Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong công tác điều tra, theo dõi và quản lý thảm cây xanh, cây cổ thụ góp phần bảo vệ cảnh - Pdf 37

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây xanh, cây bóng mát có vai trò quan trọng trong đời sống của con
người. Hệ thống cây xanh từ lâu được coi như lá phổi của trái đất, có tác dụng
bảo vệ và cải thiện môi trường. Tại các thành phố lớn với mật độ dân số đông
và hoạt động công nghiệp phát triển như Hà Nội, cây xanh lại càng trở nên
quan trọng [1].
Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đang đến gần, việc thống
kê các di sản quý giá cuả thủ đô là hết sức cần thiết. Chính vì vậy Liên Hiệp
hội Khoa học Việt Nam đã giao cho Trung Tâm giáo dục Môi trường đề tài
“Xây dựng ATLAS cây cổ thụ Hà Nội”. Mục tiêu của đề tài là điều tra, lập lý
lịch, xây dựng bản đồ phân bố và đề xuất các biện pháp bảo vệ cây cổ thụ của
thủ đô. Thời gian thực hiện đề tài từ năm 2007 đến năm 2009.
Để tiết kiệm thời gian, tăng giá trị khoa học của đề tài, chúng tôi đã thử
áp dụng phương pháp GIS trong công tác điều tra, xây dựng bản đồ cây cổ
thụ. Phương pháp này nếu thành công có thể được áp dụng để điều tra quy
hoạch hệ thống cây xanh trong phạm vi toàn quốc.
Vì tầm quan trọng và triển vọng của phương pháp trên, chúng tôi tiến
hành xây dựng đề tài “Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong công
tác điều tra, theo dõi và quản lý thảm cây xanh, cây cổ thụ góp phần bảo
vệ cảnh quan môi trường tại Quận Ba Đình - Hà Nội”.
1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
- Sử dụng viễn thám và GIS để nâng cao tính khoa học trong quản lý
cây cổ thụ. Thử nghiệm phương pháp viễn thám và GIS trong công tác điều
tra, giám sát và quản lý cây cổ thụ của thành phố Hà Nội.
- Xây dựng bản đồ phân bố cây cổ thụ Quận Ba Đình tỷ lệ 1: 5000.

1


PHẦN 2: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU

nghiêm ngặt nhưng vẫn đứng trước các nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng. Có
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó nguyên nhân chủ yếu
là do sự tàn phá của con người như: Các hoạt động khai thác chặt phá cây để
lấy gỗ, các sản phẩm ngoài gỗ hoặc để lấy địa điểm để xây dựng các công
trình… Ngoài ra các tác động của thiên tai như gió bão, hạn hán cháy rừng
xảy ra hàng năm cũng đã làm mất đi hàng loạt cây cổ thụ quý.
Một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng làm suy giảm
chất lượng cũng như số lượng cây cổ thụ trên thế giới là sâu bệnh hại cây.
Trong khi bản thân cây cổ thụ là những cây già cỗi, khả năng sinh trưởng,
phát triển và chống chịu các điều kiện bất lợi của môi trường kém thì các cơ
quan chức năng cũng như đa số người dân lại chưa có các giải pháp hữu hiệu
trong việc quản lý.
Sớm nhận thấy tình trạng đó rất nhiều tổ chức quốc tế cũng như rất
nhiều quốc gia đã có nhiều chương trình hành động nhằm bảo tồn nguồn di
sản quý giá này.
Hàng năm tổ chức Môi trường Liên hiệp quốc UNEP đều có các
chương trình hành động bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có việc bảo tồn
cây cổ thụ trên toàn thế giới.
Tại nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản ... cây cổ thụ
được đánh số nhằm mục đích kiểm soát được số lượng của cây, dễ dàng hơn
trong việc quản lý.
Ở Mexico, một đất nước có nhiều cây cổ thụ nổi tiếng thế giới các nhà
quản lý nơi đây đang có chương trình chăm sóc bảo vệ cây cổ thụ một cách
chu đáo.

