Tìm hiểu tỷ lệ và động cơ của việc hút thuốc lá ở sinh viên nam bác sỹ đa khoa, hệ tập trung 4 năm trường đại học y dược huế - Pdf 19


TRƯờNG ĐạI HọC Y DƯợC PHAN ĐìNH HòA

TìM HIểU Tỷ Lệ Và ĐộNG CƠ CủA
VIệC HúT THUốC Lá ở SINH VIÊN NAM
BáC Sỹ ĐA KHOA Hệ TậP TRUNG 4 NĂM

HUế, 2009
MỤC LỤC


4

3.1.2. Tuổi của các khối lớp
3.2. TỶ LỆ HÚT THUỐC LÁ
3.2.1. Tỷ lệ hút thuốc lá chung
3.2.2. Tỷ lệ hút thuốc lá theo từng khối
3.3. TÌNH HÌNH HÚT THUỐC LÁ
3.3.1. Thời gian hút thuốc lá chung
3.3.2. Thời gian hút thuốc lá theo từng khối lớp
3.3.3. Số điếu thuốc hút trong ngày chung
3.3.4. Số điếu thuốc hút trong ngày theo từng khối lớp
3.3.5. Thời gian hút điếu thuốc đầu tiên sau khi thức dậy
3.3.6. Thời gian hút điếu đầu tiên sau khi thức dậy theo từng khối lớp
3.3.7. Tình huống hút thuốc
3.4. ĐỘNG CƠ HÚT THUỐC LÁ
3.4.1. Lý do bắt đầu hút thuốc lá
3.4.2. Lý do bắt đầu hút thuốc lá theo từng khối lớp
3.4.3. Lý do hiện nay vẫn hút thuốc lá
3.4.4. Lý do hiện nay hút thuốc lá theo từng khối lớp
3.4. NHẬN THỨC VỀ TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
3.4.1. Ảnh hƣởng của hút thuốc lá
3.4.2. Nguồn thu nhận thông tin về tác hại của thuốc lá
3.4.3. Đồng tình với hút thuốc lá
3.4.4. Hiệu quả của biện pháp cấm hút thuốc lá tại trƣờng và bệnh viện
3.4.5. Ý định bỏ thuốc lá
Chƣơng 4 BÀN LUẬN
4.1. THÔNG TIN CHUNG
4.1.1. Tỷ lệ sinh viên các lớp Y
4


- nhiều hơn cả số người chết do HIV/AIDS, sốt rét và bênh lao cộng lại. Thuốc
lá là sản phẩm tiêu dùng hợp pháp duy nhất gây chết người khi nó được sử dụng
đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Có tới một nửa số người hút thuốc sẽ
chết vì những bệnh liên quan đến thuốc lá. Khói thuốc thụ động cũng gây tác hại
cho tất cả những người hít phải khói thuốc thụ động.[ 12 ]
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tại Việt Nam khoảng
40.000 người tử vong mỗi năm vì các bệnh liên quan đến hút thuốc lá, gần gấp 4
lần số ca tử vong vì tai nạn giao thông đường bộ. Đồng thời, Việt Nam là một
trong những nước có tỉ lệ hút thuốc lá cao trên thế giới (56,1% ở nam giới và
1,8% ở nữ giới), 2/3 số phụ nữ và ½ số trẻ em bị ảnh hưởng thụ động của khói
thuốc lá. Hiện nay, tổng chi phí xã hội do 3 loại bệnh phổ biến có nguyên nhân
từ hút thuốc gồm ung thư phổi, nhồi máu cơ tim hay bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính gây ra là trên 1.000 tỷ đồng mỗi năm.
Dự báo vào năm 2030, tại Việt Nam sẽ có tới 70.000 ca tử vong mỗi năm
liên quan đến hút thuốc lá. [ 28]
Những cảnh báo độc hại của thuốc lá, nguyên nhân chủ yếu tăng nguy cơ
mắc bệnh ung thư, bệnh tim mạch, đột quỵ…Nhưng số người hút thuốc lá vẫn
không ngừng gia tăng, trong đó số người hút không những là nhân dân lao động,
CBCNV… mà sinh viên, học sinh nói chung và sinh viên nam BSĐK hệ TT 4
năm trường Đại học Y Dược Huế nói riêng vẫn không tránh khỏi. Phải chăng
người hút thuốc lá có một “động cơ” nào đó để biện minh cho việc hút thuốc lá
của mình !

