Các biện pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - Pdf 37

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC......................................................................................................................... 1
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
I. Lí do chọn đề tài....................................................................................................................................2
1. Đối tượng nghiên cứu: .....................................................................................................................3
2. Phạm vi nghiên cứu: ........................................................................................................................3

B. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................................4
CHƯƠNG I: ..................................................................................................................... 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC .........................................................4
VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG.................................................................................4
I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG.................................................4
1. Một số khái niệm liên quan..............................................................................................................4
2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.........................................................................9
II. HỆ THỐNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU
DÙNG TẠI VIỆT NAM...............................................................................................................................11
1. Tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam.....12
2. Vai trò và chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại
Việt Nam.............................................................................................................................................13
2.1. Cơ quan nhà nước cấp Trung Ương( Cục Quản lý cạnh tranh) ....................................................13
2.2. Cơ quan quản lý cấp địa phương (UBND tỉnh, các sở thương mại/ sở thương mại và du lịch)....13
2.3. Các Bộ, Ngành có liên quan.........................................................................................................14

CHƯƠNG II:................................................................................................................... 15
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI .......................15
NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM........................................................................15
I. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG.....................................17
II. CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG...................................................18
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VỀ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM.............................................................................18

kinh tế của quốc gia, “kích cầu” là một biện pháp mà các chính phủ thường sử dụng khi
nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng bởi vì nó có tác dụng kích thích tiêu dùng
hàng hóa, dịch vụ, giúp lưu thông nền kinh tế và làm cho nền kinh tế sớm thoát khỏi
tình trạng trì trệ. Đồng thời, người tiêu dùng là một mục tiêu vô cùng quan trọng trong
quá trình hoạch định chiến lược của các doanh nghiệp nói riêng. Bên cạnh đó, khi người
tiêu dùng có tác động lớn đến nền kinh tế của một quốc gia thì cũng sẽ có tác động ít
nhiều đến cả tổng thể xã hội của quốc gia đó. Thực tế cho thấy, khi kinh tế phát triển
thì văn hóa, chính trị, xã hội cũng có những sự tiến bộ tương ứng. Do đó, việc nghiên
cứu về hành vi tiêu dùng và củng cố hơn nữa vai trò của người tiêu dùng là rất quan
trọng trong việc giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu
của người tiêu dùng, từ đó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mình và sự thịnh vượng
cho nền kinh tế.
Với vai trò quan trọng như vậy, lẽ ra người tiêu dùng phải được các doanh
nghiệp tôn trọng và bảo vệ quyền lợi. Tuy nhiên, người tiêu dùng lại đang là những
người phải chịu thiệt thòi khi thực hiện hành vi tiêu dùng. So với doanh nghiệp, người
tiêu dùng thường ở vào vị trí bất lợi hơn về thông tin của sản phẩm và do đó, các doanh
nghiệp dễ dàng lợi dụng để kiếm lời bất chính. Trên thực tế, những hành vi xâm phạm
quyền lợi người tiêu dùng là rất phổ biến và dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến nền
kinh tế nói riêng. Bởi vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là làm thế nào để quyền và lợi ích
chính đáng của người tiêu dùng được bảo vệ cũng như việc nâng cao ý thức của doanh
nghiệp, của người dân và toàn xã hội về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

2


Hoạt động bảo vệ người tiêu dùng đã được Ðảng và nhà nước quan tâm, đặc biệt từ
khi đất nước ta tiến hành đổi mới. Bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng là biểu hiện của sự
tiến bộ xã hội, của việc tôn trọng con người. Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam đang chủ
động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, vấn đề người tiêu dùng và bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng càng trở nên quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển

3


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU
DÙNG.
1. Một số khái niệm liên quan
Cơ quan quản lý nhà nước
Là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất
định, cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được
quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn
của nhà nước
Người tiêu dùng
Theo điều 1 pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng 1999 quy định: “ Người tiêu dùng là
người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt cá nhân, gia đình
và tổ chức”.
Theo điều 2 và điều 3 Nghị định số 69/2001/ NĐ-CP ngày 2/10/2001 của Chính phủ
quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định
cụ thể các đối tượng được coi là người tiêu dùng và chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh này,
bao gồm:
- Người mua và là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đã mua cho chính bản thân
mình.
- Người mua hàng hóa, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử
dụng.
- Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người khác mua hoặc do
được cho, tặng.
- Người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh không

