NGHIÊN cứu đặc điểm mô BỆNH học và một số dấu ấn HOÁ mô MIỄN DỊCH của u tế bào mầm TRUNG THẤT NGUYÊN PHÁT - Pdf 37

B GIO DC V O TO
TRNG I HC Y H NI

B Y T

TRNH TH HOI NAM

nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học
và một số dấu ấn hoá mô miễn dịch của
u tế bào mầm trung thất nguyên phát
Chuyờn ngnh: Gii phu bnh
Mó s

: 60720102

CNG LUN VN THC S Y HC

NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS. Nguyn Vn Hng

H NI 2015
MC LC


PHỤ LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFP
β-hCG
PLAP
HMMD

bào tồn tại và phát triển tại trung thất. Ở người trưởng thành u chiếm tỷ lệ 10 20% tổng các u nguyên phát thuộc trung thất trước chỉ sau u tuyến ức và u
lympho [1], [2]. Ngoài vị trí thường gặp là cơ quan sinh dục, còn gặp u ở các
vị trí khác như trung thất, cùng cụt, hệ thần kinh trung ương, vùng cổ và sau
phúc mạc trong đó trung thất là vị trí hay gặp với tỷ lệ 50 - 70% ở người lớn
và 4 - 7% ở trẻ em [1], [3].
Theo số liệu thống kê từ cơ quan quản lý ung thư trẻ em của Đức
(German Childhood Cancer Registry) UTBM TT ác tính chiếm khoảng 3,3%
của tất cả các u ác tính ở trẻ dưới 15 tuổi với tỷ lệ mắc 0,4 - 0,6/100.000 trẻ
[4]. Ở Nhật Bản, UTBM chiếm khoảng 16% các u trung thất [5]. Sakurai H.
và cộng sự nghiên cứu trên 48 bệnh nhân UTBM TT nguyên phát ác tính
điều trị tại bệnh viện ung thư quốc gia Tokyo từ năm 1962 đến 2002 cho thấy
tỷ lệ sống thêm 5 năm là 45,5% [6]. Kết quả nghiên cứu của Liu Y. và cộng
sự ở Trung Quốc, theo dõi trên 54 bệnh nhân UTBM TT ác tính từ 1990 đến
2009 tỷ lệ sống thêm 5 năm với bệnh nhân u tinh là 87,7% và UTBM không
u tinh là 23% [7].
UTBM TT là một bệnh không hiếm gặp, kết quả điều trị, tiên lượng
bệnh phụ thuộc nhiều vào type mô bệnh học u. Vì vậy, kết quả mô bệnh học
phải chính xác, chi tiết, áp dụng phân loại mới. Ngoài kết quả chẩn đoán trên
tiêu bản nhuộm Hematoxylin - Eosin (H-E) thường quy nên sử dụng thêm các
kỹ thuật cho độ chính xác và độ tin cậy cao như nhuộm hóa mô miễn dịch,
sinh học phân tử.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về u tế bào mầm nguyên phát ở
trung thất. Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu về UTBM tập trung chủ


5

yếu ở tuyến sinh dục. Các báo cáo về UTBM ngoài sinh dục chủ yếu về lâm
sàng, các báo cáo mô bệnh học đơn lẻ có tính chất thống kê… Để có cái nhìn
toàn diện được bổ sung bởi các kỹ thuật mới có độ chính xác cao và phân loại

ở phía sau với khe gian đốt sống ngực 4 – 5, và ở phía trước với góc xương ức
(khớp giữa cán xương ức với thân xương ức). Trung thất trên chứa: tuyến ức,