2
Hiện nay, có nhiều công trình trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công
trình nghiên cứu về sự tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người, nghiên
cứu về tình hình sử dụng thuốc lá và các chi phí của nó. Tuy nhiên để tìm hiểu
tình hình hút thuốc lá cũng như động cơ hút thuốc của giới thanh niên nói chung
và học sinh sinh viên nói riêng vẫn còn hạn chế.
Xuất phát từ mục đích và ý nghĩa trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

cáo ngày càng rầm rộ và việc tiêu thụ thuốc lá cũng từ đó tăng dần lên từ cuối
thế kỷ XIX qua đến thế kỷ XX. Đặc biệt tỷ lệ người hút thuốc lá tăng đáng kể
trong thời gian các cuộc chiến tranh thế giới do việc cung cấp miễn phí thuốc lá
cho binh lính như là một biện pháp củng cố tinh thần.
4
1.1.2. Tình hình sử dụng thuốc lá
1.1.2.1. Tình hình sử dụng thuốc lá trên thế giới:
Việc hút thuốc lá của các nước có thu nhập trung bình và thấp tăng lên từ
năm 1970. Tiêu dùng bình quân đầu người tại những nước này gia tăng có hơi
giảm đi từ những năm đầu thập kỉ 90 [79].
Trong khi hút thuốc lá khá phổ biến trong nam giới tại các nước có thu
nhập trung bình và thấp, khuynh hướng hút thuốc lá giảm đi trong nam giới ở
các nước có thu nhập cao. Vào giữa thế kỉ 20, hơn 55% nam giới Mỹ hút thuốc
nhưng đến những năm 90 chỉ còn 28%. Tiêu dùng bình quân một người trong
các nước có thu nhập cao như Mỹ, Nhật, Thụy Sĩ cũng giảm đi. Tuy nhiên với
một số nhóm cụ thể tại các nước này, như thanh thiếu niên và phụ nữ trẻ tỉ lệ hút
thuốc lá tăng lên trong những năm 90. Nhìn chung nạn hút thuốc lá mở rộng từ
nhóm đối tượng ban đầu là nam giới sang nữ giới tại các nữ tại các nước có thu
nhập thấp [ 27 ]
Trên thế giới, theo thông báo của Tổ chức Sức khỏe Thế Giới (1990)
Người hút thuốc lá
Các nước phát triển Các nước đang phát triển
Nam 30 – 40% 40 – 70%
Nữ 20 – 40% 2 – 10%
Thuốc lá giết chết một nửa số người sử dụng nó. Một nửa số này chết ở
lứa tuổi trung niên. Trung bình một ngày trên thế giới có 10.000 người chết do
sử dụng thuốc lá. [15]


6
Thuốc lá: Vũ khí huỷ diệt hàng lọat - 5
triệu người chết mỗi năm do thuốc lá
Ảnh: Baccotargetsblacks)
Năm 2009, 31/5/2009, để đối phó sự đe dọa của thuốc lá với sức khỏe và
đáp ứng yêu cầu phải hành động của các nước, chiến dịch truyền thông Ngày
Thế giới không thuốc lá 2009 lấy trọng tâm là thông điệp sau: “Cảnh báo sức
khỏe trên bao bì thuốc lá bằng chữ phối hợp với hình ảnh là một trong những
biện pháp ít tốn kém và hiệu quả nhất để nâng cao nhận thức của công chúng về
những nguy cơ nghiêm trọng do hút hút thuốc gây ra đối với sức khỏe, và để
giảm tiêu thụ thuốc lá”.

1.1.2.2. Tình hình sử dụng thuốc lá ở Việt Nam
Việt nam mỗi năm tiêu thụ khoảng 1700 triệu bao thuốc lá trung bình
mỗi người hút từ 24 – 25 bao/năm (chưa tính thuốc lá lậu không kiểm soát
được)[ 12].
Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu vào năm 1989 cho biết có
72,1% công nhân ở nhà máy ô tô Hà Nội hiện đang hút thuốc. Cũng vào năm
này cuộc nghiên cứu cá nhân ở đồng bằng sông Hồng cho biết rằng 99% nam ở
đây đã hút thuốc [ 12].