là một khái niệm tương đối và tổng quát. Khi trình độ phát triển của xã hội còn ở mức
thấp, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thì nhu cầu cơ bản là những cái tối thiểu để con
người có thể tồn tại được. Còn khi xã hội phát triển ở mức cao hơn, nhu cầu cơ bản cũng
thay đổi. Khi đó những nhu cầu cơ bản tối thiểu không chỉ là để tồn tại mà còn bao gồm
những nhu cầu về tinh thần như giao tiếp, học hành, đi lại… để con người có thể tồn tại
và phát triển. Như vậy, quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người của người
tiêu dùng cũng thay đổi theo điều kiện của xã hội, con người cần được phát triển cả về thể
chất lẫn tinh thần.
- Quyền được an toàn : Là quyền của người tiêu dùng được bảo vệ chống lại những
hàng hóa, dịch vụ, quá trình sản xuất có hại đến sức khỏe, đời sống và quyền lợi chính
đáng của họ. Để đảm bảo tốt quyền này, hàng hoá, dịch vụ không chỉ cần đảm bảo an toàn
trước mắt mà cả sự an toàn dài hạn cho người sử dụng và các thế hệ tương lai.

5


- Quyền được thông tin: Là quyền của người tiêu dùng cần phải được cung cấp
thông tin cần thiết về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng để có thể tự quyết định
việc có sử dụng hay không trên cơ sở có đầy đủ thông tin.
Người tiêu dùng có quyền được tiếp cận thông tin về giá cả, chất lượng, số lượng,
thành phần… của hàng hoá và dịch vụ. Khi có được đầy đủ thông tin của sản phẩm hoặc
dịch vụ thì người tiêu dùng sẽ đưa ra quyết định hay lựa chọn đúng đắn hơn, tránh tình
trạng bị trở thành nạn nhân của các chiến dịch quảng cáo, tiếp thị sai lệnh, không trung
thực, thậm chí lừa dối người tiêu dùng. Nội dung thông tin cho người tiêu dùng có thể
được thực hiện thông qua việc ghi nhãn hàng hóa, qua các hướng dẫn sử dụng hay qua
giới thiệu quảng cáo trên các phương tiện thông tin.
- Quyền được lựa chọn: Là quyền của người tiêu dùng trong việc tự do quyết định
dùng hay không dùng sản phẩm, dịch vụ.Người tiêu dùng có quyền được tiếp cận các dịch
vụ và hàng hoá đa dạng với chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Các hành vi thông tin không
trung thực, tạo ra sự khan hiếm giả tạo để gò ép người tiêu dùng, việc lợi dụng vị thế

không đúng với nội dung đã giới thiệu, quảng cáo, giao kết hợp đồng. Các khiếu nại của
người tiêu dùng có thể được giải quyết bằng cách hòa giải giữa người cung ứng và người
tiêu dùng hoặc thông qua các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, trong trường hợp
không giải quyết được thì có thể thông qua hệ thống tòa án dân sự. Mỗi quốc gia, doanh
nghiệp cần xây dựng cơ chế bồi thường, đền bù đối với những thiệt hại do lỗi của nhà
cung cấp chẳng hạn như thông báo sai, các sản phẩm, dịch vụ không đạt tiêu chuẩn,
không đảm bảo an toàn, giá cả quá cao v.v….Bồi thường thỏa đáng cho những khiếu nại
chính đáng của người tiêu dùng sẽ nâng cao được tín nhiệm của doanh nghiệp, cải thiện
được hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng.
- Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng: Giáo dục vê tiêu dùng, về những kiến
thức và kỹ năng tiêu dùng sẽ giúp cho người tiêu dùng có hiểu biết về vị thế của mình
trong xã hội, có khả năng tự bảo vệ mình, bảo vệ các quyền của mình, để người tiêu dùng
có thể có đầy đủ khả năng đưa ra sự lựa chọn phù hợp các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng.
Việc giáo dục người tiêu dùng có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như cung cấp
thông tin, kiến thức thông qua các ấn phẩm, báo chí, các buổi hội thảo, hội nghị, triển
lãm…Nhiều nước đã đưa giáo dục tiêu dùng vào các chương trình giáo dục ở các trường
học. Điều quan trọng khi thực hiện quyền này là cần cung cấp đầy đủ kiến thức, thông tin
cho người tiêu dùng ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
- Quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững: Người tiêu dùng không
chỉ cần được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ có chất lượng mà còn có quyền được sống
và làm việc trong môi trường lành mạnh, không gây nguy hại đến tính mạng, tài nguyên
và sinh quyển được bảo vệ,sức khoẻ cho mình và cho các thế hệ tương lai. Người tiêu
dùng cũng được quyền có một môi trường xã hội lành mạnh, trong đó họ được an toàn về
vật chất và tinh thần, được sống hòa hợp và thân ái trong cộng đồng, nhân phẩm được tôn
trọng.
Trách nhiệm của người tiêu dùng
* Tự bảo vệ mình trong tiêu dùng