3


Một bài báo gần đây đã cho biết ‘ Thế giới cần 10-15 tỷ USD đề bảo vệ
rừng mỗi năm’. Các nhà khoa học Panama nghiên cứu về rừng cây nhiệt đới

những chương trình quản lý các cây cổ thụ riêng lẻ ở các địa điểm đặc biệt di
tích lịch sử quan trọng.
Một vấn đề nữa, đó là cây xanh đô thị nói chung và cây cổ thụ nói
riêng chỉ do một cơ quan quản lý đó là Công ty công viên cây xanh, do đó
cần có sự phối hợp của nhiều ban ngành liên quan, đặc biệt là cây cổ thụ
phải được bảo vệ theo cách riêng - nó không đơn giản như bảo vệ cây xanh
đô thị chung nói chung.
2.2.3. Kết quả nghiên cứu ứng dụng tin học để quản lý cây xanh đô thị
2.2.3.1. Nghiên cứu ứng dụng tin học để quản lý cây xanh đô thị trên thế giới
Những ứng dụng của máy tính trong quản lý cây xanh đường phố đa
xuất hiện từ những năm 1970 nhờ việc sử dụng những máy tính lớn
Mainframe ở Hoa kỳ. Ứng dụng máy tính này cho phép những người quản lý
cây ở thành phố có thể truy nhập dữ liệu hiệu quả hơn và cung cấp một cách
nhanh chóng tóm tắt dữ liệu những thông số cho quản lý cây xanh theo Miller
1997 [21]. Tuy vậy, sau đó người ta nhận thấy những hệ thống này đòi hỏi
cường độ lao động cao và chúng yêu cầu phải bảo trì thường xuyên và rất tốn
kém thời gian. Một khó khăn nữa là những máy tính này phải được dùng
chung với những ban ngành khác trong chính phủ địa phương.
Vào những năm 1980 nhờ sự phát triển mạnh mẽ của tin học nên tăng
nhanh về số người sử dụng và số đợt truy nhập vào dữ liệu cây xanh. Máy
tính ngày nay đã có bộ nhớ rất lớn và tốc độ xử lý nhanh với giá thành hạ.
Máy vi tính có thể cũng được sử dụng cho những công việc khác như: soạn
thảo văn bản, xử lý dữ liệu và quản lý tài chính nên việc trang bị máy tính đã
trở nên phổ biến. Những cơ quan quản lý cây xanh đô thị có thể thiết kế
chương trình quản lý của chính mình hoặc mua những chương trình thương
mại để tăng cường hiệu quả công việc . Việc lựa chọn phần mềm thích hợp
yêu cầu người quản lý phải hểu rõ những mục tiêu quản lý và biết được phần
mềm nào sẽ đáp ứng được những mục tiêu đó. Phần mềm được chọn lựa

5

4.

Tổng kết về kế hoạch và công tác quản lý: ba chức năng ở trên về hồ
sơ dữ liệu sẽ được phân tích, tóm tắt để lập báo cáo và đặt kế hoạch
biện pháp và quản lý, kể cả dự toán ngân sách.

5.

Những danh sách cây xanh cần xử lý: bao gồm những cây cần phải áp
dụng biện pháp chăm sóc hay xử lý và thành lập được những bảng về
thứ tự công việc, bao gồm những cây cần loại bỏ ngay lập tức, cây cần
phải gia cố bằng dây cáp, hoặc cần những bảo trì chăm sóc đặc biệt.

6


6.

Bản đồ vi tính: sẵn sàng trên những hệ thống máy tính nhất định, cho
phép sản xuất những bản đồ vị trí của cây xanh và thể hiện đặc tính
từng cây xanh.

Gần đây hơn, Wagar và Smiley (1990) mô tả hệ thống máy tính có khả năng
hỗ trợ quản lý cây xanh đô thị kể cả một số phần mềm thương mại. Các chức
năng của những hệ thống này được mô tả theo thứ tự tầm quan trọng như sau
[22].
1.

Truy xuất, trình bày, và kiểm tra dữ liệu. Chức năng này nhằm tạo nên
những câu trả lời nhanh chóng cho những yêu cầu về code địa chỉ


thiết để để có thể áp dụng biện pháp bảo trì, số kinh phí để thực hiện
các nhiệm vụ.
5.

Bản đồ vị trí cây xanh. Việc sử dụng kỹ thuật đo vẽ bản đồ cho phép
tạo ra bản đồ thể hiện vị trí cây xanh.

6.