1.2.1. Thành phần
Trong khói thuốc lá có nhiều chất độc, chúng tồn tại dưới hai thể:
- Thể hơi (92%) gồm N
2
O
2
,H
2
,CO,

acrolein, formaldehyt

8
- Thể hạt (hắt ín thô 8%) trong đó có nhiều chất gây ung thư như: 3,4
benzopyren, anthracin, phenantharacen, các chất hỗ trợ gây ung thư như
cathecol, pyren
- Nicotin là một alkaloid rất độc vừa kích thích vừa ức chế hạch, là hoạt
chất chính chứa trong khói thuốc lá. Nicotin được hấp thu từ khói thuốc lá qua
đường hô hấp, tiêu hóa và tập trung cao nhất ở não, thận, niêm mạc dạ dày, niêm
mạc mũi, tuyến nước bọt, tim mạch, nicotin làm tăng nồng độ glucoza, corticoid,
acid béo, vasopresin và endophin trong huyết thanh.
Ngộ độc nicotin liều thấp có triệu chứng gây nôn mửa, chảy nước dãi,
tăng nhịp thở, nhịp tim, tăng huyết áp, chóng mặt, phụ nữ có thai nghiện thuốc lá
sẽ sinh con nhẹ cân, trẻ con có nhiều nguy cơ chết đột tử.
- Carbon monoxid:
Có tác dụng làm giảm khả năng lao động tăng nguy cơ đau mạch vành hay
viêm động mạch, chất CO kết hợp với Hb làm giảm khả năng vận chuyển oxy
của máu, hậu quả là không đủ oxy để nuôi các tế bào và tổ chức, khi mẹ hít phải
khói thuốc lá trong thời gian mang thai thì lượng CO trong bào thai tăng cao làm
tăng nguy cơ sinh con nhẹ cân, chậm phát triển trí tuệ gây tử vong chu sinh.

tỉ lệ mắc ung thư phổi tăng khá nhanh trong vòng 60 năm qua, tăng hơn nhiều so
với các loại ung thư chính khác.
Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ung thư phổi, khoảng 87% trong số
177,000 ca mới mắc ở Mỹ năm 1996 là do thuốc lá, còn lại do các nguyên khác
như: ô nhiễm môi trường, bệnh nghề nghiệp, ăn uống, cơ địa và các yếu tố di
truyền. 90% trong số 660,000 ca được chẩn đoán ung thư phổi hàng năm trên
thế giới là người hút thuốc lá. Giả dịnh nguy cơ của những người không hút
thuốc lá bị ung thư phổi là 1 thì nguy cơ bị ung thư phổi của những người hút
thuốc cao hơn gấp 10 lần so với những người không hút thuốc. Mức độ tăng
nguy cơ khác nhau thùy theo loại tế bào ung thư, nguy cơ bị ung thư biểu mô tế
bào váy và ưng thư biểu mo tế bào nhỏ ở những người hút thuốc tăng 5 đến 20

10
lần trong khi nguy cơ bị ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mo tế bào lớn
tăng 2 đến 5 lần so với những người không hút thuốc.
Mức độ nguy cơ sẽ tăng lên cùng với số năm hút thuốc lá, số lượng thuốc
lá tiêu thụ hàng ngày và lứa tuổi lúc bắt đầu hút thuốc là càng sớm càng nguye
hiểm. Hút bao nhiêu thuốc là thì tăng nguy cơ bị ung thư phổi? Người ta thấy
rằng với bất kỳ lượng thuốc hút nào cũng gây tăng nguy cơ mắc ung thư phổi.
Nói cách khác không có giới hạn dưới của lượng thuốc hút cần thiết để gây ung
thư phổi. Thời gian hút thuốc lá cũng rất quan trọng, thời gian hút càng dài thì
tác hại càng lớn.
Chỉ khoảng 13% bệnh nhân ung thư phổi sống sót sau 5 năm. Tỉ lệ chết
do ung thư phổi ở nam giới có hút thuốc cao gấp 22 lần so với nam giới không
hút thuốc, còn ở nữ thì gấp khoảng 12 lần. Trong khi rất nhiều phụ nữ tin rằng
ung thư vú là nguyên chính gây tử vong ở nữ thì đến năm 1998 ung thư phổi lại
cao hơn nhiều so với ung thư vú trong các trường họp tử vong ở phụ nữ.
Hút thuốc thụ động cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi với chỉ số
nguy cơ tương đối khoảng từ 1,2 đến 1,5. Khi đồng thời hút thuốc và có tiếp xúc
với yếu tố độc hại khác thì nguy cơ gây ung thư phổi sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

