Đồ án tốt nghiệp
1
Bộ môn Địa chất
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN VẼ, SƠ ĐỒ
ST
T
1
Ký hiệu
Nội dung
Hình 1.1
Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
2
Hình 2.1
Sơ đồ địa chất khu vực Bát Xát – Lào Cai
3
Hình 3.1
Hình 3.6
Diorit bị biến đổi kali hóa có chứa quặng
41
9
Hình 3.7
Rìa tiếp xúc với khối xâm nhập, đá biến chất
của hệ tầng Sin Quyền đá có dấu hiệu bị thạch
anh hóa, clorit hóa và epidot hóa đá có màu lục
41
10
Hình 3.8
Diorir bị thạch anh hóa, epidot hóa, clorit hóa.
42
11
Hình 3.9
Diorit horblend Lùng Thàng bị các thể đá
mạch lamprophyr xuyên cắt
13
Hình 3.11
Diorit bị biến dạng dịch trượt phát triển hiện
tượng thạch anh tái kết tinh tập hợp hạt nhỏ
phân dải định hướng dịch trượt trái
45
14
Hình 3.12
Các cấu tạo cá mica định hướng dịch trượt bằng
trái
47
15
Hình 3.13
Chalcopyrit (Chp) tạo thành các ổ hạt, đám hạt,
mạch lấp đầy
49
16
Những nghiên cứu đã tiến hành cho thấy tồn tại một đới tạo khoáng đồng
có giá trị công nghiệp cao phân bố dọc theo rìa đông bắc đới Phan Si Pan.
Trong đới đã phát hiện được một loạt các mỏ quặng đồng có trữ lượng lớn
như: Sin Quyền, Vi Kẽm, Tả Phời và một loạt các điểm quặng đồng có tiềm
năng khác như: Nậm Chạc, Trịnh Tường, Suối Thầu, Lùng Thàng, Lũng Pô…
Kết quả khảo sát gần đây trong điểm quặng đồng Lùng Thàng đã phát hiện
được 03 thân quặng chủ yếu nằm ở phần vòm và rìa tiếp xúc của khối xâm
nhập với đá biến chất vây quanh. Mặc dù vậy đến thời điểm hiện tại chưa có
những nghiên cứu chi tiết về đặc điểm thạch địa hóa của khối xâm nhập Lùng
Thàng, đặc điểm quặng hóa đồng và các yếu tố địa chất khống chế quặng hóa
trong khu vực này. Vì vậy nghiên cứu đặc điểm địa chất và các yếu tố khống
chế quặng hóa đồng khu vực Lùng Thàng là vấn đề cấp thiết đặt ra nhằm định
hướng cho công tác điều tra, đánh giá khoáng sản trong khu vực.
Trong thời gian thực tập, thu thập tài liệu để hoàn thành đồ án tốt nghiệp,
tác giả đã tham gia thực địa cùng với các nhà địa chất Liên đoàn Bản đồ Địa
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
4
Bộ môn Địa chất
chất miền Bắc khảo sát quặng hóa đồng rìa đông đới Phan Si Pan, cùng thầy
hướng dẫn khảo sát và nghiên cứu quặng hóa đồng khu vực Suối Thầu, Phìn
Ngan, Lùng Thàng và mối quan hệ của của chúng với hoạt động magma
5
Bộ môn Địa chất
- Tổng hợp các loại tài liệu
- Phân tích các mẫu lát mỏng và mẫu khoáng tướng dưới kính hiển vi
- Tổng kết tài liệu và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
4. Nội dung đồ án
Sau thời gian xử lý, tổng hợp tài liệu trong phòng tác giả đã hoàn
thành đồ án tốt nghiệp của mình với cấu trúc gồm 03 chương không kể mở
đầu và kết luận:
Chương 1: Tổng quan về vùng nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm địa chất và khoáng sản khu vực Lùng Thàng và
vùng lân cận
Chương 3: Các yếu tố địa chất khống chế quặng hóa đồng khu vực
Lùng Thàng
Do thời gian, trình độ và kinh nghiệm có hạn nên đồ án không thể tránh
khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp và phê bình của quý thầy cô giáo và các bạn để đồ án của tác giả
được hoàn thiện hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, tỉ mỉ của
TS.Trần Mỹ Dũng và các thầy cô giáo trong Bộ môn Địa Chất, Khoa Địa
chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo điều kiện cho tác giả học tập,
nghiên cứu và hoàn thành bản đồ án này. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự
giúp quý báu và hướng dẫn tận tình của KS. Vũ Đình Tải và các nhà địa chất
Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc trong quá trình tác giả thực tập tại Liên
đoàn.
