NGHIÊN cứu CHẾ tạo vật LIỆU hấp THU dầu TRÊN cơ sở sợi THỰC vật BIẾN TÍNH - Pdf 37

MỤC LỤC


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sản xuất và chế biến dầu mỏ là một trong những ngành công nghiệp quan
trọng ở Việt nam. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngày càng lớn của nó, là
nguy cơ ô nhiễm môi trường biển ngày càng nghiêm trọng. Rò rỉ dầu trong quá
trình vận chuyển, chế biến, và những sự cố do các vụ đắm tàu chở

dầu đã gây

ra ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường biển.
Việc xử lý, khắc phục cũng như các thủ tục bồi thường cho các công
tác này gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự phối hợp tốt giữa các cơ quan quản
lý nhà nước nhằm khắc phục và xử lý một cách nhanh chóng, kịp thời. Ở
nhiều nước trên thế giới và Việt Nam thường sử dụng các phương pháp sau để
khắc phục sự cố tràn dầu: phương pháp hoá học, phương pháp vật lý ( cơ
học ), phương pháp sinh học, phương pháp lý hoá.. Phương pháp cơ học: thực
hiện quây gom, dồn dầu vào vị trí nhất định sau đó hút dầu bằng máy hút,
phương pháp này có ưu điểm là ngăn chặn, khống chế và thu gom nhanh
chóng lượng dầu tràn trên biển. Phương pháp sinh học dùng các vi sinh vật
phân giải dầu như vi khuẩn, nấm mốc, nấm men… nhưng phương pháp này
chỉ có ý nghĩa với sự cố thất thoát dầu ở mức độ nhỏ tại nhà máy lọc dầu hay
kho chứa dầu. Đối với hiện tượng dầu tràn trên mặt nước với lượng lớn thì
phương pháp này không có ý nghĩa. Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp
hoá học khi có hoặc không có sự làm sạch cơ học và dầu tràn trong một thời
gian dài. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, phương pháp hoá lý sử dụng
polyme hấp thu dầu lại được ứng dụng rộng rãi. Có nhiều loại polyme khác
nhau được sử dụng hấp thu dầu trên mặt nước từ các polyme thiên nhiên như
sợi bông, đay, bột gỗ, vỏ cây…và các polyme tổng hợp, các polyme này có ưu

Khảo sát khả năng hấp thu dầu và nước của vật liệu
4. Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần giải quyết ô nhiễm môi trường nước biển

2


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Sự cố tràn dầu và các phương pháp xử lý ô nhiễm tràn dầu
1.1.1. Vấn đề ô nhiễm do sự cố tràn dầu
Sự cố tràn dầu trên biển đe dọa đến môi trường bờ biển và hệ sinh thái
biển. Hơn nữa, dầu tràn còn làm thất thoát một lượng lớn nguồn năng lượng
trên thế giới. Hiện tượng tràn dầu chủ yếu do các nguyên nhân như: hoạt động
thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến dầu, do chiến tranh và do các hiện
tượng thiên nhiên. Hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân
quan trọng gây ô nhiễm biển. Sự cố rò rỉ dầu, tràn dầu của các tàu thuyền trên
biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển. Bên cạnh các nguồn ô
nhiễm nhân tạo, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa
phun, bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v.v...
Khi dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tràn ra ngoài môi trường sẽ gây
phá hủy nhiều hệ sinh thái khác nhau. Dầu thô bị tràn ra môi trường biển sẽ lơ
lửng trên mặt nước bởi tỷ trọng của nó nhỏ hơn nước biển. Tỷ trọng trung
bình của dầu khoảng 0,83-0,95, trong khi đó tỷ trọng của nước nguyên chất là
1,0 và của nước biển là 1,025 [2]. Do dầu nổi trên mặt nước và dễ bám dính
vào da, lông động vật nên ngoài các loài động thực vật thủy sinh thì các loài
chim săn mồi trên biển cũng bị ngấm dầu và bị chết [37]. Sự cố tràn dầu năm
1967 ở Anh đã làm 10,000 con chim biển bị nhiễm dầu và có tới 90% trong số
đó đã bị chết trước khi bờ biển này được làm sạch.
a)Ảnh hưởng của ô nhiễm dầu đến hệ sinh thái và môi trường [49]
Sự cố ô nhiễm dầu ảnh hưởng nghiên trọng đến các hệ sinh thái, đặc

CH4, làm tăng pH trong môi trường sinh thái. Dưới ảnh hưởng của các hoạt
động sinh- địa hóa, dần dần dầu bị phân hủy, lắng đọng và tích lũy trong các
lớp trầm tích của hệ sinh thái, làm tăng cao hàm lượng dầu trong trầm tích,
gây độc hại cho các loài sinh vật sống trong nền đáy và sát đáy biển.