7


Người tiêu dùng phải tự nâng cao kiến thức của bản thân để bảo vệ chính mình, gia
đình và tổ chức của mình khỏi những hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Để tránh
mua phải những hàng hóa, dịch vụ không như mong muốn, người tiêu dùng trước hết phải
nắm rõ thông tin về sản phẩm, dịch vụ mà mình định sử dụng, luôn cập nhật thông tin về
sản phẩm, tránh những sản phẩm nguy hại đến sức khỏe, đặc biệt là trong vấn đề lương
thực thực phẩm cần phải được chọn lựa, xem xét kỹ trước khi sử dụng.

8


Lợi ích của người tiêu dùng rất dễ bị tổn thương, các hành vi hạn chế cạnh tranh và
cạnh tranh không lành mạnh, nạn hàng giả hàng nhái, hàng không đạt tiêu chuẩn, chất
lượng vệ sinh hàng hoá và dịch vụ thiếu độ an toàn, giá cả bất hợp lý, vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ,... Vấn đề giá cả và độ an toàn của các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng.
Vì vậy, khi có bất cứ vấn đề gì làm ảnh hưởng đến sức khỏe, lợi ích của mình, của gia
đình mình, người tiêu dùng phải khiếu nại lên các cơ quan chức năng
* Phát hiện, tố cáo hành vi gian dối trong kinh doanh
Tại điều 13 Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng có quy định :“Người tiêu dùng có
trách nhiệm phát hiện, tố cáo các hành vi gian dối về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng,
nhãn hiệu hàng hóa, giá cả và các hành vi lừa dối khác của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ, gây thiệt hại cho mình và cộng đồng theo quy định của pháp
luật.”
Phòng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng không chỉ là trách nhiệm của các cơ
quan chức năng, chính quyền địa phương mà còn là của cả người tiêu dùng. Người tiêu
dùng chính là nạn nhân của tệ hàng giả, hàng kém chất lượng. Họ vừa mất tiền, vừa mua
phải thứ hàng không tương xứng, thậm chí là đe dọa đến sức khỏe của mình. Người mua
hàng luôn phải cẩn trọng để là những khách hàng “thông minh” không mua phải hàng giả,
hàng kém chất lượng; đồng thời, tích cực tham gia phát hiện, đấu tranh với tệ nạn đó bằng
cách phối hợp, giúp đỡ cơ quan chức năng phòng ngừa và ngăn chặn, xử lý hiệu quả các
đối tượng, các hành vi gian lận thương mại. Hơn ai hết, chính người tiêu dùng phải trở

tiêu dùng đều được nhà nước phân phối thông qua hệ thống tem phiếu. Qua hai mươi
năm đổi mới, nước ta chuyển mạnh từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Cũng từ đó, quan hệ mua bán,
giao dịch giữa một bên là những người bỏ tiền ra mua hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho
sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân, gia đình, tổ chức đã từng bước hình thành và phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng luôn có các điểm bất lợi sau:
Vai trò của sản xuất luôn tỏ ra trội hơn so với vai trò tiêu dùng, kể cả trong
mỗi người chúng ta.
Hoạt động sản xuất thì tập trung, tiêu dùng thì phân tán. Kết quả là nhà sản xuất
là các chuyên gia, còn người tiêu dùng chỉ là những tay nghiệp dư.
Các thông tin đến với người tiêu dùng, nhất là giá cả và chất lượng thường
không đầy đủ hay bị bóp méo.
Vai trò của người tiêu dùng ít được ưu tiên hơn so với các đại lý.
Ðôi khi việc cạnh tranh không đầy đủ có thể tạo ra các tình trạng khan hiếm giả
tạo, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Ưu thế về kinh tế của các doanh nghiệp có thể tác động tạo ra các chính sách có
lợi cho họ. Tuy nhiên người tiêu dùng phải trả tiền cho các chi phí đó, qua sản phẩm.
người tiêu dùng phải trả tiền cho các hành động chống lại chính mình!
Số lượng nhà sản xuất và bán hàng luôn lớn và được tổ chức tốt. Trong khi đó
các tổ chức hoạt động bảo vệ người tiêu dùng chỉ rất hạn chế về số lượng và tổ chức.

