Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên ở trường đại học chính trị, bộ quốc phòng - Pdf 37

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC GIO DC


NGUYN DUY THNH

QUảN Lý PHáT TRIểN ĐộI NGũ GIảNG VIÊN
ở TRƯờNG ĐạI HọC CHíNH TRị, Bộ QUốC PHòNG

LUN VN THC S QUN Lí GIO DC

H NI - 2013

1


I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC GIO DC


NGUYN DUY THNH

QUảN Lý PHáT TRIểN ĐộI NGũ GIảNG VIÊN
ở TRƯờNG ĐạI HọC CHíNH TRị, Bộ QUốC PHòNG
Chuyờn ngnh: QUN Lí GIO DC
Mó s: 60 14 05
LUN VN THC S QUN Lí GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN VN LY

H NI - 2013



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

1.

Bộ Quốc phòng

BQP

2.

Đảng ủy Quân sự Trung ương

ĐUQSTW

3.

Đội ngũ giảng viên

ĐNGV

4.

Giáo dục, đào tạo

GD, ĐT

MỤC LỤC
Trang
cảm i

Lời
ơn.............................................................................................
Danh

mục

các

chữ

cái

viết ii

tắt................................................................
Mục

iii

lục..................................................................................................
Danh

mục

bảng vi


triển đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng…………………………...

12

1.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài………………...

14

1.2.1. Quản lý…………………………………………………………

14

1.2.2. Phát triển……………………………………………………….

17

1.2.3. Đội ngũ………………………………………………………...

18

1.3. Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên……………………………….

20

1.3.1. Một số quan điểm tiếp cận trong quản lý phát triển đội ngũ giảng 20

5


viên…..................................................................................................................

35

2.2.1. Thực trạng đội ngũ giảng viên…………………………………

35

2.2.2. Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên………….......

45

2.3. Nguyên nhân, một số kinh nghiệm rút ra.......................................

54

2.3.1. Nguyên nhân...............................................................................

54

2.3.2. Một số kinh nghiệm rút ra...........................................................

56

Chƣơng 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ, BỘ QUỐC PHÒNG.................

58

3.1. Yêu cầu và định hướng đề xuất giải pháp quản lý phát triển đội
ngũ giảng viên ở Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng………... 58
3.1.1. Yêu cầu quản lý phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Đại

3.2.4. Xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao và
quan tâm tới công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trẻ của Nhà 83
trường…………………………………………………………………
3.2.5. Từng bước hoàn thiện và thực hiện tốt cơ chế, chính sách đối
với đội ngũ giảng viên………………………………………………...

88

3.3. Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
quản lý phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Chính trị, Bộ
Quốc phòng…………………………………………………………...

90

3.3.1. Các bước khảo nghiệm ……………...........................................

90

3.3.2. Kết quả khảo nghiệm …………….............................................

91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ…………………………………….

95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................

98


công nghiệp, sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ đã và đang bức
thiết đòi hỏi mỗi quốc gia phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Ở bất
kỳ giai đoạn lịch sử nào, việc xây dựng, phát triển một nền giáo dục vững
mạnh là nhân tố then chốt, quyết định để thúc đẩy xã hội phát triển. Giáo dục,
đào tạo (GD, ĐT) đang là vấn đề được mỗi quốc gia quan tâm đầu tư phát
triển. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có thầy giáo
thì không có giáo dục... không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì
đến kinh tế - văn hóa”[29, tr. 331]. Do đó, xây dựng, phát triển đội ngũ giáo
viên có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào thực tiễn tình hình
phát triển của đất nước, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta luôn coi GD,
ĐT là quốc sách hàng đầu và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã
hội. Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng nhấn mạnh "đội ngũ giáo
viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh"
[14, tr. 47]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng
định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân
chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát
triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [17, tr.130,131].
Đây là tư duy mang tầm chiến lược, thể hiện quan điểm toàn diện, khách
quan, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi hơn lúc nào hết, phát triển
đội ngũ giáo viên vững mạnh, toàn diện, vừa hồng, vừa chuyên là yêu cầu cấp
thiết của giáo dục Việt Nam hiện tại. Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên
được Đại hội XI của Đảng chỉ rõ "xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng,
đáp ứng yêu cầu về chất lượng", là khâu then chốt, là tiền đề trong đổi mới
GD, ĐT. Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là “chìa