4


b) Ảnh hưởng của ô nhiễm dầu đến kinh tế- xã hội [48]
Dầu lan trên biển và dạt vào bờ trong thời gian dài không được thu gom
sẽ làm suy giảm lượng cá thể sinh vật, gây thiệt hại cho ngành khai thác và
nuôi trồng thủy, hải sản. Các nguồn lợi thủy - hải sản là đối tượng chịu tác
động tiêu cực mạnh mẽ của sự cố ô nhiễm dầu. Giá trị sử dụng của thủy-hải
sản bị giảm bởi mùi khó chịu do dầu gây ra. Dầu gây ô nhiễm môi trường làm
cá chết hàng loạt do thiếu oxy hòa tan trong nước. Dầu bám vào đất đá, kè đá,
các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây mùi khó chịu đối với du khách khi tham
quan du lịch, nghỉ dưỡng, dẫn đến doanh thu của ngành du lịch đã bị thiệt hại
nặng nề. Ngoài ra, dầu tràn làm ảnh hưởng đến sự hoạt động của các cảng cá,
cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu biển. Máy móc, thiết bị khai thác tài nguyên
và vận chuyển đường thủy bị hư hỏng hoặc bị ăn mòn. Sự cố môi trường tràn
dầu có thể được xem là một trong những dạng sự cố gây ra tổn thất kinh tế lớn
nhất trong các loại sự cố môi trường do con người gây ra.
1.1.2. Các phương pháp xử lý ô nhiễm dầu
Song song với các công tác phòng tránh tai nạn tràn dầu, chống rò rỉ
giàn khoan thì cần có biện pháp xử lý dầu tràn trên mặt nước. Trước tình hình
đó đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong nghiên cứu để tìm ra các biện pháp xử lý
sự cố tràn dầu. Các phương pháp xử lý dầu có thể được chia thành 3 phương
pháp chính bao gồm: Phương pháp vật lý, phương pháp hóa học và phương
pháp sinh học.
1.1.2.1. Phương pháp vật lý (Hay cơ học)

thông thường: Premium Floor Sweep, Enretech-1, Cellusorb,… (ví dụ như
Enretech-1 có khả năng hút dầu và phân huỷ sinh học dầu, có các loại vi sinh
tồn tại sẵn trong tự nhiên, khi có nguồn thức ăn là các hydrocacbon, các vi
sinh này sẽ phát triển nhanh về lượng chuyển hoá các chất độc hại thành vô
hại. Tuy nhiên, các phương pháp này chỉ sử dụng để xử lý dầu ở khu vực nhỏ
và thường tồn tại dưới dạng các giọt lỏng phân tán hay trộn lẫn, khi các hợp

6


chất hoá học này phân huỷ có thể phá huỷ môi trường biển và phân tán vào cơ
thể độc vật gây nguy cơ nhiễm độc cho sinh vật và cho người sử dụng chúng
làm thức ăn [30].
+ Sử dụng các phương pháp phân huỷ hoá học để xử lý dầu khi lượng
dầu tràn không lớn hoặc trong một số rò rỉ nhỏ tại các bồn chứa xăng dầu.
Phương pháp này chủ yếu là dùng các xúc tác chuyển hoá dưới tác dụng của
ánh sáng mặt trời (hồng ngoại, tử ngoại). Có thể dùng chất hấp thu dạng xốp
kiểu silicagen để hấp thu dầu trên bề mặt chất rồi dùng các chất có khả năng
xúc tác cao như hạt nano TiO 2 để oxi hoá chuyển hoá dầu. Phương pháp này
có ưu điểm là làm sạch rất tốt lượng dầu loang trong nước nhưng với lượng
rất nhỏ và đa số chỉ để sử dụng để loại bỏ các dung môi hữu cơ với nồng độ
rất nhỏ để xử lý nước uống, nước sinh hoạt [44].
+ Các sự cố tràn dầu cũng có thể sử dụng các chất hoạt động bề mặt để
làm sạch, các chất hoạt động bề mặt hoạt động có tính chất như xà phòng
chuyển dầu thanh dạng lơ lửng trong nước. Phương pháp này rất đơn giản, rẻ
tiền nhưng thực chất không xử lý được hoàn toàn dầu tràn. Mặt nước có thể
tránh được dầu nổi nhưng thảm thực vật dưới nước và các loài động vật thuỷ
sinh không tránh được ảnh hưởng. Tuy vậy, phương pháp này vẫn được sử
dụng để xử lý dầu tràn, nhất là khu vực gần bãi biển tắm [43].
+ Với lượng dầu tràn không quá 3mm, có thể làm sạch tới 98% bằng