10


Trong cơ chế thị trường, người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ
hơn nhưng đồng thời lại đứng trước nguy cơ sử dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu độ an toàn,
không đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm. Đồng thời, trên thị
trường xuất hiện nhiều hàng giả, hàng nhái, hàng không tem mác, không rõ nguồn gốc
xuất sứ.
Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập, các loại hàng hóa từ nước ngoài



1. Tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng tại Việt Nam
Sơ đồ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

Cơ quan quản lý nhà nước về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
Trung ương: Bộ Công Thương( Cục Quản lý cạnh tranh)
Địa phương: UBND tỉnh (Sở Thương mại/ Sở Thương mại và du lịch)

Cơ quan có liên quan trực tiếp:

Cơ quan có liên quan khác:

Tổng cục TC-ĐL-CL & các Chi Cục

Bộ KH và CN

Cục Quản lý thị trường & các Chi Cục

Bộ Y tế

Cục Xúc tiến thương mại

Bộ Xây dựng

Cục An toàn vệ sinh thực phẩm

Bộ GTVT


Tuyền truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật và các chính sách có liên quan đến
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán
bộ làm công tác bảo vệ người tiêu dùng.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Thương Mại( nay là Bộ Công
Thương) giao.
2.2. Cơ quan quản lý cấp địa phương (UBND tỉnh, các sở thương mại/ sở thương
mại và du lịch)
Theo điều 12 nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2001, Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà
nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:
- Chỉ đạo, đôn đốc các tổ chức, cá nhân thực hiện các quy điịnh của pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn.

13


- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
- Phối hợp với các cơ quan có liên quan trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý
các vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.
- Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong phạm vi quyền hạn hoặc chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền để xử lý.
2.3. Các Bộ, Ngành có liên quan
Vai trò và trách nhiệm của các Bộ, Ngành có liên quan được quy định tại điều 10, 11
Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng:
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trong chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
( trên thực tế công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được chuyển cho Bộ Công
Thương ) thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

và các trang thiết bị sử dụng cùng với phương tiện vận tải nhằm đảm bảo an toàn cho
người tiêu dùng trong các dịch vụ về vận chuyển hoặc khi người tiêu dùng mua để sử
dụng các phương tiện, thiết bị này.
- Cục hàng không dân dụng Việt Nam thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra các
phương tiện vận chuyển hàng không, sân bay, cảng hàng không và cá phương tiện, trang
thiết bị, dụng cụ phục vụ vận chuyển hàng không.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra
chất lượng phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây. giống con, các sản
phẩm sinh học phục vụ trông trọt và chăn nuôi, thức ăn gia súc.
- Bộ Công nghiệp chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành có liên quan thực hiện việc quản
lý, kiểm tra, thanh tra chất lượng theo quy định của pháp luật đối với các loại hàng hóa
vật liệu nổ công nghiệp, các loại hóa chất công nghiệp, hàng hóa, máy móc, trang thiết bị
công nghiệp.
- Bộ Thủy sản chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện việc quản
lý, kiểm tra, thanh tra chất lượng các chủng loại động, thực vật thủy sản, thức ăn cho thủy
sản, hải sản, thuốc bảo vệ và thuốc thú y thủy sản, ngư lưới, dịch vụ đánh cá.
- Tổng cục Bưu điện thực hiện việc quản lý, kiểm tra, thanh tra giá cả, chất lượng
dịch vụ, mạng lưới, vật tư, thiết bị, công trình bưu chính viễn thông, mạng Internet.
- Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường thực hiện việc thống nhất quả lý, kiểm tra,
thanh tra hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường, tiêu chuẩn đo lường chất lượng,
sở hữu công nghiệp và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

15


Trong những năm gần đây, mỗi năm tổ chức IC (tổ chức Quốc tế người tiêu dùng)

