BẢO vệ QUYỀN tự DO của CON NGƯỜI BẰNG PHÁP LUẬT tố TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO CỦA CON NGƯỜI
BẰNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Chuyên ngành

: TS. Trịnh Tiến Việt
: Nguyễn Thị Ngọc Anh
: 10065005
: Tư pháp hình sự

Hà Nội, tháng 5 năm 2014


MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................... 2
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP..........4
1.1.Khái niệm pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp (M&A)....................................................4
1.1.1.Khái niệm mua lại doanh nghiệp.................................................................................................4
1.1.2.Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp...............................................................................................6
1.1.3.Phân biệt mua lại và sáp nhập doanh nghiệp..............................................................................7
1.2.Động lực thúc đẩy hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp....................................................11

2.2.2. Một số tồn tại trong khung pháp lý mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.................39

CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VÀ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP..........48
Ở VIỆT NAM.................................................................................................................48
3.1. Sự cần thiết trong việc hoàn thiện khung pháp lý của hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
ở Việt Nam..............................................................................................................................................48
3.2. Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý của hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
................................................................................................................................................................49
3.2.1. Có cần thiết phải xây dựng một luật riêng điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp.................................................................................................................................................49
3.2.2. Định hướng chung trong việc ban hành các quy định về M&A.................................................50
3.2.3. Những giải pháp cụ thể để hoàn thiện khung pháp lý về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp...51
3.3. Kiến nghị nhằm đảm bảo thực thi hiệu quả các quy định về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp....55
3.3.1. Nâng cao nhận thức pháp luật của các chủ thể kinh tế và các cơ quan thi hành pháp luật......55
3.3.2. Nâng cao tính khả thi của các quy định pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.........56
3.3.3. Ban hành đầy đủ và kịp thời các văn bản và tài liệu hướng dẫn...............................................57
3.3.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các ban ngành để đảm bảo kiểm soát vĩ mô đối với hoạt động
mua lại và sáp nhập doanh nghiệp.....................................................................................................57

KẾT LUẬN..................................................................................................................... 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................60


LỜI CẢM ƠN
Kính gửi đến các thầy cô giáo Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội lòng biết ơn
sâu sắc vì đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt bốn năm học vừa qua.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Bùi Ngọc Cường, giảng viên
Bộ môn Luật kinh doanh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn em trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

doanh nghiệp ở Việt Nam, căn cứ vào đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
khung pháp lý và đảm bảo thực thi pháp luật về hoạt động mua lại và sáp nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động mua
lại và sáp nhập doanh nghiệp bao gồm các quan điểm, tư tưởng pháp lý về hoạt động
mua lại và sáp nhập doanh nghiệp cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về mua lại và
sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở phạm vi khóa luận tốt nghiệp, em xin đi sâu vào nghiên cứu những
vấn đề pháp lý cơ bản nhất liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp tại
Việt Nam và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra những kiến
1

Word Trade Organization

1


nghị nhằm hoàn thiện các cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại và sáp nhập
doanh nghiệp tại Việt Nam.
Về mặt không gian, khóa luận chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hoạt động mua lại
và sáp nhập doanh nghiệp trong quy định của pháp luật Việt Nam. Sở dĩ, tác giả chỉ
lựa chọn Việt Nam vì nhận thấy cách tiếp cận về hoạt động mua lại và sáp nhập doanh
nghiệp của Việt Nam còn tương đối khác so với thế giới, dễ gây nhầm lẫn và khó khăn
trong quá trình thương vụ mua lại và sáp nhập doanh nghiệp của nhà đầu tư cũng như
cơ quan thực thi. Đồng thời nguồn tài liệu liên quan đến hoạt động mua lại và sáp nhập
doanh nghiệp của các nước khác cũng chưa thực sự rõ ràng.
Về mặt thời gian, do M&A là hoạt động thương mại tương đối mới tại Việt

doanh nghiệp này.
6. Kết cấu của đề tài
Nội dung khóa luận gồm có ba chương:
Chương I: Khái quát về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
Chương II: Thực trạng pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và đảm bảo thực thi
pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

3


CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1.