9



10


nhà giáo của Nhà trường đến năm 2015 xác định rõ “Đội ngũ nhà giáo là lực
lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà
trường. Chất lượng đội ngũ nhà giáo ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành
nhân cách của học viên đào tạo cán bộ chính trị - sĩ quan tương lai của quân
đội” [37, tr.1]. Việc xây dựng ĐNGV có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng
cao được Đảng ủy, Ban Giám hiệu, các cấp ủy quan tâm và tổ chức thực hiện
với hệ thống giải pháp tương đối đồng bộ, đạt được hiệu quả bước đầu. Tuy
nhiên, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đòi hỏi công tác
phát triển ĐNGV càng phải được coi trọng với những bước đi và giải pháp cụ
thể phù hợp với thực tiễn đặt ra.
Từ những vấn đề trên, để góp một phần trong việc nâng cao chất lượng
GD, ĐT nói chung và xây dựng ĐNGV nói riêng của Nhà trường, tôi chọn
nghiên cứu vấn đề "Quản lý phát triển ĐNGV ở Trường Đại học Chính trị,
BQP" làm đề tài luận văn cao học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận- thực tiễn quản lý phát triển ĐNGV
trường cao đẳng, đại học nói chung, ĐNGV Trường Đại học Chính trị nói
riêng. Đề xuất những giải pháp quản lý phát triển ĐNGV ở Trường Đại học
Chính trị trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV,
chất lượng GD, ĐT của Nhà trường trong tình hình mới.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV
các trường đại học, cao đẳng;
- Đánh giá đúng thực trạng; xác định nguyên nhân; rút ra một số kinh
nghiệm trong việc thực hiện các giải pháp quản lý phát triển ĐNGV của
Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng;
- Đề xuất một số giải pháp quản lý phát triển ĐNGV ở Trường Đại học

Các số liệu điều tra, khảo sát được lấy từ năm 2009 trở lại đây
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quản lý phát triển
ĐNGV ở Trường Đại học Chính trị, chỉ ra những thành công và hạn chế của
quá trình quản lý phát triển ĐNGV. Từ đó, cung cấp cơ sở khoa học để xây
dựng hệ thống giải pháp quản lý phát triển ĐNGV ở Trường Đại học Chính
trị trong giai đoạn hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong quản
lý phát triển ĐNGV trong các học viện, trường sĩ quan quân đội và các trường
cao đẳng, đại học trong cả nước. Ngoài ra, còn có giá trị tham khảo cho các
nhà nghiên cứu chuyên môn.

12


9. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
quản lý giáo dục như tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê toán học; bao
gồm các phương pháp cụ thể sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Kế thừa, tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu
liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra: Khảo sát 200 đồng chí học viên các khóa đang
đào tạo và 150 giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục của Trường Đại học Chính
trị.
Trao đổi trực tiếp một số cán bộ khoa, bộ môn, các phòng, ban chuyên
môn, lãnh đạo, chỉ huy các hệ, tiểu đoàn quản lý học viên của Trường Đại học
Chính trị.
Nghiên cứu các báo cáo tổng kết, kinh nghiệm bồi dưỡng, quản lý phát

