phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi
nghiêm cấm nhiều hành vi làm tổn hại đến giống, loài và môi trường như: Khai
thác, huỷ hoại trái phép các rạn đá ngầm, rạn san hô, các bãi thực vật ngầm,
rừng ngập mặn và hệ sinh cảnh khác; phá huỷ, cản trở trái phép đường di
chuyển tự nhiên của các loài thuỷ sản ở sông, hồ, đầm, phá, eo, vịnh; khai thác
các loài thuỷ sản thuộc danh mục cấm kể cả cấm có thời hạn, trừ trường hợp vì
mục đích nghiên cứu khoa học được Chính phủ cho phép; khai thác thuỷ sản
nhỏ hơn kích cỡ quy định, trừ trường hợp được phép khai thác để nuôi trồng;
lấn, chiếm, xâm hại các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển đã
được quy hoạch và công bố; vi phạm các quy định trong quy chế quản lý khu
bảo tồn; khai thác thuỷ sản ở khu vực cấm, khu vực đang trong thời gian cấm;
khai thác quá sản lượng cho phép; sử dụng thuốc, phụ gia, hoá chất thuộc danh
mục cấm sử dụng để nuôi trồng thủy sản, sản xuất thức ăn nuôi trồng thủy sản,
chế biến, bảo quản thuỷ sản; đưa tạp chất vào nguyên liệu, sản phẩm thuỷ sản;
thả thuỷ sản nuôi trồng bị nhiễm bệnh vào nơi nuôi trồng hoặc vào các vùng
nước tự nhiên…Việc khai thác thuỷ sản ở vùng biển, sông, hồ, đầm và các vùng
QLXH-K29
18
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
nước tự nhiên phải bảo đảm không làm cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản, phải tuân
theo các quy định về mùa vụ khai thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác,
chủng loại, kích cỡ và sản lượng được phép khai thác. Để bảo tồn, tái tạo và
phát triển nguồn lợi thuỷ sản, Nhà nước ban hành các chính sách bảo tồn, đặc
biệt là các loài thuỷ sản đang có nguy cơ tuyệt chủng, các loài quý, hiếm, các
loài có giá trị kinh tế cao và các loài có ý nghĩa khoa học. Mọi tổ chức và cá
nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của các loài thuỷ sản, thực hiện
các nghĩa vụ về bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Bên cạnh những văn bản pháp luật nói trên, Nhà nước ta cũng đã ban
nguồn tài nguyên di truyền. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh học của
ta nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực.
Mục tiêu lâu dài của Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của
Việt Nam năm 1995 là bảo vệ đa dạng sinh học phong phú và đặc sắc của Việt
Nam trong khuôn khổ phát triển bền vững. Kế hoạch cũng nêu ra mục tiêu trước
mắt cần triển khai ngay là phải bảo vệ các sinh thái đặc thù của Việt Nam, các
hệ sinh thái nhạy cảm đang bị đe doạ thu hẹp hay huỷ hoại do hoạt động kinh tế
của con người. Bảo vệ các bộ phận đa dạng sinh học đang bị đe doạ do khai
thác quá mức hay bị lãng quên. Phát huy và phát hiện các giá trị sử dụng của
các bộ phận đa dạng sinh học trên cơ sở phát triển bền vững các giá trị tài
nguyên, phục vụ các mục tiêu kinh tế của đất nước.
Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học lần thứ hai được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5
năm 2007 về phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học
và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải có một văn bản quy phạm pháp luật có giá
trị pháp lý cao, đề cập toàn diện đến các khía cạnh của đa dạng sinh học, luật
hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, nội luật hóa các điều ước quốc tế về đa dạng sinh học mà Việt Nam là
thành viên nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Do đó, Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ tư đã ban
hành Luật đa dạng sinh học và được thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Luật đa dạng sinh học gồm 8 chương, 78 điều với các nội dung chính sau:
- Quy định về quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học chung trong cả nước
và theo từng địa phương;
- Quy định về bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên;
- Quy định bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật;
- Quy định về bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền;
thuốc, bảo hộ quyền của tổ chức, cá nhân lai tạo giống vật nuôi mới, vấn đề bảo
hộ sở hữu công nghiệp đối với tạo giống mới... còn mờ nhạt.
Thứ hai, pháp luật về đa dạng sinh học chưa bảo đảm được tính thống
nhất, cụ thể:
Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thủy sản
còn có các quy phạm chưa thống nhất, thậm chí còn khác nhau. Ngay cả việc sử
dụng các thuật ngữ cơ bản cũng còn có sự khác nhau. Điều này cũng có thể lý
giải được khi các luật nhìn nhận đa dạng sinh học từ góc độ chuyên ngành của
mình nên thiếu sự bao quát và tính chính xác.