Liên hợp quốc đã đưa ra chương trình hành động 21 về phát triển bền vững thông qua xoá
đói nghèo và xoá bỏ những mối đe doạ nghiêm trọng đến môi trường. Chương 4 của
Chương trình hành động này đề cập đến sự thay đổi "khuôn mẫu tiêu dùng" nhằm nhấn
mạnh đến sự cần thiết phải thay đổi khuôn mẫu tiêu dùng theo hướng đảm bảo tính bền
vững để giảm thiểu việc lạm dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng các vật liệu độc
hại gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các thế hệ tương lai.
Tuy nhiên, tiêu dùng bền vững không có nghĩa là giảm mức tiêu dùng mà là tạo ra thay
đổi trong cách tiêu dùng theo hướng hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời
có sự chia sẻ để giảm bớt khoảng cách giàu nghèo.
Đến năm 1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết bổ sung thêm
nội dung về thúc đẩy tiêu dùng mang tính bền vững vào Hướng dẫn bảo vệ người tiêu
dùng năm 1985. Sự mở rộng này đã tạo ra cơ hội quan trọng để đưa vấn đề bảo vệ môi
trường, phát triển bền vững vào chính sách bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy mối liên
hệ giữa lợi ích người tiêu dùng và hoạt động tiêu dùng, nhờ đó có thể giúp cho các quốc
gia xây dựng chính sách, pháp luật theo hướng đảm bảo tiêu dùng bền vững .
Mặc dù không phải là văn kiện có giá trị pháp lý nhưng tập hợp các Hướng dẫn của
Liên hợp quốc đã đưa ra những mục tiêu chung được ghi nhận ở cấp độ quốc tế để các
chính phủ, đặc biệt là chính phủ các nước đang phát triển có thể xây dựng và thúc đẩy
chính sách, pháp luật cho người tiêu dùng.
I. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG
Theo điều 18 của pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 13/1999/PLUBTVQH 10 ngày 27/4/1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nội dung quản lý nhà
nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm:
+) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ người
tiêu dùng.
+) Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, về tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm.
+) Chỉ đạo và phối hợp các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các Bộ,
cơ quan trực thuộc chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp.
+) Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

18


Cũng như nhiều nước trên thế giới, luật pháp Việt Nam là một trong những công cụ,
phương tiện chủ yếu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Từ sau Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp
quy liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng” đã được ban hành (số 13/1999/PL-UBTVQH10, ngày 27-4-1999).
Ngoài ra, liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nhà nước quản lý bằng “Pháp lệnh chất
lượng hàng hoá” (số 18/1999/PL-UBTVQH10). Các cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ
pháp luật như Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính đã
phối hợp ra Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, ngày 27-04-2000 nhằm chống lại các
hoạt động làm, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng giả, góp phần quan trọng bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng nước ta. Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên bình đẳng hơn. Từ đó, chất lượng hàng hoá,
dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng được nâng lên, giá thành hạ xuống đáng kể. Chẳng
hạn, trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, do đảm bảo tính cạnh tranh khách quan hơn
giữa các nhà đầu tư, cung cấp dịch vụ mà trong thời gian gần đây, giá cước điện thoại đã
giảm đáng kể, chất lượng dịch vụ được nâng lên rõ rệt. Trong lĩnh vực bảo hiểm, Nhà
nước cũng đã ban hành một số văn bản pháp quy về một số loại hình bảo hiểm (như bảo
hiểm y tế) đối với một bộ phận người nghèo, trẻ em …Trong lĩnh vực Ngân hàng, Nhà
nước cũng có chính sách thành lập các ngân hàng cho người nghèo vay vốn, đã hình
thành hệ thống các quỹ hỗ trợ người nghèo.
* Xây dựng và vận hành mạng lưới giám sát thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng và quyền lợi người tiêu dùng
Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng và vận hành
khá hiệu quả mạng lưới giám sát thực thi pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ quyền
lợi của người tiêu dùng.
- Xây dựng mạng lưới giám sát hành chính. Các ngành quản lý chức năng như Y tế,
Hải quan, Quản lý thị trường, Giám sát kỹ thuật, Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Vệ sinh

hại cho người tiêu dùng.
* Nâng cao khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng
Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước về bảo vệ lợi ích người tiêu dùng kết
hợp với các cơ quan phi chính phủ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, báo chí tuyên
truyền, đài phát thanh, truyền hình, các tổ chức hội chợ quảng cáo và phối hợp chặt chẽ
với các cơ quan ban ngành khác của Nhà nước đã tích cực tiến hành các hoạt động thông
tin, hướng dẫn, tuyên truyền, giáo dục, nhằm đem lại cho người tiêu dùng các kiến thức,
nhận thức về quyền lợi của mình, về quyền được bảo vệ trong xã hội, từ đó tạo ra ý thức
thường trực tự bảo vệ. Các hoạt động này được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau:
xuất bản các ấn phẩm như tờ bướm, bản tin, tạp chí nhằm phổ biến kiến thức, trao đổi
thông tin về chất lượng sản phẩm, về quyền được bảo vệ của người tiêu dùng trước vấn
nạn hàng giả, hàng nhái, trước các dịch vụ chất lượng thấp... Qua các hoạt động đó, cập
nhật thông tin cần thiết cho người tiêu dùng.Các cơ quan quản lý nhà nước và hội bảo vệ
người tiêu dùng Việt Nam đã chủ dộng, thường xuyên tổ chức các hội thảo, các cuộc toạ
đàm, hội nghị bàn tròn, các buổi gặp gỡ trao đổi ý kiến về những vấn đề cần quan tâm
xung quanh quyền của người tiêu dùng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
20