7

khí quản, phế quản chính, các mạch máu lớn của tim như động mạch chủ lên,
cung động mạch chủ và các nhánh của nó (thân động mạch cánh tay đầu,
động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái), thân động mạch
phổi, tĩnh mạch chủ trên, và các dây thần kinh X (thần kinh lang thang) và
thần kinh hoành. Trung thất trước là khoang hẹp nằm trước màng ngoài tim
và sau xương ức. Trung thất giữa là nơi chứa tim và màng ngoài tim. Trung
thất sau nằm sau tim và màng ngoài tim [1], [8].
Trung thất sau là một ống dài và hẹp chứa nhiều thành phần quan trọng
nối liền 3 phần cổ, ngực và bụng như: Thực quản; Động mạch chủ ngực; Hệ
thống tĩnh mạch đơn (tĩnh mạch đơn, tĩnh mạch bán đơn, tĩnh mạch bán đơn
phụ, thân tĩnh mạch gian sườn phải trên); Ống ngực; Các dây thần kinh lang
thang (dây thần kinh X); Các thân giao cảm ngực; Hệ thống bạch huyết khá
phong phú gồm cách hạch trung thất sau.
Liên quan giải phẫu trung thất sau khá phức tạp, các thành phần trong
vùng này được bọc bởi mô liên kết giàu mỡ liên tục với nền cổ, trung thất
trước và mô mỡ sau phúc mạc [8].
Bệnh lý u trung thất (Không bao gồm bệnh lý về tim và mạch máu
lớn) có thể dẫn tới sự chèn ép các thành phần trong trung thất sau tạo nên hội
chứng trung thất: khó thở, khó nuốt, phù kiểu áo choàng, ho sặc sụa hoặc
khàn tiếng...
1.2.Nguồn gốc phôi thai của tế bào mầm
Trong quá trình bào thai, ngay từ giai đoạn sớm của phôi đã xuất hiện
một dòng tế bào gốc đặc biệt, có nhiệm vụ hình thành giao tử (tinh trùng hay
noãn), những nhà phôi thai học đặt tên là tế bào gốc sinh dục hay tế bào mầm

u nguyên phát của trung thất trước, đứng hàng thứ tư sau u tuyến ức, u
lympho và các u nội tiết. Trẻ em, UTBM chiếm 19% các u nguyên phát của
trung thất, xếp hàng thứ hai sau các u thần kinh [1], [12], [13].
Phần lớn u tế bào mầm tập trung ở tuyến sinh dục. Sự phân bố u ngoài
sinh dục có sự khác biệt rõ rệt về vị trí và tuổi. Với người trưởng thành u


9

vùng trung thất chiếm ưu thế là 50 - 70% (trẻ em 4- 7%). Ngược lại, vùng
cùng cụt, hệ thần kinh trung ương trẻ em chiếm ưu thế [4], [5], [14], [15].
UTBM TT nguyên phát có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất ở
nam giới trong độ tuổi 20 - 40. Vị trí thường gặp nhất là trung thất trước trên
vùng tuyến ức hoặc cạnh tuyến ức, ít gặp u ở trung thất sau, khác với UTBM
tinh hoàn thường cho di căn tới trung thất giữa và các tạng trong trung thất
thông qua ống ngực [1], [12], [12], [14], [15].
Hình ảnh mô bệnh học cũng có sự khác biệt, với nam giới trưởng thành,
thường gặp là u quái (35%), u tinh bào (32%); các type khác như UTBM hỗn
hợp 16%, u túi noãn hoàng 10%, ung thư biểu mô phôi và ung thư nguyên
bào nuôi ít gặp. Ở nữ giới, chủ yếu gặp u quái với tỷ lệ lên tới 93%, các type
mô bệnh học khác chiếm tỷ lệ thấp [1], [16].
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về u tế bào mầm trung thất
nguyên phát. Sử dụng công cụ tìm kiếm Scholar google, liên quan đến cụm từ
khóa “ mediastinal germ cell tumors” tính đến 9/2015 có 1700 bài viết học
thuật đã được tìm thấy. Thống kê trên PubMed với cụm từ khoá “primary
mediastinal germ cell tumors’’ có 1316 các nghiên cứu đã được công bố. Các
nghiên cứu này trên nhiều lĩnh vực lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị, miễn
dịch, gen học…
Ở Việt Nam nghiên cứu về UTBM TT chủ yếu về lâm sàng, chẩn đoán

đó, các tế bào này chuyển dạng hoạt động tạo u [1].
Một số trường hợp UTBM TT gặp trong các hội chứng Klinefelter,
Down [22], [23]. Các nghiên cứu mới nhất cho thấy khoảng 69% u nguồn
gốc tinh bào có đột biến nhiễm sắc thể i(12p) và khoảng 87% có khuyếch
đại 12p [24].