để ngăn chặn và xử lý kịp thời. Ngoài những phương pháp cơ học và hóa học
đang được sử dụng, xử lý dầu tràn bằng công nghệ sinh học cũng đang được
ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao.
Phương pháp sinh học là phương pháp sử dụng các tác nhân tự nhiên
hay các vi sinh vật (Nấm, vi khuẩn…) để thúc đẩy quá trình phân hủy các
hydrocarbon dầu mỏ. Đó là quá trình tự nhiên do vi sinh vật phân hủy dầu
thành các chất khác. Các sản phẩm có thể tạo ra là CO 2, nước hoặc các phân
tử không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Dầu mỏ là một loại nhiên liệu
rất đặc biêt, trong thành phần của chúng chủ yếu là Hydrocarbon mạch thẳng

8


(Chiếm 30-35%), hydrocarbon mạch vòng (Chiếm 25-75%) và hydrocarbon
thơm (Chiếm 10-15%). Các thành phần hóa học có trong dầu mỏ thường rất
khó phân hủy. Do đó, việc ứng dụng các quá trình sinh học để xử lý ô nhiễm
dầu mỏ có đặc điểm rất đặc biệt.
+ Phân hủy, phân tách dầu tràn nhờ các tác nhân tự nhiên: vi khuẩn hay
mưa gió cuốn trôi, nhấn chìm. Nhưng do quá trình phân hủy xảy ra rất chậm,
với lượng lớn thì thời gian làm sạch rất dài và gây nhiều tác hại trước khi dầu
được làm sạch hoàn toàn [6].
+ Dùng tác nhân vi sinh được nuôi cấy trong than, trong vật liệu hút
dầu, các vi sinh vật này sẽ là tác nhân phân hủy lượng dầu tràn. Với nguồn
thức ăn là các hydrocacbon, ở độ ẩm thích hợp các sinh vật này sẽ phát
triển và phân hủy sinh học dầu thành chất vô hại. Tuy nhiên, phương pháp
này chỉ có ý nghĩa với sự cố thất thoát dầu ở mức độ nhỏ tại nhà máy lọc
dầu, kho chứa dầu. Với lượng lớn dầu tràn trên biển thì phương pháp này
không có ý nghĩa [8].
1.1.3. Phương pháp sử dụng polyme trong việc khắc phục sự cố tràn dầu
1.1.3.1. Ngoài nước

10


Hình 1.2. Sơ đồ mô tả cơ chế hấp thu dầu của các vật liệu có cấu trúc dạng sợi
Trong đó:
a) Giai đoạn đầu, các phần tử dầu hấp thu vào bề mặt trương của sợi
b) Giai đoạn tiếp theo, các phần tử dầu tiếp tục phản ứng solvat hóa với sợi
c) Giai đoạn cuối cùng sợi bị trương hoàn toàn và một lượng lớn dầu được
hấp thu vào mạng lưới polyme.