Khái niệm pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp (M&A)
M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions” có nghĩa là

Mua lại và Sáp nhập) là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ
phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó.
Như vậy, nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các thành
viên trong công ty mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A
liên quan đến vấn đề sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc tạo ra
những giá trị mới cho chủ sở hữu.
M&A dường như trở thành một cụm từ được phát âm cùng nhau. Tuy nhiên,
trên thực tế chúng có những điểm khác biệt và cần hiểu rõ giữa mua lại và sáp nhập
doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm mua lại doanh nghiệp
Xem xét các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến mua
doanh nghiệp sẽ đưa đến khẳng định: các quy định này tồn tại rải rác trong nhiều văn
bản pháp luật khác nhau như Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật

2 Nghị định này là việc chuyển sở hữu có thu tiền toàn bộ doanh nghiệp hoặc bộ phận
doanh nghiệp sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác. Khái niệm trên đã
xác định được bản chất của quan hệ mua bán doanh nghiệp là chuyển quyền sở hữu
doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có thu tiền. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ áp
dụng khi bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chứ không áp dụng với các loại hình
doanh nghiệp khác.
Điều 56 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật đầu tư tuy không đưa khái niệm về mua lại
doanh nghiệp nhưng đã quy định nhà đầu tư nước ngoài có quyền mua bán toàn bộ
doanh nghiệp dưới hình thức sáp nhập, mua lại2.
Tiếp cận dưới góc độ luật cạnh tranh “mua lại doanh nghiệp là việc một doanh
nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát,
chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”3. Theo quy định
này, mua bán doanh nghiệp là được coi là hành vi tập trung kinh tế, tuy nhiên việc
mua lại mang đến cho bên mua quyền kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành
nghề.
Tóm lại dưới góc độ pháp lý, mua bán doanh nghiệp được hiểu “mua bán
doanh nghiệp là mua bán toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp nhằm chi
phối toàn bộ hoặc một ngành nghề, một lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp bị mua
lại. Các quy định về mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, mua bán doanh

2

Khoản 3, 4 Điều 56 Nghị định 108/2006: Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
đang hoạt động tại Việt Nam thì thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp giấy Chứng nhận đầu tư theo quy định tại
Nghị định 108/2006. Việc nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam
phải tuân thủ về điều kiện tập trung kinh tế quy định trong luật cạnh tranh và Điều 153 Luật doanh nghiệp
3

Khoản 3 Điều 17 Luật cạnh tranh 2005

nghiệp thì sáp nhập doanh nghiệp được đề cập đến trong các văn bản pháp luật dường
như có sự thống nhất hơn và quy định cụ thể chi tiết hơn từ Bộ luật dân sự đến các đạo
luật chuyên ngành như Luật doanh nghiệp, Luật cạnh tranh…
Khoản 1 Điều 153 Luật doanh nghiệp 2005 có quy định “Một hoặc một số
công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công
ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt
4

Trần Thị Bảo Ánh: Hợp đồng mua bán doanh nghiệp, giáo trình một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động
thương mại và kĩ năng đàm phán, soạn thảo, trang 122

6


sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. Trong khi đó Điều 17 Luật cạnh tranh cũng đưa ra
khái niệm về hoạt động sáp nhập doanh nghiệp tương đối sát với khái niệm trong Luật
doanh nghiệp tuy nhiên theo cách hiểu rộng hơn, không giới hạn thương vụ sáp nhập
doanh nghiệp chỉ được diễn ra giữa các công ty cùng loại “Sáp nhập doanh nghiệp là
việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích
hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của
doanh nghiệp bị sáp nhập”
Tóm lại, sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp (doanh
nghiệp bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị
sáp nhập.
Từ khái niệm sáp nhập doanh nghiệp trên ta cũng có thể khái quát một số đặc
điểm của hoạt động sáp nhập doanh nghiệp;
Thứ nhất, đối tượng của thương vụ sáp nhập doanh nghiệp là toàn bộ tài sản,
quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mục tiêu.