11

1.3.3. Phân loại mô bệnh học u tế bào mầm trung thất theo WHO 2014
Theo phân loại mô học của WHO năm 2014 [25], UTBM TT được phân
làm 9 type như sau:
- U tinh (Seminoma): 9061/ 3
- Ung thư biểu mô phôi (Embryonal Carcinoma): 9079/ 3
- U túi noãn hoàng (Yolk sac tumor): 9071/ 3
- Ung thư biểu mô nguyên bào nuôi (Choriocarcinoma): 9100/ 3
- U quái thành thục (Mature Teratoma): 9080/ 0
- U quái không thành thục (Immature Teratoma): 9080/ 1
- U tế bào mầm hỗn hợp (Mixed germ cell tumor): 9085/ 3
- U tế bào mầm với typ xôma ác tính (Germ cell tumours with somatictype solid malignancy): 9084/ 3
- U tế bào mầm kết hợp với bệnh máu ác tính (Germ cell tumours with
associated haematological malignancy): 9086/ 3
1.3.4. Phân giai đoạn u tế bào mầm trung thất ác tính
Phân giai đoạn TNM theo WHO 2014 [25].
U nguyên phát (T)
TX

Không tìm thấy u nguyên phát

T0

N0

Không di căn hạch vùng

N1

Di căn hạch vùng

N2

Di căn hạch trong lồng ngực bao gồm hạch trung thất trước.

N3

Di căn hạch thượng đòn.

Di căn (M)
M0

Không có di căn xa.

M1

Đã có di căn xa
Phân giai đoạn UTBM TT ác tính theo Billmire D. và cộng sự [25], [26].

Giai đoạn I: Khối u khu trú, không có di căn, diện cắt không còn u.
Giai đoạn II: Khối u khu trú, không có di căn, phẫu thuật lấy hết u trên đại thể
nhưng trên vi thể vẫn còn u.
Giai đoạn III: U khu trú, có hay không có di căn hạch, không có di căn xa, chỉ

hạt. Tế bào u phát triển mạnh chồng chất lên nhau, hoạt động nhân chia cao.
Mô đệm ít, hẹp với tăng sinh tế bào liên kết hình thoi [1], [25].
Trong u tế bào mầm hỗn hợp, ung thư biểu mô phôi thường kết hợp với
u quái (56%), UT biểu mô nguyên bào nuôi (22%) hoặc u tinh (22%) [13].
Hiếm gặp UT biểu mô phôi kết hợp với u túi noãn hoàng ở người trưởng
thành nhưng lại thường phổ biến hơn ở thanh thiếu niên (13 – 17 tuổi) [25].
Dấu ấn CD30 dương tính trong 85- 100% các trường hợp [25], [30]. OCT4 và
SALL4 dương tính lan toả [31], [32], [33]. AFP dương tính ổ nhỏ khoảng
30%, khi có thành phần hợp bào nuôi thì β-hCG (+) [25].
1.3.5.3. U túi noãn hoàng (Yolk sac tumour)
U túi noãn hoàng thường đặc và mềm, diện cắt điển hình màu xám nhạt
hoặc xám trắng, bóng, nhầy. Chảy máu và hoại tử trong u hay thấy sau hoá trị
liệu bổ trợ hoặc một u túi noãn hoàng trong u tế bào mầm hỗn hợp.


14

U túi noãn hoàng có hình ảnh vi thể khá phức tạp với nhiều cấu trúc,
dạng mô học, có thể gặp 1 hoặc nhiều hình ảnh trên cùng 1 u. Trong đó dạng
lưới là hay gặp nhất với các hốc nhỏ, lòng chứa chất tiết, lợp vách là một lớp
tế bào có nhân nhỏ hơn trong ung thư biểu mô phôi. Thể hyaline khá phổ
biến, mô đệm thường có dạng nhầy [34], [35]. Dạng xoang nội bì là dạng cấu
trúc kinh điển của u túi noãn hoàng với các thể hình “yên ngựa” (Schiller Duval) gồm 1 nhú với trục liên kết sợi chứa 1 mạch máu nhỏ ở trung tâm, lợp
nhú là lớp tế bào khối trụ. Dạng nhú gồm các nhú nhỏ có trục liên kết sợi,
hyalin hoá và lồi vào lòng hốc và lớp bởi các tế bào trụ thấp, bào tương hẹp.
Ngoài ra, một tỷ lệ nhỏ có cấu trúc: đặc, hốc tuyến, dạng gan, dạng ruột và
nang lớn… [1], [25].
Nhuộm HMMD u dương tính với CK, glypican 3 [36], SALL4 [33],
[37], [38]. U âm tính với OCT4 [69], SOX2 [33]. AFP và PLAP có thể bộc lộ
tới 70%, CD117 40% và CD30 25% trong các u túi noãn hoàng [33], [34],