11


Khả năng hấp thu của vật liệu polyme phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Sức căng bề mặt tới hạn của vật liệu, độ nhớt của dầu và diện tích bề mặt tiếp
xúc giữa vật liệu hấp thu và dầu [50].
- Để quá trình hấp thu dầu hiệu quả, dầu cần được thấm ướt vào vật
liệu. Một chất lỏng có thể làm ướt một chất rắn khi sức căng bề mặt nhỏ hơn
sức căng bề mặt giới hạn của chất rắn. Vì vậy để hấp thu được dầu thì vật liệu
hấp thu phải có sức căng bề mặt tới hạn thấp hơn dầu. Sức căng bề mặt của
nước biển khoảng 60-65 mN/m, giá trị sức căng bề mặt của dầu tùy thuộc vào
thành phần và thường nằm trong khoảng 20 -25mN/m. Ví dụ như giá trị sức
căng bề mặt tới hạn của PP là 29 mN/m nên phù hợp làm vật liệu hấp thu. Có
nhiều chất rắn tự nhiên hoặc tổng hợp có giá trị sức căng bề mặt tới hạn phù
hợp để làm vật liệu hấp thu dầu.
- Độ nhớt của dầu có một ảnh hưởng quan trọng lên tỷ lệ phân tán vào
cấu trúc chất hấp thu. Các tỷ lệ khuếch tán dầu có thể nhanh đối với các dầu
có độ nhớt thấp, như dầu thu nhẹ, hoặc có thể chậm (trong vài giờ) với những
dầu có độ nhớt cao như dầu thu nặng.
- Hoạt tính mao dẫn đặc biệt quan trọng với những vật liệu hấp thu

dụng để thu hồi dầu ở nhiệt độ cao [19]. Các hợp chất acrylat thường được sử
dụng để hấp thu các dung môi hữu cơ, dầu, các dung môi clo hóa hay các
dung môi thơm. Để cải thiện khả năng hấp thu, Jang và các cộng sự đã tiến
hành nghiên cứu chuyên sâu hơn về vật liệu hấp thu dầu trên cơ sở acrylat.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy khả năng hấp thu dầu chủ yếu bị ảnh
hưởng bởi mật độ tạo lưới và tính ưa dầu của các đơn vị trong copolyme.
Copolyme có mạch ankyl acrylat dài hơn sẽ hấp thu dầu tốt hơn nhưng gới
hạn hấp thu của vật liệu này vẫn nhỏ hơn 15g dầu/g vật liệu [27]. Việc nghiên
cứu tổng hợp và ứng dụng copolyme trên cơ sở ankyl acrylat cũng được Naiyi
Ji và cộng sự tiến hành, cụ thể là tổng hợp poly(metyl metacrylat – butyl
metacrylat) bằng phương pháp trùng hợp huyền phù. Trong công trình này,
các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của các thông số phản ứng, các yếu tố

13


như comonome, chất khơi mào, chất tạo lưới, chất nhũ hóa và tác nhân phân
tán tới quá trình đồng trùng hợp. Sản phẩm copolyme thu được cho thấy có
khả năng hấp thu dầu cao. Kết quả nghiên cứu hấp thu đối với toluen của
copolyme là 17,6g/g [41].
Vật liệu trên cơ sở polystyren-divinylbenzen với cấu trúc rỗng và đơn
phân tán cũng rất được quan tâm do chúng có nhiều ứng dụng rất linh hoạt
trong nhựa trao đổi ion, vật liệu nhồi cột cho sắc ký thẩm thấu gel và là
polyme hỗ trợ xúc tác. Kangwansupamonkon và các cộng sự đã nghiên cứu
phát triển và sử dụng chúng trong xử lý môi trường như dùng để hấp thu dầu
tràn, làm sạch các loại dung môi thoát ra trong sản xuất [27]. Từ các vật liệu
hấp thu dầu trên cơ sở ankylacrylat và styren-divinylbenzen có thể kết luận
rằng tính ưa dầu và trọng lượng phân tử của monome là những yếu tố chính
quyết định khả năng hấp thu dầu. Vì lý do đó, Zhou và cộng sự đã nghiên cứu
chế tạo và sử dụng vật liệu cao su thiên nhiên (NR), cao su styren butadien

bộ và vùng biển Trung Nam là những khu vực trọng điểm về ô nhiễm dầu tại
hải phận Việt Nam [1]. Theo báo cáo kết quả Xây dựng bản đồ hiện trạng
sự cố tràn dầu trên biển và ven biển- Cục kiểm soát ô nhiễm – TCMT, 2009
thì số vụ tràn dầu trên vùng biển và ven biển giai đoạn từ năm 2005-2009
được mô tả trong biểu đồ dưới đây [5].