Tạo đồ thị. Thể hiện các thông số cây đồ thị như tính đa dạng giống
loài, phân bố cây có đường kính khác nhau, và tình trạng cây xanh
dưới dạng đồ thị sẽ làm thông tin trở nên dễ hiểu, khả năng truyền
cảm nhanh chóng hơn và thông tin sẽ có tính thuyết phục cao hơn.

7.

Theo dõi chi phí bảo quản và tình trạng sinh trưởng của những loài
cây khác nhau. Khả năng xác định kinh phí thích hợp cho những
nhiệm vụ bảo trì quản lý khác nhau bao giờ cũng rất cần thiết và quan
trọng. Lưu trữ đầy đủ những thông tin như vậy về những công việc đã
thực hiện, giá thành, và nhân công sẽ cho phép dễ dàng ước tính
những thông số sau: kinh phí thực hiện các loại công việc, mà nhu cầu
công việc bảo trì và giá thành cho những giống loài cây khác nhau,
biện pháp phải thực hiện ở tại những thời điểm nào và loại công việc
nào, và cho phép biết được khi nào thì giá thành bảo trì sẽ vượt quá
giá thành thay cây mới. Dữ liệu lưu trữ về quá trình sinh trưởng của
cây cũng giúp cho ta đánh giá được mức độ thích hợp với từng loại
cảnh quan của từng giống cây.


Phần mềm này cho phép phát triển các ứng dụng về quản trị cơ sở dữ liệu, đặc
biệt nó làm việc tốt với các tệp tin có rất nhiều bản ghi [1].
Phần mềm quản lý cây xanh đô thị ở Việt Nam cần có các chức năng sau:
1. Truy xuất, trình bày, kiểm tra dữ liệu. Đặc biệt quan trọng đối với
công tác quản lý thì thông tin về loài cây: tên Việt Nam và tên khoa
học, các cá nhân sở hữu hoặc quản lý cây và các biện pháp đã được
áp dụng từ các năm trước.
2. Thứ tự công việc cần thực hiện. Phải có danh sách công việc và
biện pháp để có thể áp dụng cho việc quản lý cây xanh và những việc
này cũng cần được lưu trữ.
3. Tính toán giá trị của cây xanh qua việc áp dụng công thức giá trị
để lưu trữ dữ liệu về giống loài, đường kính, đánh giá tình trạng, vị
9


trí, giá trị bất kỳ của cây xanh nào cũng có thể xác định. Thông tin
này thường rất hữu ích khi viết báo cáo và ước tính kinh phí quản lý
và bảo trì.
4. Bản đồ vị trí cây xanh: Qua việc sử dụng GPS sẽ xác định tọa độ
cây từ đó tạo ra được bản đồ phân bố cây xanh.
5. Cần có các dữ liệu lưu trữ về quá trình sinh trưởng của cây qua các
năm để tìm ra được môi trường thích hợp cho từng loại cây.
6. Dự báo trong tương lai. Khả năng dự báo trong tương lai cho
phép các nhà quản lý đưa ra các kế hoạch dài hạn cho con người và
thiết bị, chuẩn bị ngân sách và quyết định các kế hoạch một cách
cụ thể.
2.2.4. Cơ sở lý thuyết và hệ thống thông tin địa lý
2.2.4.1. Cơ sở dữ liệu
Khái niệm về cơ sở dữ liệu [19]
Từ lâu trên thế giới, tồn tại các cơ sở dữ liệu như Xbase, Dbase,

liệu lại với nhau thành một bảng dữ liệu như người sử dụng mong đợi.
- Để thực hiện quá trình này và cho kết quả như mong đợi, cần phải
thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu với độ tối ưu, nhằm cho phép tạo liên kết giữa
các bảng một cách logic, để kết xuất kết quả như mong đợi
- Sau khi tạo quan hệ giữa các bảng với nhau, có thể xây dựng các đối
tượng khác như Form, Query, Report ... để kết nối dữ liệu từ nhiều Table hay
Query.
- Bằng cách này, lợi ích của việc chuẩn hoá dữ liệu và thiết lập quan hệ
để xuất thông tin như người sử dụng cần thiết.
- Thông thường triển khai trong mạng cục bộ, tốc độ có độ ưu tiên sau
chuẩn hoá dữ liệu và tính liên kết dữ liệu.