cơ trơn, mô mỡ… có tỷ lệ tới 80% các u trung thất. Các mô khác gồm cơ vân,
xương và sụn hiếm gặp hơn và thường thấy trong thành phần đặc của khối u.
Một điều đặc biệt là mô tuỵ bao gồm cả tuỵ nội tiết và tuỵ ngoại tiết có trong
60% các trường hợp u quái trung thất, mà thành phần này lại rất ít gặp trong u
quái ở các vị trí khác [43]. Hiếm gặp tuyến nước bọt, tuyến tiền liệt, gan và tế
bào hắc tố, có thể thấy hắc mạc, mống mắt trong một số trường hợp [44].
U quái không thành thục cũng bao gồm các mô có nguồn gốc từ nhiều
lá thai. Mọi thành phần trong u đều có thể không thành thục như tuyến không
thành thục được lót bởi các tế bào trụ cao nhân lớn, mất cực tính , trung mô
và sụn không thành thục, xương, nguyên bào cơ vân, mô đệm không thành
thục. Thành phần thường gặp nhất trong u loại này là mô thần kinh dưới dạng
ngoại bì thần kinh dạng ống và hoa hồng, cũng có thể gặp u tế bào thần kinh
đệm các độ ác tính khác nhau… [45].
1.3.5.6. U tế bào mầm hỗn hợp (Mixed germ cell tumours)


16

U tế bào mầm hỗn hợp là u có ít nhất hoặc nhiều hơn 2 type tế bào
mầm trong thành phần cấu tạo. Trong thực hành chẩn đoán cần liệt kê các
thành phần và tỷ lệ để có cái nhìn toàn diện. Kích thước khối u giao động từ
3- 20 cm (trung bình 10 cm) và thường xâm lấn. Diện cắt không đồng nhất,
đặc, mềm, chảy máu, hoại tử…. Nang hoá xen kẽ là một gợi ý u thuộc thể hỗn
hợp, cần tìm kiếm, lấy nhiều vùng khác nhau để xác định. Ở trẻ em, thành
phần u quái thường gặp là loại thành thục hơn một u quái không thành thục
[46], [47].
1.3.5.7. U tế bào mầm với type xôma ác tính (Germ cell tumours with
somatic- type solid malignancy)
U tế bào mầm với type xôma ác tính là một u tế bào mầm trung thất đi
cùng với một u ác tính không phải tế bào mầm (loại xôma) bao gồm sarcoma

theo vị trí, kích thước, giai đoạn bệnh, độ xâm lấn và tính chất u.
Một số triệu chứng chính được các nhà lâm sàng ghi nhận: Dấu hiệu hô
hấp (ho, đau ngực, khó thở). Dấu hiệu tiêu hoá (khó nuốt, nấc). Dấu hiện chèn
ép thần kinh: Hội chứng Claude Bernard – Horner (Co đồng tử, hẹp khe mắt,
sụp mi); Khàn tiếng, khó phát âm do chèn quặt ngược; Hội chứng Pancoast Tobias (chèn đám rối thần kinh cánh tay)…Dấu hiệu chèn ép tĩnh mạch: Hội
chứng tĩnh mạch chủ trên (Phù mi mắt, mặt, cổ- phù áo khoác…); Hội chứng
tĩnh mạch chủ dưới ít gặp (gan to, cổ chứng, phù chân). Ít gặp dấu hiệu chèn
ép ống ngực (dưỡng chấp màng phổi, cổ chướng dưỡng chấp). Các biểu hiện
khác như: sưng phồng khu trú một bên ngực, xương ức, trên đòn; di căn hạch
cổ, hạch thượng đòn không đặc hiệu, ít gặp [1], [5], [13], [25], [63].
1.3.6.2. Cận lâm sàng
X quang thường, chụp cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI)