Xin chân thành cảm ơn!
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng có địa hình đồi núi, địa hình phân cắt
mạnh mẽ. Hầu hết địa hình thuộc cánh đông bắc phức nếp lồi Hoàng Liên
Sơn và thuộc phía tây nam đứt gãy sông Hồng.
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
7
Bộ môn Địa chất
Đồi núi trong vùng phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hình
thành 3 bậc địa hình:
- Địa hình thấp: chiếm phần nhỏ diện tích của vùng bao gồm các thung
lũng và lòng sông Hồng. Đại bộ phận có độ cao từ 50 - 100m, độ dốc trung
bình 10 - 20.
- Địa hình đồi núi trung bình: chiếm gần hết diện tích vùng nghiên cứu
gồm núi cao 200 - 500m, độ dốc trung bình 30 ÷ 45. Đồi núi có xu hướng
thấp dần về phía đông nam và bị phân cắt mạnh mẽ bởi các suối trong vùng
(chảy theo hướng tây bắc - đông nam và gần bắc nam).
- Địa hình đồi núi cao: nằm ở phía tây nam khu vực gồm các núi cao hơn
500m với độ dốc lớn hơn 45. Toàn bộ vùng núi cao bị mạng sông suối phân
cắt địa hình hiểm trở.
Các vùng đồi núi vùng này nối tiếp nhau hợp thành dải kéo dài theo
hướng tây bắc - đông nam cùng hướng với sông Hồng tạo thành địa hình của
- Nhiệt độ không khí: nhiệt độ trung bình năm 22,5C, nhiệt độ cao nhất
42C, nhiệt độ thấp nhất 2,2C, tháng lạnh nhất trung bình 16C.
- Lượng mưa: khu vực nghiên cứu có lượng mưa và cường độ mưa khá
lớn với 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có lượng mưa lớn,
trung bình 400-410mm/tháng. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,
thường có lượng mưa ít, trung bình 21-200mm/tháng.
- Độ ẩm không khí: độ ẩm tương đối trung bình năm biến đổi không
nhiều, độ ẩm lớn nhất vào tháng 5 là 86,8%, tháng khô nhất là tháng 11 là
84,3%.
- Gió: thổi theo hướng nam và đông nam chiếm ưu thế cả năm. Vận tốc
gió trung bình là 1,3m/s, trung bình tháng cao nhất là 20,6m/s.
1.2. Đặc điểm kinh tế nhân văn
1.2.1. Dân cư
Bát Xát là một huyện vùng núi với dân số là 70.015 người (2009). Dân
cư của vùng khá thưa thớt, bao gồm các dân tộc: Kinh, Mông, Dao, Tày, Thái,
Dáy, Xạ Phang, Xá Phó, Hoa… Trong đó người Kinh sống tâp trung ở các thị
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
9
Bộ môn Địa chất
trấn, thị xã và các thung lũng bằng nghề trồng trọt, buôn bán nhỏ và ít công
chức nhà nước. Các dân tộc khác sống rải rác thành các làng bản, phần lớn
Đồ án tốt nghiệp
10
Bộ môn Địa chất
nội địa cũng như giao lưu quốc tế. Các cơ sở văn hoá, y tế, giáo dục đang
từng bước được mở mang và nâng cao, tuy nhiên tỷ lệ người chưa biết chữ
còn khá cao, trình độ dân trí thấp cũng như các phong tục lạc hậu còn khá phổ
biến trong nhân dân, nhất là ở vùng núi cao.
Tóm lại, đặc điểm tự nhiên và kinh tế của vùng rất thuận lợi cho công tác
nghiên cứu địa chất. Trong vùng có ưu thế dân cư và lực lượng lao động tại
chỗ dồi dào. Vùng nghiên cứu đầy đủ thuận lợi công tác địa chất và khai thác
khoáng sản.
1.3. Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng
Lịch sử nghiên cứu địa chất trong vùng đã có nhiều các công trình
nghiên cứu địa chất và khoáng sản của các nhà địa chất trong và ngoài nước
từ đầu thế kỷ XX đến nay. Lịch sử nghiên cứu địa chất trong vùng cũng được
chia thành hai giai đoạn:
1.3.1. Giai đoạn trước 1954
Nghiên cứu địa chất trong thời kỳ này do người Pháp tiến hành với các
công trình như sau:
Năm 1917, Lantenois G. nghiên cứu kiến tạo vùng Lào Cai – Sa Pa song
không có tài liệu gì để lại.
Năm 1921, Dussault L. và Jacob Ch. Công bố “Báo cáo nghiên cứu địa
chất Bắc trung bộ và Bắc bộ” đã coi granit và gneis của vùng này có tuổi già
nhất.
Năm 1931, Sở Địa chất Đông dương xuất bản tờ “Địa chất Cao Bằng” tỷ
lệ 1:500.000. Các tác giả đã gộp chung granit với tầng đá biến chất cổ và xếp
tuổi Tiền Cambri. Riêng các đá magma được phân chia thành granit, đá màu
(thân quặng giữa, đông) và tìm kiếm tỉ mỉ thân quặng tây và Cốc Mỳ - Vi
Kẽm.
Năm 1973, Đoàn 5 kết thúc thăm dò tỉ mỉ khoáng sàng Sin Quyền và
đang tìm kiếm tỉ mỉ các điểm quặng quanh vùng III, V, suối Thầu, Nậm Chạc,
Nậm Mít và Phìn Ngan .
Năm 1975, Đoàn 5 đã hoàn thành báo cáo địa chất về kết quả thăm dò tỉ
mỉ quặng đồng Sin Quyền và năm 1981 - 1982 nộp báo cáo thăm dò sơ bộ
phân vùng V.
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
12
Bộ môn Địa chất
Năm 1999, Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam đã lập Báo cáo nghiên
cứu khả thi tổ hợp đồng Sin Quyền - Lào Cai - Việt Nam.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu địa chất và khoáng sản vùng này còn thể
hiện trong các công trình nghiên cứu tổng hợp trên toàn lãnh thổ khu vực của
các tác giả như: Lê Văn Cự (1978), Trần Văn Trị (1977), Trần Đức Lương và
Nguyễn Xuân Bao (1980), Nguyễn Xuân Bao và Đào Đình Thục ( 1979,
1984), Nguyễn Huy Sinh (1984), Trần Văn Trị và Nguyễn Xuân Tùng (1992),
Lê Đức An (1995), Đào Đình Thục và Huỳnh Trung (1995).
SV: Trần Vân Anh
tả cho các đá biến chất ở bờ trái sông Hồng và xếp tuổi Arkeozoi hoặc
Proterozoi. Các thành tạo biến chất có tuổi cổ nhất của vùng, phân bố trên
diện hẹp ở phía đông thị xã Lào Cai và một số điểm lộ nằm rải rác dọc bờ
phải sông Hồng ở khu vực Bát Xát.
Hệ tầng Ngòi Chi phân bố ở phía đông nam khu vực nghiên cứu.
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
14
Bộ môn Địa chất
Thành phần thạch học của hệ tầng Ngòi Chi gồm :
Tập quaczit chuyển lên đá phiến thạch anh-felspat-granit xen đá phiến
thạch anh biotit-silimanit-granat, quaczit, thấu kính amphibolit.
Trong các vết lộ dọc dòng Nậm Thi và theo đường sắt Lào Cai – Phố Lu
khá phổ biến đá bị cà nát ép phiến hóa. Trong đó biotit được thay thế bằng
chlorit, plagioclas, felspat thay thế bằng muscovit và kaolin.
Chiều dày hệ tầng quan sát được khoảng 600 – 700m.
Các thành tạo Paleoproterozoi
Loạt Xuân Đài
Loạt Xuân Đài do Nguyễn Xuân Bao (1969) xác lập và mô tả với hai hệ
tầng chuyển tiếp nhau liên tục là hệ tầng Suối Chiềng và hệ tầng Suối Làng.