Hình 1.3. Thống kê số vụ tràn dầu trên vùng biển và ven biển 2005-2009

15


Theo kết quả đo đạc của trạn quan trắc và phân tích môi trường ven
biển, hàm lượng dầu trung bình trong nước biển ven bờ tại một số khu vực
ven biển trong giai đoạn từ năm 2005-2009 được trình bày trong biểu đồ dưới
đây [5].

Hình 1.4. Biểu đồ thể hiện hàm lượng dầu trung bình trong nước biển ven bờ
tại một số khu vực ven biển trong giai đoạn từ năm 2005-2009.
Nguyên nhân do vụ tràn dầu không rõ nguồn gốc rất lớn phát hiện vào
tháng 2/2007, ảnh hưởng đến 20 tỉnh, thành phố ven biển, chủ yếu là các tỉnh
miền Trung với tổng lượng dầu thu gom lên đến hơn 1.7 nghìn tấn. Hàm
lượng dầu trong nước biển khu vực miền Nam có xu hướng tăng đều qua các
năm [5]. Thực trạng này đang gây tổn thất kinh tế lớn cho các vùng nuôi
trồng thủy sản cũng như ảnh hưởng lâu dài tới hệ sinh thái và đa dạng sinh
học biển, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững biển Việt Nam [4].
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu tìm ra biện pháp thu hồi dầu hiệu
quả, khắc phục sự cố cho môi trường biển là yêu cầu rất cấp thiết được đặt ra
trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, trên thị trường cũng có nhiều sản

16

17


Hiện nay, vật liệu hấp thu dầu chủ yếu được chế tạo từ các loại polyme
hữu cơ tổng hợp như polypropylen (PP), polyetylen (PE), polyuretan (PU),
polyeste, polyamit (nylon), copolyme khối trên cơ sở của alkylstyren;
polycacbodiimit, các loại copolyme khối trên cơ sở PP và PE.
Các loại vật liệu hấp thu dầu từ polyme hữu cơ tổng hợp có các ưu và
nhược điểm chính sau:
Ưu điểm: nhẹ vì có tỷ trọng thấp; không hoặc ít hút nước; có tính năng
cơ-lý cao; bền với môi trường và hoá chất; khả năng hấp thu dầu cao; có thể
sản xuất công nghiệp nên có sẵn trên thị trường; dễ dàng gia công thành sợi
và từ đó dễ dàng tạo thành các sản phẩm khác nhau như các loại phao, gối,
chăn, khăn,v.v... rất tiện dụng cho công tác ứng cứu các sự cố tràn dầu;
Nhược điểm: giá thành cao; không bị phân huỷ sinh học, gây ô nhiễm
môi trường thứ cấp nghiêm trọng.
b.Vật liệu hấp thu dầu hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên:
Các sản phẩm và phế thải nông nghiệp như các loại sợi bông (bông vải,
bông gạo,…), các loại cỏ bông, rơm rạ, lõi ngô, bã mía, mùn cưa, sợi gỗ, một
số loại vỏ cây và nhiều loại vật liệu trên cơ sở xenlulozơ biến tính khác.
Các loại vật liệu hấp thu dầu hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên kể trên
cũng có các ưu và nhược điểm chính sau:
Ưu điểm: giá thành rẻ, có nguồn gốc thiên nhiên và khả năng tái sinh vô
tận, thân thiện với môi trường và có khả năng tự phân huỷ sinh học. Phần lớn
các loại vật liệu hấp thu dầu hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên có cấu trúc sợi
nên có thể dễ dàng gia công thành sợi và từ đó dễ dàng tạo thành các sản
phẩm khác nhau như các loại phao, gối, chăn, khăn, tiện dụng cho công tác
ứng cứu các sự cố tràn dầu;
Nhược điểm: khả năng nổi kém vì có tỷ trọng cao, tính ưa nước cao,
tính ưa dầu thấp vì thế vật liệu có khả năng hấp thu dầu thấp.