18

Chẩn đoán hình ảnh là xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị trong chẩn đoán u.
Từ kỹ thuật chụp XQ thông thường tới CT, MRI đều dễ dàng xác định vị trí, kích
thước thậm chí một phần bản chất u thông qua đo tỷ trọng (xương hoá, vôi hoá)
và xác định mức độ xâm lấn của u vào các tạng lân cận [1], [63].
Chụp mạch
Chụp mạch (angiography) các khối u nói chung và u tế bào mầm nói
riêng ngoài ý nghĩa chẩn đoán còn có ý nghĩa trong tiên lượng. Nhiều trường
hợp kết quả chụp mạch cho thấy hình ảnh u xâm nhập mạch (huyết khối ung
thư), đây là một trong những tiêu chuẩn, yếu tố quan trọng trong chỉ định
phẫu thuật đồng thời giúp phẫu thuật viên có chiến lược điều trị thích hợp cho
từng trường hợp [63].
Tế bào học dịch màng phổi, dịch phế quản
Chẩn đoán tế bào u trong dịch màng phổi, dịch phế quản có ý nghĩa với
u phổi giai đoạn muộn. Với u trung thất và u tế bào mầm ít có giá trị, tỷ lệ có

hình ảnh đặc hiệu. Hầu hết các u khó, không rõ ràng cần phân loại mô bệnh
học, type, dưới type…các tiêu bản thường quy không thể đáp ứng được.
Chẩn đoán hóa mô miễn dịch
Đây là một kỹ thuật mới có độ chính xác và đặc hiệu cao dựa trên
nguyên lý kết hợp kháng nguyên có trên bề mặt tế bào với kháng thể đặc hiệu.
Nhuộm HMMD là một kỹ thuật phức tạp, thực hiện trên máy chuyên
dụng, thời gian nhuộm dài. Kết quả nhuộm HMMD cho phép xác định chính
xác kháng nguyên của dòng tế bào tạo u (nguồn gốc u), trong trường hợp u đa
thành phần có thể xác định nguồn gốc, tỷ lệ từng dòng tế bào trong u. Một tác
dụng nữa của nhuộm HMMD là chẩn đoán phân biệt giữa các u có hình ảnh
mô bệnh học không đặc hiệu hoặc một số u có hình ảnh giống nhau…Đặc biệt
HMMD giúp xác định chính xác tỷ lệ nhân chia giúp tiên lượng chính xác độ
mô học của khối u [29].


20

Xét nghiệm một số chất chỉ điểm khối u
Ngày nay, xét nghiệm chất chỉ điểm khối u được thực hiện thường quy
và đóng vai trò quan trọng chẩn đoán sớm các u nói chung trong đó có u trung
thất. Với u tế bào mầm, nồng độ AFP, β-HCG cao bất thường cho phép
hướng tới bệnh nhân có UTBM ác tính, ngược lại sau phẫu thuật nếu nồng độ
2 chất này thấp hoặc trong giới hạn bình thường trong thời gian dài (có thể coi
khỏi bệnh) và tái phát u nếu nồng độ 2 chất nay tăng cao sau can thiệp [1].
AFP và β-HCG cùng tăng cao trong u túi noãn hoàng, UT biểu mô đệm
nuôi, và các u chứa thành phần này. UT biểu mô phôi cũng có thể tạo AFP, βHCG. Một tỷ lệ nhỏ u tinh tạo một lượng thấp β-HCG liên quan tới sự hiện
diện của các hợp bào nuôi khổng lồ nhiều nhân. Xấp xỉ 1/3 UQ KTT sản xuất
AFP và u tinh thường tạo LDH. Giảm nồng độ AFP trong huyết thanh sau
điều trị là một dấu hiệu có giá trị trong xác định khối u đã được cắt bỏ hoàn
toàn hay không. Việc xác định nồng độ AFP định kỳ dễ thực hiện, chi phí