Những năm về sau hệ tầng Suối Làng được thay bằng hệ tầng Sin Quyền (Tạ
-Tập 1 (PP Thành phần chủ yếu là đá phiến hai mica, đá phiến biotitgranat, xen ít lớp đá phiến thạch anh-felspat-mica và các lớp mỏng quarzit.
Chiều dày trên 500m
-Tập 2 (PP : Thành phần chủ yếu là đá phiến biotit-epidot-sphen,
amphibolit-epidot, xen những lớp mỏng đá phiến felspat-thạch anh-mica và
đá phiến hai mica. Chiều dày trên 1400m
Hệ tầng chỉnh hợp dưới hệ tầng Sin Quyền và bị các khối xâm nhập
thuộc phức hệ Po Sen xuyên cắt.
Hệ tầng Sin Quyền (PPsq)
Hệ tầng Sin Quyền phân bố rộng khắp bờ phải sông Hồng tạo thành dải
kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam từ Trịnh Tường - Cốc Mỳ - Bản Vược
- Quang Kim. Ngoài ra, còn vài diện lộ nhỏ hơn phân bố rải rác tại trung tân
vùng nghiên cứu.
Hệ tầng Sin Quyền được nghiên cứu đầu tiên trong tài liệu “Đá phiến kết
tinh Proterozoi : Osika 1961”. Sau đó hệ tầng được xác lập trong nghiên cứu
“Hệ tầng Sin Quyền, Tạ Việt Dũng, 1962”. Sau này một số nghiên cứu khác
có nhắc đến hệ tầng Sin Quyền như: Các hệ tầng Chiêm Hoá, Nà Hang, A.E.
Dovjikov và nnk, 1965. Hệ tầng Ngòi Hút, Phan Trường Thị, 1978.
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
16
Bộ môn Địa chất
Đồ án tốt nghiệp
17
Bộ môn Địa chất
Hệ tầng Đá Đinh được nhà địa chất người Pháp Jacob Ch. xác lập đầu
tiên vào năm 1921. Sau đó, hệ tầng được xác lập lại bởi công tác đo vẽ bản đồ
địa chất khu vực tây bắc bộ của A. F. Kalmucov và Trần Văn Trị năm 1965.
Hệ tầng có thành phần chủ yếu gồm đá hoa dolomit hạt nhỏ hạt được
chia làm hai tập :
- Tập 1 : Đá hoa hạt nhỏ đến vừa, dạng đường, có tremolit, phân lớp
trung bình, chuyển lên đá hoa dolomit hạt nhỏ đến lớn và dolomit màu trắng
phân lớp vừa đến dạng khối. Bề dày 250m.
- Tập 2 : Đá hoa dolomit màu trắng hạt vừa, dạng khối, phân lớp dày,
xen các lớp mỏng đá hoa phân dải có tremolit, mutscovit, scapolit. Bề dày
350m.
Tổng bề dày hệ tầng khoảng 600m.
Hệ tầng Đá Đinh nằm chỉnh hợp với hệ tầng Cha Pả và không chỉnh hợp
dưới cuội sạn kết của hệ tầng Cam Đường tuổi Cambri sớm.
Trên cơ sở khác nhau về đặc điểm thành phần và tướng biến chất với
các hệ tầng của loạt Xuân Đài, hệ tầng Đá Đinh có quan hệ bất chỉnh hợp góc
với hệ tầng Cam Đường nằm trên và liên hệ so sánh với đá hoa Đan Ảnh (Vân
Nam, Trung Quốc) có chứa collenia tuổi Sini nên hệ tầng Đá Đinh được xếp
tuổi Neoproterozoi.
Gới Paleozoi
Các thành tạo Paleozoi trong vùng nghiên cứu chủ yếu là các trầm tích
tuổi Paleozoi sớm và Paleozoi giữa, phân bố thành các dải kéo dài theo
Cambri sớm.
Hệ tầng Cam Đường có quan hệ bất chỉnh hợp với hệ tầng Đá Đinh.