thông thường hiếm gặp. Tuy nhiên phụ nữ mà hút thuốc có nguy cơ gấp đôi mắc
ung thư âm hộ.
- Ung thư tử cung: Sự liên quan giũa hút thuốc và ung thư tử cung chỉ mới
được phát hiện gần đây. Có ít nhất 12 nghiên cứu đã thấy phụ nữ hút thuốc có
tăng nguy cơ bị ung thư tử cung và nguy cơ tăng cùng vói số lượng và thời gian
sử dụng thuốc.
- Ung thư dương vật: Ung thư dương vật đã trở nên ngày càng phổ biến ở
nam giới hút thuốc hơn là những người nam không hút thuốc.
- Ung thư hậu môn và đại trực tràng: Ung thư hậu môn. Bằng chứng mới
đây đã phát hiện ra hút thuốc là đóng vai trò tác nhân gây ung thư hậu môn và
đại trực tràng. Cũng trong một nghiên cứu diện rọng được tiến hành ở Mỹ, đối

12
với nam và nữ những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng từ 75
đến 100% so với những người cũng lứa tuổi không hút thuốc.
1.3.2. Thuốc lá và các bệnh hô hấp [20]
Hút thuốc lá là nguyên nhân được biết đến nhiều không những gây ung thư
phổi mà nó còn gây ra những bệnh phổi khác nữa.
- Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
( BPTNMT: Chronic obstructive pulmonary disease-COPD ) là một bệnh có đặc
điểm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường
xuyên bị hạn chế không hồi phục hoặc chỉ
hồi phục một phần, tiến triển, thường có
tăng phản ứng đường thở, do viêm phế quản
mạn tính và khí phế thũng gây ra. Mối liên
quan giữa BPTNMT và hút thuốc cũng
mạnh như với ung thư phổi.
- Bệnh hen: Hút thuốc không phải là nguyên nhân gây ra cơn hen nhưng
nó làm cho tình trạng bệnh hen nặng lên. Những người bị hen hút thuốc lá sẽ có
tăng tiết đờm, giảm cử động của lông chuyển phế quản, tăng nhạy cảm với

Hút thuốc thụ động là hít phải khói thuốc của người hút thuốc lá, xì gà
hay ống điếu. Khói thở ra từ người hút được gọi là dòng khói chính thở ra. Khói
lan tỏa từ đầu điếu thuốc lá đang cháy được gọi là dòng khói tỏa phụ. Môi
Trường Có Khói Thuốc bao gồm dòng khói chính và dòng khói tỏa phụ.
Khói thuốc lá có chứa khoảng 4000 hóa chất mà trong đó có khoảng 60
chất được nhận biết hoặc nghi ngờ là những chất carcinogens (chất gây ra ung
thư). Dòng khói tỏa phụ có khuynh hướng vất vưởng trong phòng lâu hơn và có
nồng độ của những chất gây ung thư cao hơn so với dòng khói thuốc chính thở
ra từ người hút. Vì dân cư Úc ở trong nhà hàng ngày nhiều hơn ra ngoài nên Môi
trường Có Khói Thuốc tại nhà là một mối nguy hại sức khoẻ nghiêm trọng. Đặc
biệt là trẻ em chịu nhiều nguy hiểm do ảnh hưởng nguy hại của việc bị hít khói
thuốc lá.

14
Trong công trình nghiên cứu của Trédanil J. Năm 1997 trên khắp 12 nước
thành viên của EU cho thấy trong số 1146 người không hút thuốc lá bao gồm
839 nữ 3075 bị tử vong do ung thư phổi thì người ta nhận thấy có nguyên nhân
do lấy chồng hoặc vợ hút thuốc lá. Năm 1992 cơ quan bảo vệ môi trường Hoa
Kì (EPA) cũng phát hiện thấy mối nguy hiểm do khói thuốc lá từ môi trường, nó
gây ra 3.000 trường hợp ung thư phổi ở những người không hút thuốc lá hằng
năm, đồng thời là thủ phạm của 26.000 trường hợp hen phế quản ở trẻ em
300.000 trường hợp viêm phế quản và viêm phổi ở nhũ nhi tại Mỹ. Ngày nay
người ta còn nhận thấy khói thuốc lá còn là thủ phạm của bệnh tim mạch, sinh
con nhẹ cân, hội chứng đột tử của trẻ em, viêm tai giữa, ung thư xoang mũi.
Người ta ước tính khói thuốc lá làm tử vong 62.000 người Mỹ hằng năm, còn số
người chết do ung thư phổi thì cao gấp 20 lần. Hít phải khói thuốc lá còn gây
sẩy thai, thay đổi hành vi và nhận thức, giảm chức năng hô hấp, ung thư cổ tử
cung.
- Các hóa chất trong khói thuốc lá không chỉ làm hại đến sức khỏe người
hút mà còn tác hại đến người hít, nhất là những người bị bệnh hen, suy tim,

làm việc nhiều hơn. Tuy nhiên trên thực tế nếu chúng ta càng hút nhiều, cơ thể
bị kích thích tiết các chất nội tiết tố liên tục cho đến khi các chất này bị cạn kiệt,
lúc ấy thay vì có cảm giác sảng khoái, người bệnh lại thấy mệt mỏi hơn, khó tập
trung tư tưởng, cáu gắt và suy sụp tinh thần mau chóng. Tiếc rằng phần lớn
những người nghiện thuốc lá lại không ý thức được vấn đề này, khi họ hút thuốc
mà không thấy sảng khoái thì lại có khuynh hướng tăng liều, nên càng lúc càng
nghiện nặng hơn và phải gánh chịu những hậu quả rất tồi tệ. Sự thèm muốn hút
thuốc còn xuất hiện khi người nghiện tiếp xúc với điếu thuốc lá, tẩu thuốc (pipe),
hộp quẹt, cùng với hương vị của các loại thuốc lá lúc đốt lên, hoặc khi nhìn
những người khác đang hút thuốc. Mùi vị của thuốc lá được hút vào cơ thể cũng
là một yếu tố gây nghiện. 16
1.3.2. Lý do, động cơ hút thuốc lá [15]
Một số cảm xúc xuất hiện khi hút thuốc lá như cảm giác êm dịu hoặc
hưng phấn sau khi hút đối với một số người. Cảm giác tự tin khi tiếp xúc, nói
chuyện và giao tiếp với người xung quanh. Hút thuốc lá còn giúp cho sự tập
trung tư tưởng dễ dàng hơn và tăng khả năng sáng tạo (các nghệ sĩ thường hay
hút thuốc lá). Thanh niên mới lớn, hút thuốc lá do bắt chước người lớn và như
một cách khẳng định mình không còn ở độ tuổi trẻ con nữa, và nhất là những
“cảnh” hút thuốc lá của những nhân vật anh hùng, phản diện trên truyền hình,
điện ảnh đã thu hút một số thanh thiếu niên đến với thuốc lá. Sống, học tập và
làm việc với một nhóm bạn bè nghiện hút thuốc lá, không sớm thì muộn chúng
ta cũng sẽ bị nghiện hút theo họ. Trong gia đình nếu cha mẹ nghiện hút thuốc lá
thì con cái cũng không tránh khỏi hút thuốc lá.

17
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

A,B,C 99 sinh viên
Lớp Y
4
4
A,B,C 91 sinh viên
2.1.2 Tiêu chuẩn
Là sinh viên nam hệ tập trung 4 năm các lớp Y
4
1
, Y
4
2
, Y
4
3
, Y
4
4

Tìm hiểu động cơ hút thuốc lá, có hút thuốc lá hay không. Hiểu biết đặc
điểm về tác hại do thuốc lá gây ra.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang
2.2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ /2008 đến /2009
2.2.3. Các bƣớc tiến hành:
Soạn thảo câu hỏi phù hợp với điều kiện thực tế, đối tượng nghiên cứu sát
với yêu cầu và mục tiêu của đề tài. Lập phiếu điều tra, phân phối và hướng dẫn
cho các lớp sinh viên Y
4
để ghi nhận các câu trả lời.