có tồn tại hay không sẽ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của doanh nghiệp đi mua lại,
nếu doanh nghiệp bị mua lại vẫn tiếp tục hoạt động như một chủ thể kinh doanh độc
lập thì nó sẽ trở thành một công ty con trong tập đoàn kinh tế.
Thứ ba, bản chất của hoạt động M&A là sở hữu công ty tuy nhiên trong hoạt
động sáp nhập buộc các bên tham gia bình đẳng thì mua lại khó có sự bình đẳng mà
thường mang tính chất thôn tính.
Khi một doanh nghiệp tiếp quản một doanh nghiệp khác và đặt mình vào vị trí chủ sở
hữu thì như vậy đã hình thành một giao dịch mua lại. Doanh nghiệp bị mua lại thường
ngừng hoạt động và doanh nghiệp đi mua lại thường nuốt trọn hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp bị mua lại đó. Còn theo cách hiểu thông thường sáp nhập thường
diễn ra giữa hai hay nhiều doanh nghiệp có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại với nhau.
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động sáp nhập ngang bằng này thường hiếm khi xảy ra vì
một vài lý do trong đó nổi lên là vấn đề truyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi
cho cả công ty sáp nhập và công ty nhận sáp nhập.
Thứ tư, mua lại doanh nghiệp mang bản chất của giao dịch mua bán tài sản theo
quy định của luật dân sự chính vì vậy bên bán doanh nghiệp phải chuyển giao tài sản
doanh nghiệp đủ để bên doanh nghiệp mua lại nắm quyền kiểm soát chi phối hoạt
động của doanh nghiệp bị mua lại. Bên mua doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán
tiền cho bên bán. Bên bán sẽ không còn quyền sở hữu, từ bỏ quyền sở hữu của mình
đối với một phần hoặc toàn bộ tài sản đã bán. Trong khi đó, đối với thương vụ sáp
nhập, bên nhận sáp nhập có thể trả tiền cho bên bị sáp nhập hoặc thực hiện các điều
kiện khác.
Lưu ý, các trường hợp mua bán toàn bộ doanh nghiệp và sáp nhập doanh nghiệp rất
giống nhau, chỉ khác nhau chủ yếu là lựa chọn về hình thức tồn tại của doanh nghiệp
mục tiêu và thủ tục pháp lý phải thực hiện trong các thương vụ mua bán và sáp nhập
doanh nghiệp mục tiêu.

8




PHÂN BIỆT

SÁP NHẬP

Là việc một doanh nghiệp mua Là việc một hoặc một số doanh
toàn bộ hoặc một phần tài sản nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
của doanh nghiệp khác đủ để quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
Khái niệm

kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc pháp của mình sang một doanh
một ngành nghề của doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt
nghiệp bị mua lại

sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp

nhập
Một doanh nghiệp mua: bên Một doanh nghiệp sáp nhập: bên
Chủ thể

mua
nhận sáp nhập
Một hoặc một số doanh nghiệp Một hoặc một số doanh nghiệp:
khác: bên bán/doanh nghiệp bên bị sáp nhập
mục tiêu
Toàn bộ hoặc một phần tài sản Toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ

Đối tượng

của doanh nghiệp mục tiêu


thông tin đăng ký kinh doanh
Lợi ích kinh tế trong trường hợp Vị thế của doanh nghiệp nhận sáp
thân thiện tự nguyện
nhập sẽ tăng lên
Tôn tính tiêu diệt đối thủ cạnh
10