Một số thuật ngữ pháp lý chưa được sử dụng thống nhất trong các văn
bản pháp luật, như bảo tồn tại chỗ với bảo tồn nội vi, bảo tồn nguyên vị, bảo tồn
ngoại vi với bảo tồn chuyển vị... Việc sử dụng không thống nhất các thuật ngữ
QLXH-K29
21
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
nêu trên khiến cho hoạt động giải thích và áp dụng pháp luật gặp không ít khó
khăn.
Thứ ba, pháp luật về đa dạng sinh học còn thiếu một số quy định quan
trọng, cụ thể:
Thiếu các quy định về cơ chế tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, quyền
đối với tri thức truyền thống của cộng đồng, các quy định về cơ chế kiểm soát
các sinh vật lạ xâm hại, các quy định về hình thức bảo tồn ngoại vi, các quy
định về việc chi trả phí bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học …
Các quy định về bảo tồn các loài hoang dã hầu như mới chỉ được đề cập
trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng mà chưa được đề cập
trong các lĩnh vực pháp luật khác
Đa dạng sinh học có phạm vi điều chỉnh hợp lý trên cơ sở phân định rõ ràng với
Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản và các
văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Thứ ba, các điều, khoản của Luật Đa dạng sinh học được hình thành trên
cơ sở các quy phạm pháp luật hiện hành về bảo tồn và phát triển bền vững đa
dạng sinh học nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, theo
hướng kế thừa các quy phạm phù hợp, đã được kiểm nghiệm trên thực tế, điều
chỉnh, sửa đổi các quy phạm không phù hợp và bổ sung các quy phạm còn
thiếu.
Thứ tư, bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền
vững đa dạng sinh học trên cơ sở phân công, phân cấp rõ ràng, hợp lý giữa các
cơ quan Trung ương, giữa Trung ương và địa phương.
Thứ năm, quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan trong bảo tồn và
phát triển bền vững đa dạng sinh học trên cơ sở công bằng và bình đẳng trước
pháp luật. Bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học theo hướng thúc đẩy
và hỗ trợ xoá đói, giảm nghèo.
Thứ sáu, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước; cụ
thể hoá một số quy định trong các Điều ước quốc tế về đa dạng sinh học mà
QLXH-K29
23
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam tham gia, đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan mà
Việt Nam là thành viên.
Thứ bảy, đáp ứng yêu cầu cải cách công tác lập pháp, chi tiết đúng mức
và có tính khả thi.
3.2. Định hướng đến năm 2020
24
Hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
phủ về thành lập Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) nhằm bảo tồn thiên
nhiên, giữ gìn đa dạng sinh thái và các giá trị văn hoá, lịch sử. Để bảo tồn và
phát triển bền vững đa dạng sinh học của Việt Nam, Chính phủ đã công bố rất
nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như: Vườn quốc gia Hoàng
Liên Sơn (khu vực núi Phan-xi-păng, Lào Cai), Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng
Nai), Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Tây trước đây, nay thuộc Hà Nội), Vườn quốc
gia Ba Bể (Bắc Kạn), Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn quốc gia Vũ
Quang (Hà Tĩnh), Vườn quốc gia Phú Quốc (Kiên Giang), Vườn quốc gia
Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), Vườn quốc gia Côn Đảo (đảo
Côn Sơn, Bà Rịa - Vũng Tàu), Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), Vườn quốc
gia Núi Chúa (Ninh Thuận), Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai), Vườn quốc
gia Chư Mon Ray (Kon Tum), Vườn quốc gia Chư Yang Sin (Đắk Lắk), Vườn
quốc gia Bái Tử Long (Quảng Ninh), Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng), Vườn
quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau), Vườn quốc gia U Minh Thượng (Kiên Giang),
Vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) …
Thứ ba, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và trước những biến động
về môi trường, thiên nhiên, nhận thức vai trò to lớn của đa dạng sinh học đối
với sự phát triển hiện tại và tương lai của cả loài người, Việt Nam đã tham gia
rất nhiều các công ước quốc tế liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học nhằm
bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học của Việt Nam và toàn trái đất.
Có thể kể đến một số thoả thuận và công ước quốc tế về đa dạng sinh học mà
Việt Nam đã tham gia như:
- Công ước về đa dạng sinh học, 1992;
- Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, 2000;
- Công ước của Liên hợp quốc về sự biến đổi môi trường;
- Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt