Họ và tên: Nguyễn Thị Trang
Ngày sinh: 07-03-1997
Lớp: K65B
Khoa: Sư phạm Địa lí
BÁO CÁO THỰC ĐỊA - ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN KHU VỰC THÀNH
PHỐ LẠNG SƠN
A)
Mở đầu
Giới thiệu chung về nghành địa lí tự nhiên
Địa lí tự nhiên là một phân nghành của địa lí nghiên cứu về các vấn đề về
thủy quyển, sinh quyển và khí quyển. Nó giúp người ta hiểu được về những qui
luật tự nhiên của Trái Đất. Địa lí tự nhiên đóng vai trò là một ngành khoa học thuộc
Địa lí, nhân văn.Nhiệm vụ của ngành này là nghiên cứu tổng thể các điều kiện tự
nhiên của các vùng lãnh thổ trên bề mặt Trái Đất, các mối quan hệ tác động qua lại
giữa con người với các điều kiện tự nhiên đó,các đặc điểm dân cư phân bố dân
cư,đặc điểm văn hóa dân tộc…của các vùng miền trên thế giới. Những người tham
gia nghiên cứu là những nhà khoa học chuyên sâu địa lí làm trong các lĩnh vực
khác nhau thuộc nghành địa lí( khí hậu, khí tượng thủy văn, thổ nhưỡng, địa lí
ssinh vật, đia lí dân cư…)
1)
a)
Mục đích - yêu cầu
Mục đích
Bác Hồ đã từng nói việc “học phải đi đôi với hành”, việc học lí thuyết thôi
không đủ phải kết hợp các buổi học thực hành. Đối với sinh viên khoa Địa lí thì các
buổi thực hành-các chuyến đi thực địa là những buổi học có vị trí và vai trò rất
thông tin kiến thức,chuẩn bị lựa chọn các phương pháp hu thập tài liệu tốt rèn luyện
khả năng ghi chép lắng nghe thấu hiểu để giải thích các hiện tượng địa lí,biết áp
dụng lí thuyết ào việc thực hành như thực hành nhận biết đá cây cối,cách sử dụng
dụng cụ đó đạc: địa bàn, la bàn.
Lạng Sơn là vùng đất khá phức tạp nhiều biến động giáp với trung quốc có
các cửa khẩu lại là nơi xảy ra các tệ nạn xã hội như ma túy, buôn lậu,… vì vậy phải
luôn đề cao cảnh giác không đi ra ngoài một mình. Nghiêm chỉnh chấp hành giư
gìn trật tự an toàn giao thông ,giữ gìn vệ sinh trật tự nơi nghỉ ngơi.
1)
Các tuyến, điểm thực địa:
Chuyến thực địa cơ sở địa lí tự nhiên khu vực thành phố Lạng Sơn được chia
thành 5 tuyến đi với sự hướng dẫn của các thầy giáo, cô giáo như sau:
•
•
Tuyến đầu tiên là tuyến thực địa về địa lí tự nhiên,đi đến trạm khí tượng ở
Mai Pha do thầy Đào Ngọc Hùng hướng dẫn và đi đến trạm thủy văn trên
sông Kì Cùng tại thành phố Lạng Sơn do cô Trần Thị Hồng Mai hướng dẫn
Tuyến thứ hai là tuyến đi thực địa về địa chất tại động Nhất - Nhị - Tam
Thanh, thành nhà Mạc, Nàng Tô Thị. Tuyến thực địa này do cô Vũ Thị Thu
Thủy và ….hướng dẫn.
•
•
•
2)
Phương pháp phân tích, giải thích, tổng hợp.
Phương pháp điều tra khảo sát tại tuyến, điểm nghiên cứu.
B)
I.
1.
Nội dung:
Khái quát các điều kiện kinh tế- xã hội khu vực thành phố Lạng Sơn.
Vị trí địa lí phạm vi lãnh thổ:
Đúng như nhà thơ Mỹ Hoa Lê đã viết về Thành phố Lạng Sơn:
Mời anh về với quê em,
Núi rừng bát ngát dịu êm bốn mùa
Quê em có nhịp cầu dừa
Có nàng Tô Thị có Chùa Tam Thanh.
Chim ca ríu rít trên cành
Quê hương tươi đẹp đất lành nước trong
Ngắm cánh đồng lúa mênh mông
Ai đặt chân đến lòng không muốn về.
Đến với tỉnh Lạng Sơn nơi thân thương,mến khách với cái tên gọi quen
thuộc “Xứ Lạng”.Tỉnh Lạng Sơn là một tỉnh miền núi Đông Bắc nước ta có diện
tích tự nhiên là 8327,6 km2 và số dân là 759 nghìn người- năm 2008.
Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn.
Thuộc hệ tọa độ: 20o27’ Bắc đến 22o19’ Bắc và từ 106o6’ Đông đến 107o21’
Đông.Vị trí tiếp giáp của tỉnh Lạng Sơn:
-
Phía Đông Bắc giáp Trung Quốc : có đường biên giới dài 253 km.
cảnh lịch sử và con người đã tạo điều kiên cho Thành phố Lạng Sơn phát huy thế
mạnh phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội.Thành phố Lạng Sơn đã trở thành trung
tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hoá của tỉnh Lạng Sơn và vùng Đông Bắc .
Thành phố Lạng Sơn nằm ở vị trí từ 21o45’ Bắc đến 22o Bắc, 106o39 Đông
đến 107o03 Đông. Có diện tích tự nhiên 79,18km 2. Cách Thủ đô Hà Nội 154km,
cách cửa khẩu Quốc tế Hữu nghị 14km và cách 5 cặp chợ đường biên Việt - Trung
thuộc huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng từ 25 đến 30km.
Ảnh 1: Một góc nhỏ thành phố Lạng Sơn chụp từ đỉnh núi cao xuống- ảnh
Nguyễn Thị Trang k65B.
Thành phố Lạng Sơn có vị trí tiếp giáp với các huyện sau: Phía Bắc giáp
xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc.Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên
Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy - huyện Chi Lăng. Phía Đông giáp thị
trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên – huyện Cao Lộc. Phía
Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp – huyện Văn Quan.
Ngày nay Thành phố Lạng Sơn là một Thành phố trẻ, Thành phố thương
mại cửa khẩu đang trên đà phát triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu Kinh tế - Văn
hoá với Trung Quốc và các nước Đông Âu, là địa bàn quan trọng có mối quan hệ
mật thiết với vùng tam giác kinh tế trọng điểm của miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng Quảng Ninh.
2. Các điều kiện kinh tế- xã hội
Về dân số,lao động
Là một tỉnh miền núi với dân số là 759000 người năm 2008.Mật độ dân số
thấp 91 người/km2.Riêng thanht phố Lạng Sơn dân số năm 2014, là 92200 người
chiếm 22% số dân của cả tỉnh.Dân số phân bố không đồng đều,tập trung chủ yếu ở
thành phố đô thị.
Lạng Sơn gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau: Nùng( 43,8%),
Tày(35,2%), Kinh( 15,2%), Dao(3,5%), các dân tộc an hem khác: Hoa, H’Mông,
vùng không bị thiếu điện mùa hè.Hiện nay đang tiến hành xây dựng nhiều dự án
thủy điện nhỏ khác.
Ảnh 2: Trạm biết áp 110kv ở thành phố Lạng Sơn- ảnh Nguyễn Thị Trang k65B
Về thủy lợi và cấp nước
Thủy lợi là một trong những nghành được quan tâm sớm và đầu tư khá nhiều
vốn nhằm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt và sản xuất. Hệ thống thủy lợi hiện có là 34
công trình hồ đập nước lớn từ 100 ha trở lên. Trên địa bàn có 8 hồ đập lớn nhỏ, với
năng lực thiết kế 600 ha và 20 trạm bơi có khả năng tưới cho 300 ha đất, 10 giếng
khoan với công suất 500 – 600 m3/h và 50 đường ống phi 50 – 300 mm cung cấp
nước cho trên 8000 hộ gia đình và trên 300 cơ quan trường học.
Về mạng lưới thông tin liên lạc
Ngày càng được phát triển đáp ứng nhu cầu giao lưu trao đổi tiếp cận của
người dân. Trong tỉnh đã lắp đặt hệ thống truyền dẫn vi ba từ trung tâm thành phố
đến 11 huyện, đến các cửa khẩu. Có 15000 máy thuê bao, hàng nghìn di động.
Về giáo dục
Trên địa bàn tỉnh có 25 trường học: 8 trường tiểu học, 7 trường trung học cơ
sở, 3 trường trung học phổ thông trọng điểm.Cơ sở trang thiết bị ngày càng được
nâng cao,đội ngũ cán bộ giáo viên nhiệt tình có trình độ chuyên môn sâu.
Về y tế
Ytế ngày càng được đầu tư và phát triển, nâng cao trang thiết bị,đội ngũ cán
bộ,phục vụ đảm bảo sức khỏe người dân.Vùng có 4 bệnh viện cấp tỉnh, 1 trung y tế
cấp thành phố và 8 trạm y tế cấp phường và nhiều đơn vị khám chữa bệnh nhỏ lẻ
cấp giấy phép an toàn.
Về du lịch
mận... Một số cây: chè, thuốc lá, cây thông, bạch đàn.
TP Lạng Sơn trở thành trung tâm kinh tế chính trị văn hóa lớn nhất của tỉnh
với vai trò là một tỉnh biên giới nên dễ bị các thế lực trong và ngoài nước chống
phá và lôi kéo. Vì vậy việc phát triển kinh tế xã hội luôn phải đi đôi bền vững hội
nhập mà không hòa tan.
II. Đặc điểm các thành phần tự nhiên khu vực thành phố Lạng Sơn
1. Đặc điểm địa chất địa hình
a. Đặc điểm địa chất
Trong quá trình thực địa địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn, tuyến đi
khảo sát địa chất được chia làm 12 điểm khảo sát địa chất.
Đặc điểm các loại đá
Ta có thể thấy khu vực thành phố Lạng Sơn có 6 loại đá khác nhau với tuổi từ cổ
đến trẻ. Cụ thể :
- Đá vôi tuổi cacbon permi sớm thuộc hệ tầng Bắc Sơn - C-P1BS:
Ảnh 4: núi đá vôi xám sáng tuổi C-P1BS - ảnh Nguyễn Thị Trang K65B
Đá vôi tuổi cacbon permi sớm thuộc hệ tầng Bắc Sơn C-P1BS, theo nghiên
cứu thì đây thuộc loại đá cổ nhất được tìm thấy ở khu vực Lạng Sơn. Phân bố nhiều
nơi như núi Tô Thị, khu vực động Nhất – Nhị - Tam Thanh, thuộc hệ tầng Bắc Sơn
với độ dày khoảng 500-600m có màu xám trắng hoặc xám sẫm, đá cứng không
phân lớp có độ chia cắt rõ rệt.
Loại đá này thuộc đá trầm tích có nguồn gốc từ biển vật liệu là san hô. Diễn
ra ba quá trình phong hóa vật lý, hóa học, sinh học.
Trong đá vôi nơi này, tìm thấy hóa thạch của 1 số loài sinh vật như san hô,
rêu và các nhóm động vật tạo đá như trùng thoi.
Tại điểm khảo sát số 1: khu vực trạm biến thế áp cao 110KV nhìn lên các núi
đá vôi ta có thể nhận thấy khu vực này là một thung lũng catxtơ bao quanh là các
núi đá vôi xám sáng tuổi C-P1BS có chu vi khoảng 1km, vỏ phong hóa màu đỏ
vàng và đen xen kẽ nhiều đá vôi có bề dầy không cố định. Rêu mốc làm cho đá gốc
đường vòng cung... Diễn ra các quá trình phong hóa học, phong hóa cạnh. Quá
trình phong hóa bóc vỏ lắng đọng chôn vùi trầm tích ở trên đồi dẫn đến việc xảy ra
quá trình hóa học, cơ học, sinh học. Quá trình phong hóa hóa học diễn ra mạnh mẽ
kết hợp với phong hóa cơ học chịu áp lực tầng trên lớn áp lực thay đổi theo thời
gian tác động của nhiệt độ yếu tố môi trường làm đá bị tách, bị nứt, bóc vỏ, xuất
hiện các khe nứt nhỏ khi mưa xuống ăn mòng đào sâu các khe rách tạo nên phong
hóa bóc vỏ. Phong hóa cạnh là bị lăn lóc kết hợp với tác động của vận tốc nước nên
hình dạng của đá là hình tròn hoặc bầu dục.Phong hóa một phần từ trên xuống dễ
dàng nhìn thấy các mặt phân lớp và hướng nằm của các trầm tích lục nguyên.Tuy
nhiên nhìn được các lớp mịn là sét kết và bột kết với phân lớp mỏng khoảng 0,51,5m. Có thế nằm chỉnh hợp mạch canxit .
Ảnh 6: Uốn ếp dẻo của đá trầm tích lục nguyên
- Đá phun trào riolit tuổi (T 2 ) - hệ tầng Khôn Làng:
Sự phân bố của loại đá này tập trung ở phía Tây Bắc thành phố, khu vực
bệnh viện lao phổi… Có chiều dày khoảng 220 – 230m, đá có dạng khối,kiến trúc
nổi ban, là đá macma hình thành trong giai đoạn trung sinh do vận động tạo
núi.Kích thước một thấu kính đá cấu tạo dạng khối với chiều dài là 7m,rộng 2-3 m.
Ở khu vực phía Bắc có các uốn nếp dẻo, giòn và tạo nên đứt gãy do được nâng lên,
từ đó làm macma phun trào và đem theo các khoáng vật. Khi nhiệt độ và áp suất
giảm các khoáng vật cùng loại liên kết với nhau. Các khoáng vật hạt to nổi lên trên
như thạch anh, mica có màu sẫm. Đá T 2 là loại đá cứng dễ bị phong hóa. Riolit là
đá phun trào, gồm có các ban tinh sáng màu nổi lên trên nền đá sẫm màu. Đá riolit
ta có thể thấy được ở khu vực thác Trà và thác Nghệt. Tuy đây là loại đá cứng
nhưng khi gặp nhiệt độ thay đổi đột ngột và độ ẩm lớn sẽ dễ bị phá vỡ liên kết tạo
ra hiện tượng trượt lở.
Ảnh 7: Đá phun trào riolit tuổi (T 2 )- ảnh Nguyễn Thị Trang K65B
Quá trình ngoại sinh là quá trình xảy ra bên trên bề mặt hoặc ở độ sâu không
lớn của bề mặt thạch quyển, gồm các quá trình phá hủy, vận chuyển, bồi tụ…
Trong quá trình ngoại sinh gồm có các quá trình phong hóa và quá trình địa chất
của nước.
+ Quá trình phong hóa:
Quá trình phong hóa có 3 dạng là phong hóa hóa học, phong hóa vật lý và
phong hóa sinh học. Ở mỗi loại đá trầm tích thì lại chịu ảnh hưởng của các quá
trình phong hóa khác
Đá vôi tuổi C – P chịu ảnh hưởng của cả 3 quá trình phong hóa, nhưng ảnh
hưởng lớn nhất là quá trình phong hóa hóa học tạo ra hang động do tác động của
các chất hóa học do rễ cây tiết ra, các chất hóa học này sẽ tạo ra các phản ứng hóa
học làm hòa tan đá vôi, tạo ra các khe nứt.
Đá tuổi T 1 , điển hình là phong hóa hình cầu do các điều kiện của tự nhiên
như nhiệt độ, chế độ nước làm cho hình dạng của đá có hình cầu đặc trưng. Đá vôi
tuổi T 2 là loại đá cứng nên dễ bị quá trình phong hóa hòa tan các chất. Mặt khác
quá trình hòa tan còn phụ thuộc vào thành phần các nguyên tố hóa học tạo nên
khoáng vật và đá, nhưng quá trình này cũng đã làm thay đổi được một số nguyên tố
dễ bị hòa tan và làm biến dạng khoáng vật và đá. Đá tuổi N chịu tác động chủ yếu
của phong hóa sinh học, lá cây, cành cây rụng xuống đất chịu tác động của nhiệt
độ, độ ẩm… Sau thời gian dài tạo thành cá trầm tích. Trầm tích Q được thể hiện rõ
ở quá trình phong hóa hóa học. Vào các mùa khác nhau như mùa mưa và mùa khô
thì quá trình phong hóa hóa học có tác động khác nhau và tạo ra các trầm tích khác
nhau.
+ Quá trình hoạt động của nước:
Quá trình hoạt động của nước thể hiện ở nước ngầm và nước mặt (hoạt động
của dòng chảy). Quá trình của nước ngầm bào mòn các lớp đất đá tạo ra các hang
động ngầm,các mỏ nước ngầm.điển hình như Giếng Tiên,động Tam Thanh... Hoạt
động của dòng chảy thì có dòng chảy thường xuyên và không thường xuyên. Dòng
Lạng Sơn có khí hậu tương đối khô, lượng mưa trung bình là 1391 mm,với số ngày
mưa từ 130- 135 ngày trong năm, mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 lượng mưa
còn có sự thay đổi. Vào mùa mưa thường xảy ra các trận lũ sạt lở mưa đá, gây khó
khăn cho cuộc sống người dân. Mưa ít từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau chỉ từ 100
mm đến 200 mm. Vào mùa khô nhiều đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa phùn.
Độ ẩm tương đối cao trên 80% phân bố đều trong năm cho phép vùng phát
triển đa dạng cây trồng ôn đới, á nhiệt đới đặc biệt trồng cây ăn quả cây công
nghiệp dài ngày và một số cây lấy gỗ lấy nhựa...
Các hiện tượng sương muối rét đậm rét hại gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất
nông nghiệp.
Biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa khu vực TP Lạng Sơn:
3. Đặc điểm thủy văn:
Biểu đồ thể hiện lưu lượng dòng chảy trung bình tháng, năm trạm thủy văn
Lạng Sơn (m3/s)
Các sông suối phân bố ở phía nam TP Lạng Sơn và một số nơi khác trong
vùng. Vùng có duy nhất con sông Kỳ Cùng chảy qua TP, theo hướng từ đông sang
tây. Đây là con sông đặc biệt con sông này bắt nguồn từ Đình Lập Lạng Sơn theo
hướng Đông Nam – Tây Bắc sau đó hợp với sông Bằng Giang đổ sang Trung Quốc,
nó không giống với các con sông khác sông này chảy ngược và không đổ ra biển
Đông.
Ảnh 10: một đoạn của con song Kì Cùng
Với diện tích lưu vực là 6660 km2, nội tỉnh 6500 km2 trong phạm vi thành
phố sông có chiều dài là 19 km chảy qua các địa hình khác nhau, chịu ảnh hưởng
của các tác động điều kiện môi trường cấu trúc khe nứt đứt gãy nên hướng chảy chế
Rừng lạng sơn là một một trong những thế mạnh nổi bật của TP Lạng Sơn,
rừng không chỉ có tác động cân bằng hệ sinh thái cả về đất, chống sói mòn sạt lở,
điều tiết nước ngầm, cung cấp sản phẩm nông sản dược liệu, nguyên liệu cho các
ngành kinh tế và đời sống. Đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc
phòng , phát triển du lịch.
Rừng ở Lạng Sơn có 65 loại, 279 loài thực vật với nhiều cây đặc thù của địa
hình. Các cây lấy gỗ quý hiếm như Hoàng Đàn, nghiến, nhiều loại dược liệu có giá
trị, nhiều cây đặc sản như quế, hồi, dẻ...
Giới động vật ở Lạng Sơn khá phong phú lớp thú có 8 bộ 24 họ với 56 loài,
lớp chim có 14 bộ, 46 họ, 200 loài. Lớp bò sát có 3 bộ 17 họ với 50 loài và hàng
chục họ lớp cá. Một số động vật như cáo, gấu, ngựa, hươu sa, sóc bụng đỏ, tê tê,
khỉ mốc... được tìm thấy trong khu vực này.
Dưới đây là phiếu khảo sát trong một khu vực khảo sát quần xã thực vật trên
đồi núi Văn Vỉ:
Thời gian: Sáng ngày 11-5-2016.
Điều kiện thời tiết: Trời nắng, khí hậu thuận lợi.
Địa điểm: đồi Văn Vỉ
Độ cao: 410 m, độ dốc nhỏ.
Loại đất chính: đất cát pha, đất feralit đồi núi.
Độ che phủ 87%
PHIẾU KHẢO SÁT THỰC ĐỊA TUYẾN LẠNG SƠN
Nhóm khảo sát: k65B
Vị trí, đặc điểm nơi khảo sát:
Tên quần xã:quần xã thông
TT TÊN
QUẦ
N
sần bao
quanh;
• Lá
kim,cứng
dài khoảng
10cm:
• Rễ cọc;các
cành mọc
gần đối
xứng nhau;
• Quả hình
nón màu
nâu,dài 34cm có
nhiều
vảy,xếp
hình xoắn
ốc
• Giai đoạn
phát
triển:đang
phát triển
• Làm
thuốc :
ngoài
da,mụn
nhọt,đa
u nhức
răng …
Cỏ
gianh
0.7KG
Si
2 cây
• Cây
màu
xanh
• Thân cỏ
• Lá dẹp dài
khoảng
70cm
• Rễ cọc
• Phân bố rải
rác khu vực
khảo sát
• Đang trong
giai đoạn
phát triển
• Thức
• Cây
Mâm
xôi
2 cây
• Thân
dây
leo,màu
tím
• Lá gần tròn
màu tím
• Thân và lá
phủ long,có
mùi đặc
trưng
• Giai đoạn
phát
triển:cây
con
• Làm
• Thân leo
• Lá,thân
• Quả,
màu