Hình thức

tranh trong trường hợp thù địch
Mua bán theo ngang: mua bán Dựa vào cấu trúc tài chính
+ Sáp nhập mua: việc mua công ty
diễn ra giữa các doanh nghiệp
được tiến hành bằng tiền mặt hoặc
kinh doanh cùng loại hàng hóa
thông qua một số công cụ tài chính
nhưng trong các chu trình khác
cụ thể
nhau
+ Sáp nhập hợp nhất: tài chính của
Ví dụ: Công ty Thủy sản Hùng
2 công ty sẽ được hợp nhất trong
Vương mua Lâm Thủy sản Bến
công ty mới
Tre FBT nhằm mở rộng diện
Dựa vào cấu trúc của từng doanh
tích vùng nuôi nguyên liệu đầu
nghiệp


nghiệp

hơn.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp, 2014

1.2.

Động lực thúc đẩy hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp

1.2.1. Động lực hiệu quả kinh tế
Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy hoạt động M&A. Lợi thế của quy mô sản
xuất lớn thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp chính là tạo ra hiệu
quả kinh tế, trong khi các chi phí cố định hoặc giảm xuống hoặc không tăng lên cùng
quy mô này nên hiệu quả kinh tế nhờ đó được nâng cao. Mặt khác, khi qui mô sản xuất
lớn được triển khai sẽ đem lại sự cộng hưởng. Sự cộng hưởng là động cơ quan trọng
11


giải thích cho mọi thương vụ mua lại và sáp nhập doanh nghiệp. Cộng hưởng sẽ cho
phép hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:
- Giảm nhân viên: nói chung sáp nhập doanh nghiệp thường có khuynh hướng
giảm việc làm. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ
các công việc văn phòng, tài chính, kế toán hay makerting. Việc giảm thiểu vị trí công
việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây là cơ hội tốt để các
doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc thiếu hiệu quả.
- Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn lúc nào cũng có thế
hơn khi giao dịch với các đối tác, kể cả mua văn phòng phẩm thì công ty lớn vẫn có ưu
thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ. Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp giảm
thiểu chi phí.

Đa dạng hóa đầu tư có tác dụng làm giảm rủi ro của doanh nghiệp. Bởi vậy,
việc đầu tư mua một doanh nghiệp không cùng tuyến sản phẩm kết hợp theo phương
thức liên ngành sẽ đem lại cho doanh nghiệp một nguồn thu nhập ổn định hơn. Đó là
chưa kể đến việc đa dạng hóa đầu tư còn có thể giúp nâng cao tỷ suất sinh lời của
doanh nghiệp và mang lại cho cổ đông sau thương vụ mua lại và sáp nhập nhiều lợi
nhuận hơn.
1.3.

Vai trò của pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp

1.3.1. Tạo ra hành lang pháp lý cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp.
Các quan hệ xã hội về đầu tư kinh doanh càng phát triển thì xu hướng sáp nhập
và mua lại doanh nghiệp càng phát triển mạnh do việc đầu tư thành lập doanh nghiệp
mới ở một mức độ nào đó không đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bởi vậy, việc có một
hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể để điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp là đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế.
Pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp tạo thành hành lang pháp lý cho
các nhà đầu tư thực hiện hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp. Hành lang pháp
lý này đảm bảo cho các thương vụ M&A diễn ra lành mạnh, phù hợp với các nguyên
tắc chung của hệ thống pháp luật, đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các
đối tượng liên quan đến quá trình này và đồng thời cũng góp phần hạn chế được hiện
tượng thất thu thuế do không có quy phạm pháp luật điều chỉnh cụ thể.
1.3.2. Giữ vai trò thúc đẩy hoạt động tập trung kinh tế
Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp hợp lý, kinh doanh hiệu
quả, giúp các doanh nghiệp phát huy được tính chủ động và khai thác tối đa quyền tự
do kinh doanh.
Hệ thống quy phạm pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp có vai trò thúc
đẩy hoạt động tập trung kinh tế một cách hợp lý lành mạnh từ đó giúp các nhà đầu tư và
các doanh nghiệp có thêm một sự lựa chọn tốt trong việc ra các quyết định đầu tư kinh