2. Một số tồn tại, bất cập
* Luật không đồng bộ, kém hiệu lực
Chế định về quản lý nhà nước luôn là chế định rất quan trọng ở trong bất kỳ lĩnh vực
nào, đóng vai trò quyết định trong việc thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế.
Pháp lệnh bảo vệ quyền và lợi ích người tiêu dùng cũng như Nghị định số 69 đã dành hẳn
một chương để quy định các vấn đề về quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng. Tuy
nhiên, cho đến nay các quy định này đã thể hiện những bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động bảo vệ người tiêu dùng:
Thứ nhất, thiếu công cụ pháp luật để cơ quan nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng
có thể thực thi vai trò của mình. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, cơ quan
nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng không thể thực hiện những biện pháp xử lý nhằm

nhân, tổ chức kinh tế vẫn “lách” được, tránh được luật pháp khi vi phạm quyền của người
tiêu dùng. Đây cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho các cơ quan thực thi pháp luật ,
dẫn tới vừa làm giảm uy quyền của luật pháp vừa làm giảm hiệu lực của các cơ quan thực
thi pháp luật.
* Hoạt động của các cơ quan giám sát, thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
còn nhiều hạn chế
Mạng lưới giám sát hành chính chưa mạnh, hoạt động quan liêu, bị chi phối bởi
nhiều cơ quan công quyền khác.
- Đấu tranh chống hàng giả nhìn chung chưa hiệu quả, mang nặng tính phong trào,
hình thức.
Tại Việt Nam, trong năm qua Cục Quản lý Thị trường đã công bố hàng ngàn mẫu
hàng giả, hàng nhái được xác minh, tịch thu. Chỉ tính đến tháng 6-2015, lực lượng Cảnh
sát Điều tra tội phạm kinh tế cũng đã lập 5.700 hồ sơ cá nhân đối tượng sản xuất buôn bán
hàng giả.
Trong 5 năm (2010 - 2015), lượng hàng hóa giả đã bị bắt giữ bao gồm: 35.450 chai
rượu các loại,12 tấn bột ngọt, 95.000 tấn xi măng, 32 tấn mỹ phẩm các loại, 35 triệu cơ số
thuốc tân dược, 75.000 chai bia, nước ngọt, đồ uống, 23 tấn bánh kẹo v.v…
Hầu hết, hàng giả xuất hiện ở tất cả mọi lĩnh vực, từ những sản phẩm hàng hóa có
giá trị rất thấp như hộp diêm, cây con giống, nén nhang, gói bột màu đến những hàng hóa
mang trị giá cao như hàng may mặc, đồ gia dụng, sắt, thép, thuốc bảo vệ thực vật, phụ
tùng xe máy, điện tử, điện lạnh.
Bảng 1: Hàng giả, hàng kém chất lượng về VSATTP do lực lượng Quản lý thị
trường thu giữ từ năm 2013 đến năm 2015
Số
TT

Mặt hàng

2013


9
10
11
12

Thuốc lá (bao)
Sữa hộp (kg)
Thịt cá hộp (hộp)
Mì ăn liền (gói)
Tôm (kg)

9.878
9.001

26.240
7.454

13.216
13.394

Giả, kém chất lượng
Giả, kém chất lượng

90.896

31.210

27.366

Quá hạn sử dụng

3.786
48.310
7.551
1.850

575
7.960
536
898

19.371

9.779

518

Giả nhãn hiệu, quá hạn sử
dụng
Giả nhãn hiệu, kém chất
lượng
Giả nhãn hiệu
Kém chất lượng, quá hạn
sử dụng
Giả nhãn hiệu
Giả,quá hạn sử dụng
Giả,quá hạn sử dụng
Quá hạn sử dụng
Tiêm chích tạp chất, kém
chất lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status