11


2.2.5. Hệ thống định vị toàn cầu GPS
Khái niệm chung
GPS viết tắt từ chữ tiếng Anh: Global Positioning System, tạm dịch là
Hệ thống định vị toàn cầu.
Thực chất, một GPS là một hệ thống anten thu nhận tín hiệu vệ tinh,
được nối với một máy tính đã cài sẵn phần mềm xử lý. Nguồn năng lượng
cung cấp cho GPS thường là pin hoặc acqui [11].
Sơ lược lịch sử hình thành GPS
Thời thượng cổ con người định vị bằng cách đánh dấu lên thân cây,
vách hang, sau đó dựa vào vị trí các vì sao bằng các công cụ khá tinh xảo và
các tính toán phức tạp, nhất là trong các chuyến đi biển.
Năm 1960, không quân và hải quân Mỹ bắt đầu các dự án nghiên cứu
việc dẫn đường và định vị bằng vệ tinh. Năm 1978 Block 1 với 11 vệ tinh
trong hệ thống định vị toàn cầu GPS (Globe Positioning System) được Mỹ
đưa lên quỹ đạo. Hai năm sau đó đồng hồ nguyên tử trên các vệ tinh mới bắt

HTTĐL là một nhánh của công nghệ thông tin, được hình thành vào
những năm 60 của thế kỷ trước và phát triển rất mạnh mẽ trong những năm
gần đây. HTTĐL được sử dụng nhằm xử lý đồng bộ các lớp thông tin không
gian (bản đồ) gắn với các thông tin thuộc tính, phục vụ nghiên cứu, quy
hoạch và quản lý các hoạt động theo lãnh thổ [12].
Ngày nay, HTTĐL đã trở thành công cụ trợ giúp quyết định trong hầu
hết các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế
giới. HTTĐL có khả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý,
các doanh nghiệp, các cá nhân …đánh giá được hiện trạng của các quá trình,
các thực thể tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập,
quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền
hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở toạ độ của dữ liệu đầu vào.
Có nhiều quan niệm khác nhau khi định nghĩa HTTĐL:
13


“Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống thông tin bao gồm một số
hệ con (subsystem) có khả năng biến đổi các dữ liệu địa lý thành thông tin có
ích” - theo Calkin và Tomlinson, 1977 [12].
Theo định nghĩa của ESRI (Enviroment System Research Institute) thì
“Hệ thông tin địa lý là một tập hợp có tổ chức bao gồm phần cứng, phần mềm
máy tính, dữ liệu địa lý và con người, được thiết kế nhằm mục đích nắm bắt,
lưu trữ, cập nhật, điều khiển, phân tích và kết xuất”[12].
Cho đến nay, đã thống nhất quan niệm chung là: “HTTĐL là một hệ
thống kết hợp giữa con người và hệ thống máy tính cùng các thiết bị ngoại vi
để lưu trữ, xử lý, phân tích, hiển thị các thông tin địa lý để phục vụ một mục
đích nghiên cứu nhất định” [12].
Nếu xét dưới góc độ hệ thống, thì HTTĐL có thể được hiểu như một
hệ thống các hợp phần: Phần cứng, Phần mềm, Cơ sở dữ liệu và Cơ sở trí thức
chuyên gia, nơi tập hợp các định hướng, chủ trương ứng dụng của nhà quản


Các ứng dụng của hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống thông tin địa lý thông qua chức năng xử lý phân tích dữ liệu
có những ứng dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực [12].
Bảng 2.1. Các ứng dụng của Hệ thống thông tin địa lý
Lĩnh vực
1. Hỗ trợ trong quản lý

Ứng dụng
- Hỗ trợ trong định vị ống ngầm, cáp ngầm.
- Hỗ trợ trong quy hoạch
- Trong mạng lưới dịch vụ viễn thông
- Trong quy hoạch theo dõi sử dụng năng lượng
2.Quản lý tài nguyên và môi - Nghiên cứu thích hợp mùa vụ
trường
- Trong quản lý đất nông nghiệp, quản lý rừng
nguồn nước và đất ẩm ướt
- Phân tích các tác động môi trường
- Giám sát các thảm họa thiên nhiên và giảm
nhẹ các ảnh hường
- Giám sát chất thải môi trường
3. Mạng lưới giao thông
- Hướng dẫn, điều khiển giao thông (lịch trình,
tuyến đường)
- Vị trí nhà và đường
- Lựa chọn khu vực
- Dịch vụ y tế
- Quy hoạch giao thông
4. Quy hoạch và xây dựng
- Quy hoạch đô thị


Hình 3.1. Bản đồ Quận Ba Đình – thành phố Hà Nội
(Nguồn: [28]).