lao động làm trong các doanh nghiệp bị mua lại hay bị sáp nhập là đối tượng đầu tiên
bị ảnh hưởng do thất nghiệp từ hoạt động M&A này. Người tiêu dùng cũng sẽ gánh
chịu hệ lụy từ hoạt động này như rủi ro tài chính do giá cổ phần của công ty bị sáp
nhập thụt giảm. Như vậy, việc đảm bảo quyền lợi của các nhóm chủ thể có số lượng
lớn, có tác động sâu rộng tới sự phát triển kinh tế, một vai trò quan trọng thiết yếu của
pháp luật về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp trong yêu cầu phát triển của mô hình
kinh tế hiện đại.

14


1.4.

Các phương thức giao dịch mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
Việc xử lý các vấn đề định giá thương vụ M&A, phương thức thanh toán, chia –

nhập cổ phiếu, tài sản, thương hiệu, cơ cấu, tổ chức của doanh nghiệp bị M&A, các
vấn đề hậu M&A là những nội dung nằm trong phạm vi thỏa thuận giữa các bên liên
quan, được thể hiện trên bản hợp đồng M&A giữa các công ty đó. Các thỏa thuận này
mang tính chất chuyên biệt hóa đậm nét và sẽ là căn cứ cao nhất để xử lý tất cả các vấn
đề liên quan hậu chuyển đổi với điều kiện không vi phạm các quy định pháp luật về
doanh nghiệp, cạnh tranh và thuế. Do đó, cách thức thực hiện M&A cũng rất đa dạng
tùy thuộc vào mục tiêu, đặc điểm quản trị, cấu trúc sở hữu và ưu thế so sánh của các
doanh nghiệp liên quan trong từng trường hợp cụ thể. Có một số phương thức giao
dịch mua lại và sáp nhập doanh nghiệp thường được sử dụng.
1.4.1. Mua cổ phần
Tham gia mua cổ phần khi doanh nghiệp tăng vốn điều lệ hoặc đấu giá phát
hành cổ phiếu ra công chúng. Đây là hình thức thâu tóm một phần nhưng đủ để định
đoạt quyền sở hữu và quản trị theo mục tiêu chiến lược của bên mua. Một số doanh
nghiệp của Việt Nam cũng thành công nhờ chiến lược này ở giai đoạn đầu của quá

sở hữu cũng như quản lý công ty của mình
Hình thức đặt giá chào thầu này thường được áp dụng trong các vụ thôn tính
mang tính “thù địch” đối thủ cạnh tranh. Công ty bị mua thường là công ty yếu hơn.
Tuy nhiên, vẫn còn có một số trường hợp một công ty nhỏ thâu tóm công ty lớn hơn,
đó là khi họ huy động được nguồn tài chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiện vụ
thôn tính như: sử dụng thặng dư vốn, huy động vốn từ cổ đông hiện hữu, thông qua
phát hành cổ phiếu mới hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu chuyển đổi
hoặc vay từ các tổ chức tín dụng.
Điểm đáng chú ý trong thương vụ “chào thầu” là ban quản trị công ty bị mua bị mất
quyền định đoạt, bởi đây là sự trao đổi trực tiếp giữa công ty mua và cổ đông của công
ty bị mua. Thông thường, ban quản trị và các vị trí quản lý chủ chốt của công ty bị
mua sẽ bị thay thế, mặc dù thương hiệu và cơ cấu tổ chức của nó vẫn có thể được giữ
lại mà không nhất thiết bị sáp nhập hoàn toàn vào công ty thôn tính. Để chống lại vụ
sáp nhập bất lợi cho mình, ban quản trị công ty bị mua có thể thực hiện một số biện
pháp nhằm chống lại sự thôn tính này như tìm kiếm sự trợ giúp/ bảo lãnh tài chính
mạnh hơn, để có thể đưa ra mức giá chào thầu cao hơn mức chào thầu của công ty
định mua.
- Lôi kéo cổ đông bất mãn
Phương thức này thường được sử dụng trong những thương vụ “thôn tính mang
tính chất thù địch” lẫn nhau. Khi một công ty lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém
và thua lỗ, có một bộ phận không nhỏ các cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản
trị và điều hành công ty của mình. Công ty cạnh tranh có thể lợi dụng tình huống này
để lôi kéo cổ đông đó. Công ty cạnh tranh sẽ mua lại số lượng lớn cổ phần đủ để chi