hormon polypeptide gồm tiểu đơn vị α- và β-. Tiểu đơn vị β- đặc hiệu cho
nguồn gốc sinh dục của nguyên bào nuôi. Trong các UTBM β-hCG dương
tính với các nguyên bào nuôi, hợp bào nuôi trong UT nguyên bào nuôi và với
các hợp bào nuôi trong UTBM khác [25], [29]
Placental alkaline phosphattase (PLAP) là một trong sáu men phốt
phát kiềm đặc hiệu cơ quan. Thành phần glycoprotein bao gồm hai tiểu đơn vị
trọng lượng phân tử là 64kDa. Ngày nay, kháng thể PLAP ít được sử dụng
trong chẩn đoán u tinh, vì nó không đặc hiệu cho UTBM và thường bị nhuộm
nền [44]. PLAP có thể dương tính với u ở vú, phổi, đường niệu, tiêu hóa.
Điều thú vị là u tinh nguyên phát ở trung thất được báo cáo có tăng biểu hiện
với PLAP 93% so với u tinh ở tinh hoàn 50% [24].
Gần đây, một vài marker mới được sử dụng trong chẩn đoán UTBM
như: Glypican 3 dương tính với u túi noãn hoàng, SOX2 bộc lộ trong ung thư
biểu mô phôi, SOX17 trong u tinh, LIN28 bộc lộ trong hầu hết UTBM trừ u
quái [25].


22

1.3.8. Điều trị và tiên lượng
Phân type mô bệnh học của UTBM là yếu tố quyết định trong lựa chọn
phương pháp điều trị. Với type u quái, phẫu thuật là chính trong khi đó hoá trị
liệu lại được áp dụng với u tinh. Điều trị đa phương thức gồm phẫu thuật kết
hợp hoá trị liệu (Bleomycin, etoposide và cisplatin) được xem là quy tắc vàng
trong hóa trị hỗ trợ. Với UTBM lớn, phức tạp không có khả năng phẫu thuật
quyết định sử dụng hóa trị liệu phải dựa trên kết quả chẩn đoán mô bệnh học
(qua bệnh phẩm sinh thiết) và nồng độ chất chỉ điểm khối u kết hợp với chẩn
đoán hình ảnh [1], [25].
Các yếu tố tiên lượng quan trọng là: type mô bệnh học, độ mô học, giai
đoạn bệnh, tồn dư khối u sau phẫu thuật. Nồng độ huyết thanh của CA-125,

UTBM TT nguyên phát.
- Nhuộm HMMD một số trường hợp điển hình để xác định khả năng
bộc lộ các kháng thể đặc hiệu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các trường hợp UTBM không có thông tin đầy đủ như trên.
- Các trường hợp u trung thất nhưng không phải UTBM.


24

- Các trường hợp UTBM tái phát hoặc các trường hợp có hình thái vi
thể của UTBM nhưng không xác định được vị trí u nguyên phát.
- Trường hợp bệnh nhân có cả kết quả giải phẫu bệnh trên mẫu sinh thiết và
bệnh phẩm sau phẫu thuật, chọn kết quả trên bệnh phẩm sau phẫu thuật.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
- Mẫu thuận tiện: tất cả bệnh nhân u trung thất nguyên phát được phẫu
thuật, sinh thiết tại Bệnh viện Việt Đức có kết quả xét nghiệm giải phẫu bệnh
là u tế bào mầm.
- Các bệnh nhân nghiên cứu gồm hai nhóm:
+ Hồi cứu: các bệnh nhân phẫu thuật, sinh thiết từ tháng 01/2011 đến
tháng 08/2015.
+ Tiến cứu: các bệnh nhân phẫu thuật, sinh thiết từ tháng 09/2015 đến
tháng 08/2016.
2.2.3. Các bước tiến hành
• Nghiên cứu tiến cứu
- Bệnh phẩm sau khi lấy ra khỏi cơ thể được gửi xuống khoa giải phẫu
bệnh trong vòng 30 phút sau mổ.

+ < 15 tuổi

+ 15- 24 tuổi

+ 25-34 tuổi

+ 35-44 tuổi

+ 45-54 tuổi

+ ≥55 tuổi

b. Giai đoạn lâm sàng: phân giai đoạn UTBM TT ác tính theo Billmire D. và
cộng sự [25], [26] gồm:
- Giai đoạn I: Khối u khu trú, không có di căn, diện cắt không còn u.
- Giai đoạn II: Khối u khu trú, không có di căn, phẫu thuật lấy hết u trên đại
thể nhưng trên vi thể vẫn còn u.
- Giai đoạn III: U khu trú, có hay không có di căn hạch, không có di căn xa,
chỉ sinh thiết hoặc phẫu thuật không lấy hết u.
- Giai đoạn IV: Khối u có di căn xa.
c. Vị trí u: Trung thất trước, trung thất giữa, trung thất sau, trung thất trên.
d. Đặc điểm đại thể:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status