Sự gián đoạn trầm tích giữa hệ tầng Cam Đường trên loạt Sa Pa còn thể
hiện rõ trên bình đồ phân bố của chúng ở thượng nguồn Suối Thầu. Ở đó,
chiều dày đá hoa dolomit hệ tầng Đá Đinh nằm dưới hệ tầng Cam Đường chỉ
quan sát được khoảng 200m. Ở nhiều nơi trong diện phân bố các đá trầm tích
biến chất chứa photphorit hệ tầng Cam Đường có các thể mạch lamprophyr có
kích thước khác nhau không rõ xuyên cắt.
Hệ tầng Cam Đường gồm 3 tập chuyển tiếp liên tục nhau từ dưới lên trên là :
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
19
Bộ môn Địa chất
+ Tập 1 (Є1) gồm cát kết, sạn kết, đá phiến thạch anh-felspat-mica-than,
đá phiến thạch anh-mica, đá phiến thạch anh-carbonat, thấu kính đá vôi.
Chiều dày tập 430 - 700m.
+ Tập 2 (Є1) gồm đá phiến carbonat-thạch anh-apatit, đá phiến apatitcarbonat, vỉa apatit. Chiều dày tập 100 - 400m.
+ Tập 3 (Є1) gồm sạn kết, cát kết thạch anh-felspat, đá phiến thạch anhcarbonat, đá phiến sét than, đá phiến thạch anh-sericit. Chiều dày tập 500 –
750m.
Hệ Devon
Hệ tầng Bản Nguồn (D1bn)
Hệ tầng chủ yếu chứa đá vôi, đá vôi hóa hoa, đá hoa có tremolit, đá hoa
dolomit-tremolit. Chiều dày hệ tầng Bản Páp dày từ 200 – 500m.
GIỚI MEZOZOI, Thống dưới
Hệ tầng Viên Nam (T1vn)
Hệ tầng Viên Nam ( T1vn) do Phan Cự Tiến xác lập năm 1975, phân bố ở
phần phía đông nam khu vực nghiên cứu.
Các thành tạo phun trào mafic trong vùng tương đương với hệ tầng Viên
Nam có tuổi Pecmi muộn – Trias sớm đã được Bùi Phú Mỹ phân chia (1978).
Chúng phân bố thành hai dải nằm biệp lập cách xa nhau và có vị trí cấu trúc
không gian giống nhau.
Dải thứ nhất phân bố ở Tà Lèng nằm trong cấu trúc đới rift Sông Đà.
Dải thứ hai ở bờ Sông Hồng nằm ở phía rìa đông của phức nếp vồng Hoàng
Liên Sơn.
Các diện lộ dọc bờ phải Sông Hồng thường không liên tục, thành phần của
đá phun trào mafic trong dải này gồm : Bazan, Bazan hạnh nhân, andezitobazan
và các sản phẩm biến đổi của chúng như đá phiến actinolit-chlorit-epidot, đá
phiến actinolit-epidot-calcit. Chiều dày 400m.
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
21
Bộ môn Địa chất
Đồ án tốt nghiệp
•
•
22
Bộ môn Địa chất
Lớp đất trồng màu đen, dày 0,5 – 1m
Lớp cuội, sỏi xen cát, sét, bột màu nâu, màu xám có lẫn tảng kích
thước lớn còn góc cạnh, sắp xếp lộn xộn, dày 3 – 5m, đôi nơi trên
•
mặt của lớp này có laterit.
Lớp đá tảng, cuội, sỏi kích thước không đều, được mài tròn trung
bình, dày 8 – 10m.
Tổng chiều dày của trần tích thống Pleistocen từ 12 – 16m.
+ Trầm tích sông, thống Holocen hạ-trung:
Các thành tạo sông thuộc thềm bậc có thành phần là: Cuội, sỏi, cát,
sạn có lẫn tảng và bột, sét màu vàng đến nâu nhạt có chứa phong phú bào tử
phấn: Lycopodium sp., Almus sp., Castanes sp, Lygodium sp….Chiều dày
từ 6 – 8m.