16


phối, công ty cạnh tranh, các cổ đông bất mãn sẽ triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông
và bầu đại diện của công ty cạnh tranh vào Hội đồng quản trị mới.
- Thương lượng giữa các ban quản trị

các nhà đầu tư thứ cấp để phát triển. Ví dụ: Tập đoàn Bảo Sơn (chủ đầu tư), Công ty D&T

17


(nhà đầu tư thứ cấp) với khách hàng cá nhân mua bất động sản thuộc dự án của Bảo Sơn.
Như vậy, trong trường hợp này ngay từ đầu các bên tham gia phải chặt chẽ về hình thức
M&A để hạn chế những tranh chấp phức tạp phát sinh sau này.
- Mua nợ
Đây là một trong những hình thức tiến hành M&A gián tiếp. Khi một doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán và không thể trả nợ, chủ nợ có thể tìm một doanh
nghiệp có khả năng tài chính mua lại phần nợ với giá thỏa thuận. Doanh nghiệp mua
mới sẽ đương nhiên trở thành chủ nợ mới.
Tóm lại, có rất nhiều cách thức thực hiện M&A tùy thuộc vào mục tiêu, đặc
điểm quản trị, cấu trúc sở hữu và ưu thế so sánh của các doanh nghiệp liên quan trong
từng trường hợp cụ thể. Các vấn đề quyết định đến việc lựa chọn phương thức M&A
như xác định giá trị chuyển đổi, chia – nhập cổ phiếu, tài sản, thương hiệu, cơ cấu tổ
chức của công ty sau mua lại và sáp nhập cần được xem xét một cách cụ thể và là
những nội dung thỏa thuận giữa các bên trong bản hợp đồng M&A. Tuy nhiên, có
những trường hợp sau không được coi là mua lại và sáp nhập doanh nghiệp do không
thỏa mãn tiêu chí dẫn đến thay đổi hoạt động quản trị của doanh nghiệp mục tiêu của
mua bán doanh nghiệp.
- Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác nhưng không tham
gia hoạt động quản trị, điều hành, chỉ thuần túy nhận cổ tức hoặc kỳ vọng thặng dư khi
bán lại cổ phần cho các nhà đầu tư khác;
- Một quỹ đầu tư chứng khoán mua cổ phiếu (niêm yết) của một doanh nghiệp
đại chúng trên thị trường chứng khoán và cũng không tham gia quản trị điều hành hoạt
động doanh nghiệp đó;
- Một quy đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) khi đầu tư vốn với tư cách cổ đông
vào các doanh nghiệp và cử đại diện phần vốn góp tại Hội đồng quản trị nhưng vai trò