17


Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, là nơi làm việc của Chủ tịch nước Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tòa nhà nằm trong khuôn viên của khu Phủ
chủ tịch, gần lăng Hồ Chí Minh và quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
Vườn Bách thảo Hà nội là một công viên xanh nằm ở phía Tây Bắc thủ
đô Hà Nội, được thành lập từ những năm đầu người Pháp đặt chân đến Việt
Nam và được ví như lá phổi xanh của Hà Nội, với những cây cổ thụ lớn bằng
vòng tay mấy người ôm là chứng nhân của nhiều biến cố trong lịch sử thủ đô
[28].
Vườn Bách Thảo chỉ còn diện tích trên 10 ha nằm trong phường Ngọc
Hà, quận Ba Đình. Tuy nhiên, cảnh quan thiên nhiên nơi đây vẫn còn giữ
được cái tinh túy nhất ngày xưa. Núi Nùng (núi Sưa) vẫn còn soi bóng trên hồ
Vị Danh (hồ tròn) xanh trong. Bách Thảo còn được một vùng tự nhiên rộng
lớn bao quanh hỗ trợ, như phía Bắc và Đông Bắc có Hồ Tây, hồ Trúc Bạch,
phía Tây là dải đất phù sa dọc sông Hồng với làng hoa Ngọc Hà, và phía
Đông và Đông Nam tập trung một quần thể di tích lịch sử đồ sộ: Quảng
trường Ba Đình và khu lưu niệm Hồ Chủ Tịch. Bách Thảo Hà Nội không chỉ
đẹp về cảnh quan, vị trí mà bản thân nó còn giàu về thành phần cây cỏ [28].
“Đặc sản” của Bách Thảo là cây sưa, thứ cây quý đang bị săn lùng
gần đây. Gần trăm cây lớn nhỏ mọc tập trung, chưa kể gốc chen giữa các
loài khác.
Trên mảnh đất tuy nhỏ hẹp của khuôn viên vườn Bách Thảo có nhiều
loài cây gỗ quý hiếm đặc trưng cho các cánh rừng ẩm nhiệt đới phương Nam.
Số loài địa phương chiếm trên 2/3 các loài cây hiện hữu, còn lại 1/3 là các

năm 84%, là khu vực có độ ẩm cao. Mùa mưa cũng là mùa thường có gió bão
xuất hiện một năm trung bình có 2-3 cơn bão đổ bộ vào Bắc Bộ ảnh hưởng
đến Hà Nội [28].
3.1.1.3. Thủy văn
Hồ Trúc Bạch có diện tích khoảng 18ha, mực nước cao nhất về mùa
mưa 7- 7,1m, sâu trung bình 1-1,2m. Hồ Trúc Bạch bị ô nhiễm nặng do 2 hệ

19


thống cống chính Phạm Hồng Thái và Nguyễn Trường Tộ xả cả nước thải và
nước mưa vào hồ này [28].
- Ngoài ra khu vực quận Ba Đình có một phần diện tích nằm ngoài Đê
sông Hồng. Địa hình ở đây có độ cao trung bình từ 10,5-11m, chịu ảnh
hưởng trực tiếp của mực nước lũ sông Hồng [28].
- Qua số liệu thủy văn thống kê từ 1904 đến 1986, mực nước max sông
Hồng hàng năm về mùa mưa thường cao hơn mức 11,5 đến 12,0m. Đặc
biệt có những năm mực nước dâng cao như năm 1945 H = 13,9m, năm
1969: 13,22m, năm 1941: 14,71m, năm 1983: 13,2m, năm 1986:
13,70m [28].
- Trong quận, ngoài Hồ Tây là nơi xả nước còn một số ao hồ khác
như :Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Giảng Võ, Ngọc Khánh.
3.1.1.4. Địa chất
Theo khu vực bản đồ khu địa chất công trình quận Ba Đình chủ yếu
thuộc phân khu I-3a, II-2b, có cấu tạo lớp á sét dày 10m, rất thuận lợi cho
việc xây dựng và khu II-2b có cấu tạo á sét dày 4-6m, dưới lớp bùn, than bùn
và than non, có thể xây dựng nhà 4-5 tầng với độ sâu đặt móng khoảng 1m
[28].
3.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội
Ba Đình có diện tích 9.244km 2. Có 14 phường. Dân số trong quận