trọng này, một hướng rất quan trọng khác trong lĩnh vực vật liệu hấp thu dầu

19


được đặc biệt quan tâm nghiên cứu và phát triển là vật liệu hấp thu dầu trên
cơ sở các loại polyme thiên nhiên, thân thiện với môi trường và có khả năng
tự phân huỷ sinh học, vật liệu hấp thu dầu từ các sản phẩm và phế thải nông
nghiệp như các loại sợi bông (bông vải, bông gạo, bông tai), các loại cỏ bông,
rêu than bùn, rơm rạ, lõi ngô, bã mía, mùn cưa, sợi gỗ, một số loại vỏ cây và
nhiều loại vật liệu trên cơ sở xenlulo biến tính khác. Để thấy tầm quan trọng
đặc biệt của vật liệu hấp thu dầu trên cơ sở các loại polyme thiên nhiên, thân
thiện với môi trường và có khả năng tự phân huỷ sinh học, người ta có thể
tham khảo một ví dụ: chỉ tính riêng ở Mỹ trong năm 2000, trong khi vật liệu
hấp thu dầu truyền thống trên cơ sở PP là 31 triệu tấn thì vật liệu hấp thu dầu
trên cơ sở xenlulozơ đã lên tới 125 triệu tấn, tức là gấp tới hơn 4 lần, góp
phần thu hồi khoảng 40 triệu gallon dầu (khoảng 150-160 triệu tấn dầu) trong
một năm [29].
1.3.1. Sợi thực vật và thành phần hoá học của sợi thực vật [3,21]
Sợi thực vật thu được từ các loại cây. Thành phần hoá học chính của
sợi thực vật là xenlulozơ do đó chúng còn được gọi là sợi xenlulozơ.
Sợi thực vật được phân loại theo nguồn gốc của chúng trong cây, bao
gồm: sợi vỏ hay sợi thân, tạo thành các bó xơ bên trong vỏ của thân cây; sợi
lá hay sợi cứng: chạy dọc theo chiều dài lá của các cây một lá mầm; sợi len
trong quả, ví dụ như bông là sợi thực vật quan trọng nhất.
Có tới hơn 250.000 loài thực vật bậc cao, tuy nhiên chỉ có một số rất ít
loài (< 0,1 %) được khai thác cho những ứng dụng thương mại.
Thành phần chính của sợi thực vật ngoài xenlulozơ (một loại polysaccarit)
còn có các hemixenlulozơ (các loại đường đơn như xylozơ, manozơ), lignin, các
hợp chất phenol, pectin, các hợp chất chiết được như các loại protein và một số


13
40-43
19
3
12,7
5
21-30
18-23
12
8-13

72
32-43
65
81
81,5
63-64
50-66
40-50
95
34-38
45-57

13
0,15-0,25
14
19
15-22
20-25

O

4
1
CH

4
CH

-

OH OH

5
3

2
3
CH CH

21

-x

OH

6
H2C

HO


H

O

O
OH H

OH H
O

O H
COO

H

O
H

OH

Hình 1.7: Cấu trúc phân tử pectin
Phương pháp nhiễu xạ tia X đã được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc của
xenlulozơ. Ngời ta nhận thấy giản đồ nhiễu xạ tia X của xenlulozơ có những nét
đặc trưng cho vật liệu tinh thể, trong đó tinh thể định hướng theo trục của xơ sợi.

22


Trong mạng tinh thể, các đoạn mạch đều xếp theo một hướng song song với

Hình 1.9: Liên kết hydro giữa các lớp xenlulozơ
• Tính chất hoá học của xenlulozơ [3]
Xenlulozơ là polyme vừa phân cực mạnh vừa kết tinh cao, chỉ hoà tan
trong một số ít dung môi. Những dung môi đặc biệt có thể làm trương mạnh
xenlulozơ và dẫn đến hoà tan. Sự trương xảy ra khi chất gây trương lọt vào
khoảng trống giữa các tinh thể hoặc lọt vào vùng vô định hình của cấu trúc
xenlulozơ, ở đó các phân tử liên kết với nhau lỏng lẻo. Nếu đặt xơ xenlulozơ
vào nước, sợi xenlulozơ hút nước và chỉ bị trương lên với đường kính xơ tăng
thêm khoảng 25% [4]. Tuy nhiên tương tác giữa nước và xenlulozơ không đủ

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status