bán các tài sản thương mại không ảnh hưởng gì tới các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Sau khi bán tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp vẫn hoạt động hoặc
chuyển sang một mảng kinh doanh mới. Bên cạnh đó, việc bán doanh nghiệp là quá
trình làm chấm dứt sự tồn tại tư cách pháp lý của doanh nghiệp cũ, cụ thể là tư cách
này sẽ chấm dứt ngay khi doanh nghiệp được chuyển giao cho người mua. Người mua
muốn khai sinh tư cách pháp lý cho doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của mình phải
thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật như đăng ký kinh doanh lại;
thay đổi nội dung đăng kí kinh doanh. Tuy nhiên, giữa mua bán doanh nghiệp và mua
bán tài sản doanh nghiệp có một điểm giống nhau đó là đều phải tiến hành quá trình
xác định tài sản và định giá tài sản doanh nghiệp: bán doanh nghiệp là việc xác định
toàn bộ tài sản doanh nghiệp để định giá trị doanh nghiệp, trong khi đó bán sản nghiệp
là quá trình xác định sản nghiệp và định giá tài sản đem bán.
Phân biệt giữa việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp và việc thành viên, cổ
đông công ty chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần của mình trong công ty.
Người bán toàn bộ doanh nghiệp phải là chủ sở hữu tất cả tài sản của doanh
nghiệp. Bên bán chỉ tham gia đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp khi
được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu doanh nghiệp nếu các doanh nghiệp đó
5

Điều 97 Luật thương mại 2005

19


thuộc loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ. Nếu doanh nghiệp thuộc sở
hữu của một chủ thì việc mua bán doanh nghiệp đơn giản hơn vì quyền quyết định bán
toàn bộ doanh nghiệp sẽ thuộc về người chủ doanh nghiệp đó. Với doanh nghiệp nhiều
chủ sở hữu, Điểm b Khoản 4 Điều 56 Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật đầu tư 2005 quy định về hồ sơ mua lại doanh nghiệp của
nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, hồ sơ phải có “Quyết định của Hội đồng thành viên


20


TÌM KIẾM DOANH NGHIỆP MỤC
TIÊU
THẨM ĐỊNH GIAO DỊCH
ĐÀM PHÁN, GIAO KẾT VÀ THỰC
HIỆN HỢP ĐỒNG
Nguồn: tác giả tự tổng hợp, 2014
1.5.1. Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu
Để đảm bảo M&A thành công, các bên cần lựa chọn nhiều hơn một doanh
nghiệp mục tiêu nếu được. Xuất phát từ việc M&A là nhu cầu của cả hai bên nên
doanh nghiệp mục tiêu ở đây có thể hiểu là bên mua hoặc/và bên bán, chứ không phải
chỉ một mình bên bán. Khi có nhiều doanh nghiệp mục tiêu, các bên sẽ có nhiều
phương án và điều kiện thuận lợi đàm phán giao dịch M&A hơn.
Việc xác định doanh nghiệp mục tiêu về bản chất là lấy được các thông tin
chính xác về các doanh nghiệp này, nhưng không phải bên tham gia M&A nào cũng
dễ dàng có được các thông tin cần thiết. Có nhiều cách thức tiếp cận để có được thông
tin, trong đó việc hợp tác với các tổ chức tài chính như công ty chứng khoán, quỹ đầu
tư… thường mang lại hiệu quả cao.
Trong giai đoạn tìm doanh nghiệp mục tiêu, bên bán có thể phải tiết lộ nhiều
thông tin mật mà không có sự đảm bảo chắc chắn liệu giao dịch M&A có được thực
hiện hay không. Bởi vậy, ngay khi bắt đầu tiếp xúc với bên mua, bên bán có thể đề
xuất ký thoả thuận bảo mật. Thoả thuận bảo mật liên quan đến cả bên bán, bên mua và
bên tư vấn (nếu có); quy định ai chịu trách nhiệm nhận và cung cấp thông tin; đưa ra
danh sách những thông tin không cần bảo mật như thông tin mà công luận đã biết
không phải do hành động vi phạm thoả thuận của bên nhận tin, thông tin vốn thuộc
quyền nắm giữ của bên nhận tin, thông tin do bên nhận tin tự mở rộng, thông tin nhận
từ một nguồn khác mà không có giới hạn về việc sử dụng hay tiết lộ. Thời hạn của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status