Tầm quan trọng và nội dung của việc bù nước và điện giải khi trẻ bị tiêu chảy - Trần Ngọc Thiện - Đại học Y Dược Huế - Pdf 37

I.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC BÙ
NƯỚC VÀ ĐIỆN GIẢI KHI TRẺ BỊ TIÊU CHẢY.

Tiêu chảy là bệnh thường gặp đứng thứ 2 mà trẻ mắc phải sau
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. Tỉ lệ tử vong đứng hàng thứ 2
sau trẻ suy dinh dưỡng.
Người ta ước tính ở
những nước đang phát
triển hàng năm có 1.3
ngàn triệu trẻ em
điện giải, nhưng chủ yếu là hấp thu. Trong trường hợp ỉa chảy
cấp, nhiều tác nhân gây nhiễm làm thay đổi hoạt động ở niêm
mạc ruột non, ức chế hấp thu hay kích thích xuất tiết. Lượng
lớn dịch xuất tiết ra không được đại tràng hấp thu hết và bị
tống ra ngoài dưới dạng phân lỏng nhiều nước.
Có 4 cơ chế sinh bệnh chính của tiêu chảy:

Tiêu chảy do
tổn thương
niêm mạc
ruột

Tiêu chảy
thẩm thấu

Tiêu chảy do
rối loạn nhu
động ruột

Tiêu chảy
tiết dịch

Tiêu chảy thẩm thấu:


- Do sự hiện diện trong lòng ruột một chất tan, có hoạt tính
thẩm thấu nhưng được hấp thu kém.
-> Nước vào lòng ruột theo khuynh độ thẩm thấu
-> Na+ và Cl- cũng bị kéo vào lòng ruột theo khuynh độ
nồng độ

c, Rối loạn nước và điện giải trong tiêu chảy:









Mất nước:
Mất nước ưu trương (tiêu chảy thẩm thấu)
Mất nước đẳng trương ( tiêu chảy tiết dịch)
Mất nước là điều nguy hiểm nhất trong tiêu chảy vì gây
giảm lưu lượng tuần hoàn, trụy tim mạch, tử vong
nếu không điều trị ngay.
Mất điện giải:
Na+, K+, Mg2+, Ca2+, Cl-, HCO3-,….
Na+ máu giảm sẽ kéo theo nước ra ngoài=> mất nước.
Na+ là cation ngoài bào chính trong cơ thể và có tác động
đáng kể đến độ thẩm thấu huyết thanh. Cùng với K+, Na
đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát điện thế
màng trong tim và hoạt động của tim.
Giảm Kali huyết có thể ảnh hưởng đến sự dẫn truyền của
điện thế hoạt động, điện thế này khi đạt đến cực trị có thể
gây nhịp nhanh trên thất.
Canxi có tác dụng đáng kể trên các tế bào cơ tim, ảnh
hưởng đến quá trình dẫn truyền tín hiệu nội bào và sự co
cơ. Đặc biệt, nồng độ Canxi có thể làm thay đổi thời gian


là bù nước và các chất điện giải. Nước và các chất điện giải bị
mất do ỉa chảy có thể bù lại bằng cách uống dung dịch có
chứa Natri, Kali, và glucose hoặc carbohydrat như bột gạo.
Bắt buộc cần phối hợp
glucose với natri.
Duy trì hệ thống đồng
vận chuyển glucosenatri trong niêm mạc
ruột non là cơ sở điều trị
bù nước và điện giải
dạng uống. Glucose
được hấp thu tích cực ở ruột bình thường và kéo theo natri
được hấp thu theo tỷ lệ khoảng cân bằng phân tử. Do vậy, sự
hấp thu dung dịch muối đẳng trương có glucose tốt hơn là
không có glucose. Tuy vậy, dùng quá nhiều glucose hoặc
saccarose để dễ uống và tăng giá trị dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có


thể làm tăng ỉa chảy, do tác dụng thẩm thấu của glucose chưa
hấp thu còn trong ruột.
Dung dịch uống bù nước – điện giải có tinh bột gạp tốt hơn có
glucose. Tinh bột khi vào cơ thể sẽ thủy phân dần thành
glucose và duy trì hệ thống vận chuyển glucose – natri. Công
thức dùng tinh bột gạo còn có ưu điểm hơn do ít gây tác dụng
thẩm thấu và cung cấp nhiều năng lượng hơn một chút so với
dung dịch điện giải có glucose.
Bù kali trong ỉa chảy cấp đặc biệt quan trọng ở trẻ em, vì thế
mất kali trong phân cao hơn người lớn. Bicarbonat hoặc citrat
được thêm vào dung dịch uống bù nước-điện giải và có tác
dụng ngang nhau trong việc khắc phục nhiễm toan chuyển hóa
do mất nước. Nếu điều trị được bắt đầu sớm, trước khi chức

trong vòng 10 phút, sau đó mới tiếp tục cho bé uống trở
lại, với tốc độ chậm hơn cứ 2-3 phút/thìa.
+ Trường hợp sau khi uống oresol, trẻ có dấu hiệu sưng
nề ở mắt thì nên ngừng cho trẻ uống thay vào đó nên cho
tăng cường cho bé bú sữa mẹ, uống nhiều nước. Khi trẻ
hết sưng phù mới tiếp tục cho trẻ uống oresol trở lại.
 Liều lượng uống:
+ Đối với trẻ mất nước nhẹ:
Trẻ dưới 2 tuổi: cho uống 50 ml sau mỗi lần tiêu chảy.
Trẻ từ 2-10 tuổi cho uống từ 100-200ml sau mỗi lần
tiêu chảy.
Trẻ trên 10 tuổi cho uống đến khi bé hết khát.
+ Đối với trẻ mất nước vừa:


Trẻ dưới 5kg cho uống 200-400ml sau mỗi lần tiêu
chảy.
Trẻ từ 5-7.9kg cho uống từ 400-600ml sau mỗi lần tiêu
chảy.
Trẻ từ 8-10.9kg cho uống từ 600-800ml sau mỗi lần
tiêu chảy.
Trẻ từ 11-15.9kg cho uống từ 800-1200ml sau mỗi lần
tiêu chảy.
Trẻ từ 16-29.9kg cho uống từ 1200-2200ml sau mỗi
lần tiêu chảy.
 Những lưu ý khi cho trẻ uống oresol:
- Pha thuốc đúng tỷ lệ quy định ghi rõ trên bao bì của
nhà sản xuất. Ví dụ 1 gói pha với một lít nước hoặc
một gói pha với 250ml nước. Nếu pha quá loãng hoặc
quá đặc sẽ làm thay đổi áp lực thẩm thấu của oresol

Sau mỗi lần đi tiêu chảy thì lại cho uống một tách
dung dịch đã pha.
- Nước dừa pha với muối cũng có giá trị bù nước như
oresol.
- Ngoài oresol, trên thị trường còn có bán thuốc viên
Hydrit có công thức giống như oresol (10 viên
hydrit=1 gói oresol). Tiện lợi của viên Hydrit là có thể
pha từng viên phù hợp với nhu cầu bù nước, mỗi viên
pha với 100ml nước sôi để nguội.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status