- Tuổi, chiều cao, cân nặng trung bình của các đối tượng điều tra
* Tình hình sử dụng hút thuốc lá và nhận thức tác hại của thuốc lá
* Kết quả điều tra tình hình hút thuốc lá của các đối tượng có hút thuốc lá
* Liên quan giữa các lớp BSĐK hệ TT 4 năm với đọng cơ hút thuốc lá

19
2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Các số liệu thu thập được phân tích, xử lý theo phương pháp thống kê y
học thông thường bằng phần mềm Excell 2007 và SPSS 15.0
Để tính trung bình cộng tuổi, chiều cao, cân nặng trung bình các đối
tượng được điều tra chúng tôi tính theo công thức - Độ lệch chuẩn tuổi tính theo công thức
- So sánh sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ % của 2 mẫu nghiên cứu:

Dựa vào công thức

PA tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nA
PB tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nB
Trong đó p và q là 2 tỷ lệ của mẫu nghiên cứu được ước lượng dựa trên 2
mẫu như sau:

* p > 0,05 : Khác biệt không có ý nghĩa thống kê
* 0,01 < p < 0,05 : Khác biệt có ý nghĩa thống kê
* p < 0,01 : Khác biệt rất có ý nghĩa thống kê
xi

nB
pq
nA
pq
PP
t
BA




BA
BA
nn
XX
p


20
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. THÔNG TIN CHUNG
3.1.1. Sĩ số sinh viên khối lớp Y
4

Bảng 3.1. Tỷ lệ các sinh viên khối lớp Y

26,68
24,53
100,00
p
> 0,05 23,18
25,61
26,68
24,53
0
5
10
15
20
25
30
Y4_1 Y4_2 Y4_3 Y4_4
Lớp
Y4
Tỷ lệ
%

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ các lớp Y
4 Với 371 sinh viên nam hệ tập trung 4 năm (Y
4

4
4
Y

Chung
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
24-30
45
52,3
36
37,9
8
8,1
5
5,5
94
25,3
31-40
31
36,1
48

32,92±5,82
34,33±5,74
36,90±5,23
37,53±5,82
32,92±5,82

52,3
36,1
11,6
37,9
50,5
11,6
8,1
67,7
24,2
5,5
79,1
15,4
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Y4_1 Y4_2 Y4_3 Y4_4
24-30
31-40

Chiều cao TB
SDX 
(cm)
164,58
± 5,61
162,34
±12,18
164,27
± 4,93
165,62
± 4,06
164,18
± 7,54
p
> 0,05
Cân nặng TB
SDX 
( kg)
57,68
± 7,36
57,68
± 7,37
59,66
± 6,50
59,45
± 5,68
58,63
± 6,48
p
> 0,05

32,1
p < 0,01
Không hút thuốc lá
252
67,9
Chung
371
100,0 Trong 371 sinh viên Y
4
, có 119 sinh viên hút thuốc lá chiếm tỷ lệ 32,1%.
Sự khác biệt thống kê có ý nghĩa thống kê ( p < 0,01)
3.2.2. Tỷ lệ hút thuốc lá theo từng khối
Bảng 3.5. Tỷ lệ hút thuốc lá theo từng khối
Hút thuốc lá
Lớp

Không
p
n
%
n
%
4
1
Y
(n=86)
26

< 0,01
30,2
69,8
21,1
78,9
37,4
62,6
39,6
60,4
0
20
40
60
80
100
Y4_1 Y4_2 Y4_3 Y4_4
Không hút thuốc lá
Có hút thuốc lá
Tỷ lệ
%

Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ hút thuốc lá của Khối Y4
Có 119 SV khối Y
4
hút thuốc lá chiếm tỷ lệ 32,1%. Trong đó lớp Y
4
4
chiếm tỷ lệ cao nhất 39,6%.

Trích đoạn ĐỘNG CƠ HÚT THUỐC LÁ NHẬN THỨC VỀ TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ định bỏ thuốc lá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status