+ Trầm tích sông, sông-lũ thống Holocen thượng:
Phân bố ở nhiều nơi với các diện tích hẹp và các bãi bồi, doi cát dọc
các sông và suối lớn, trầm tích gồm cuội, sỏi, sạn, cát và dăm tảng mài tròn
Thành phần thạch hoc của khối gồm: diorit thạch anh, granodiorit, granit…
Xuyên cắt các đá trên là các đá mạch specxatit, kersantit và granit porphyr dạng
mạch. Các đá diorit thạch anh, granodiorit, tonalit và diorit phân bố ở phía bắc,
phía đông và phía đông nam khối, còn các đá granit phân bố ở trung tâm và rìa
phía tây khối.
Khối Po Sen được hình thành bởi ba pha xâm nhập:
- Pha 1: Diorit thạch anh, tonalit và granodiorit.
- Pha 2: Granit biotit.
- Pha 3: Các đá mạch specxalit, kersantit và granit porphyr.
Phức hệ Po Sen xuyên cắt và gây sừng hóa các đá thuộc hệ tầng Suối
Chiềng (PPsc) và hệ tầng Sin Quyền (PPsq), được xếp vào tuổi Paleozoi sớm.
Phức hệ Ba Vì (Gb/T£bv)
Phức hệ Ba Vì do Phan Viết Kỷ (1975) xác lập. Trên diện tích nhóm tờ
Lào Cai xếp phức hệ Ba Vì gồm các thể xâm nhập dạng khối nhỏ, dạng đai
mạch kéo dài với thành phần chủ yếu là gabrodiabas và diabas.
Phức hệ Ba Vì chúng có liên quan chặt chẽ về không gian và nguồn gốc
với các đá phun trào bazan thuộc hệ tầng Viên Nam (vn). Ranh giới giữa xâm
nhập và phun trào khó phân biệt. Tuổi của phức hệ Ba Vì được xếp vào Trias
sớm.
SV: Trần Vân Anh
Lớp: LT Địa chất K59
Đồ án tốt nghiệp
24
Đồ án tốt nghiệp
25
Bộ môn Địa chất
Toàn bộ khu vực nghiên cứu thuộc rìa tây bắc khối Sa Pa khu á địa khu
Phan Si Pan. Nằm trong cấu tạo uốn nếp dạng tuyến tây bắc-đông nam của á
địa khu Phan Si Pan. Tại đây có nhiều uốn nếp phức tạp, bị nhiều đứt gãy và
các thể xâm nhập chia cắt. Ngoài ra, vùng có nếp uốn hẹp kéo dài, nhiều nơi
có những nếp uốn đảo có mặt nghiêng về phía đông bắc với góc dốc khoảng
45, thường có các đứt gãy hoặc các mạnh đá xâm nhập đi kèm.
2.2.1. Kiến tạo
- Khối kiến tạo Sin Quyền: phía tây nam tiếp xúc với khối granitoit Po
Sen, phía đông bắc tiếp xúc với khối kiến tạo Bát Xát, kéo dài từ Bát Xát tới
Lũng Pô rộng 1000 - 3000m. Các đá trong khối có phương 300 - 320 tạo
thành một nếp lồi nhỏ.
- Khối kiến tạo Bát Xát: kéo dài từ Lũng Pô đến Lào Cai rộng 1000m.
Tây nam tiếp xúc với hệ tầng Sin Quyền và granitoid Po Sen. Các vật liệu chủ
yếu là đá phiến thạch anh, felspat tạo thành nhiều nếp oằn và uốn nếp, hình
thành nhiều đứt gãy lớn và đới vỡ vụn mạnh.
- Khối kiến tạo Thùng Sáng: khối tạo một dải hẹp ven sông Hồng, kéo
dài từ Thùng Sáng đến Trịnh Tường, phía tây tiếp xúc kiến tạo với khối Bát
Xát, phía đông bắc tiếp xúc kiến tạo với khối phụ Trịnh Tường. Vật liệu gồm
có đá hoa, đá phiến thạch anh clorit, đá mạch aplit, đá phiến bazơ. Trong khối
xuất hiện nhiều đứt gãy hướng tây bắc-đông nam có liên quan chặt chẽ tới
khoáng hóa đồng Thùng Sáng.
Các hoạt động kiến tạo trong đới đồng Sin Quyền thường xuất hiện dưới