Phó Đức Chính, phố Quán Thánh, phố Phan Đình Phùng, phố Hòe Nhai, phố
Nguyễn Trường Tộ, phố Trúc Bạch, phố Hàng Cót, phố Ngọc Hà, đường Ông
Ích Khiêm, đường Yên Phụ, phố Hoàng Hoa Thám.
Các điểm Quận Ba Đình bao gồm có: Vườn Bách Thảo, sân chùa Quán
Thánh, Đền Voi Phục, Công viên Thủ Lệ, Văn Phòng Chính Phủ, Phủ Chủ

21


Tịch, Khu lưu niệm Hồ Chủ Tịch, nhà sàn Bác Hồ, vườn hoa Lê -nin, vườn
hoa Mai Xuân Thưởng, Vườn hoa Lý Tự Trọng.
3.3.2. Thu thập dữ liệu
Ảnh vệ tinh IKNOS. Dùng để kiểm tra xem vị trí của cây có tác dụng
hỗ trợ trong việc điều tra cây được nhanh chóng và chính xác hơn.
Dùng GPS. Một bộ kiểm tra GPS có tác dụng ghi lại vị trí của một cây
trong vòng 1-5m bằng cách hiệu chỉnh vệ tinh [12]. Người đo đứng cạnh cái
cây để ghi thông tin của vị trí cây. Độ chính xác của thông tin phụ thuộc vào
đơn vị GPS, số điểm tập hợp được về một cây, và số lượng vệ tinh có mặt trên
bầu trời khi mà thu thập dữ liệu. Sau đó máy tính được sử dụng để chỉnh dữ
liệu và chuyển dữ liệu thu thập được trực tiếp vào GIS.
Chỉ tiêu chung
+Loài cây.
+ Vị trí của cây (phường, quận).
+ Mảnh bản đồ.
Tên loài cây do các chuyên gia xác định, loài nào chưa rõ được xác
định bằng cách lấy tiêu bản sau đó được đem đi làm thí nghiệm.
Chỉ tiêu định lượng.
+ Đường kính thân cây ở độ cao 1,3m (D1,3)
+ Chiều cao cây.
+ Chiều cao vút ngọn (HVN), chiều cao dưới cành (HDC).

+ Hình dáng cây: cây đứng một thân, nghiêng hướng Nam,
nghiêng hướng Bắc…
+ Hiện trạng của cây: mục thân ở gốc, cây cụt ngọn, u bướu,
tơ hồng.
+ Đánh giá chất lượng: cây sinh trưởng tốt, cây sinh trưởng
trung bình, cây sinh trưởng xấu.
+ Dự kiến quy hoạch: chăm sóc, bảo vệ…
3.3.3. Cơ sở dữ liệu cây xanh
3.3.3. 1. Cấu trúc cơ sở dữ liệu
Mô hình dữ liệu
Hệ cơ sở dữ liệu xây dựng trên các mô hình cơ sở dữ liệu:
- Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ
- Mô hình dữ liệu đa phương tiện
- Mô hình dữ liệu Hệ thống thông tin địa lý

24


Dữ liệu
Dữ liệu từ các thông tin xây dựng mô hình quan hệ bằng các bảng của
Database trong Mapinfo.
Các bảng dữ liệu gồm các trường theo các đề mục có kiểu: số thứ tự
cây, tên cây, số mảnh bản đồ, tên khoa học (Name), thuộc họ (Specie), thôn,
đường xá (Street), quận huyện (District), kinh độ (Longitude), vĩ độ
(Latitude)…
Dữ liệu bản đồ ở dạng Format của Mapinfo: dữ liệu bản đồ phân bố với
lớp cây xanh, dữ liệu bản đồ hành chính, địa hình.
Dữ liệu ảnh ở format JPG, BMP, TIF: các ảnh của cây cổ thụ.
3.3.3.2. Chức năng
Do đối tượng sử dụng của CSDL hiện tại là các nhà khoa học, nhà quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status