viên nhắc nhở các thầy, cô giáo “dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi
đua dạy tốt và học tốt...phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên
môn...” [30, tr.403]. Người khuyên cán bộ và giáo viên “chớ tự túc, tự mãn,
cho là giỏi rồi thì dừng lại, mà dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, mình tự đào
thải trước” [31, tr.489].
Hồ Chí Minh cũng đặt ra những yêu cầu về nhiều mặt để giáo viên
phấn đấu đạt tới "Người huấn luyện của đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi
mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc” [43, tr.68]. Từ đó, Hồ Chí Minh yêu
cầu, giáo viên và cán bộ làm công tác giáo dục phải: là người có nhân cách
mẫu mực; là người có năng lực sư phạm tốt; là người tiêu biểu cho tinh thần
tự học, tự giáo dục.
Những giá trị cốt lõi khi đề cập tới nhà giáo và xây dựng đội ngũ nhà
giáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: Đề cao vai trò của đội ngũ giáo viên;
xác định chức năng, nhiệm vụ của giáo viên; đặt ra yêu cầu đối với giáo viên.
Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà giáo là những định hướng
cơ bản cho quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo của đất nước

14


trong suốt tiến trình cách mạng; đồng thời đây còn là những cơ sở lý luận thực tiễn hết sức quan trọng cho sự nghiệp xây dựng phát triển đội ngũ nhà
giáo hiện nay.
1.1.2. Hệ thống quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng đội ngũ
nhà giáo
Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước
ta luôn coi giáo dục là quốc sách, là động lực to lớn để thúc đẩy đất nước phát
triển. Đồng thời đã có nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn trong xây dựng
đội ngũ nhà giáo.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
VIII khẳng định “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi

mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoa ̣n 2006-2020 chỉ
rõ: “Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về số
lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên
môn cao, phương pháp giảng dạy và quản lý tiên tiến” [10, tr.3].
Ngày 11/01/2005 Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số
09/2005/TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn
của nhà giáo thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu
quả của sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng
những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế” [38, tr.1]
Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 của
chính phủ đã đề ra mục tiêu xây dựng ĐNGV đến năm 2010 và đến năm
2020; đề xuất giải pháp xây dựng ĐNGV về phẩm chất chính trị đạo đức,
trình độ chuyên môn, giảng dạy tiên tiến hiện đại. Một trong các nhiệm vụ
giải pháp chủ yếu để đổi mới nền giáo dục đại học một cách cơ bản, toàn diện
là: “Xây dựng ĐNGV, cán bộ quản lý giáo dục đại học có bản lĩnh chính trị,
có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao,
phong cách quản lý và giảng dạy tiên tiến” [10, tr.13]

16


Luật giáo dục năm 2005 cũng đã đề cao vai trò của nhà giáo. Tại Điều
15, Luật xác định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất
lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt
cho người học”; nhiệm vụ, tiêu chuẩn của nhà giáo (Điều 70); nhiệm vụ và
quyền hạn của nhà giáo (Điều 72,73); trình độ chuẩn được đào tạo của nhà

pháp sư phạm; thực hiện tiêu chuẩn hoá ĐNGV và tổ chức đào tạo bồi dưỡng
ĐNGV theo chức danh quy định. NQ94/ĐUQSTW về "Xây dựng đội ngũ cán
bộ quân đội trong thời kỳ mới", gần đây nhất là NQ86/ĐUQSTW về "Công
tác GD, ĐT trong tình hình mới" xác định việc phát triển đội ngũ nhà giáo
quân đội tập trung vào các vấn đề như “chú trọng về nâng cao trình độ học
vấn, năng lực và tay nghề sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn…Bố trí cán bộ đủ
phẩm chất, năng lực làm công tác giảng dạy và quản lý giáo dục. Thực hiện
tốt quy trình, kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo theo tiêu
chuẩn chức danh” [20, tr.22]. Một trong những quan điểm chỉ đạo trong Đề
án kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội đến năm 2010 đó là: “1.
Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng GD, ĐT; nghề
dạy học là nghề cao quý, nhà giáo phải đủ đức và tài, được xã hội tôn vinh. 2.
Xây dựng đội ngũ nhà giáo quân đội có phẩm chất chính trị và đạo đức cách
mạng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về chất lượng là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các ngành
trong quân đội” [8, tr.6]. Nhìn chung tinh thần căn bản của các nghị quyết, chỉ
thị nêu trên đều đề cập đến các vấn đề chính trong xây dựng, phát triển đội
ngũ nhà giáo quân đội như:
- Khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ nhà giáo trong các nhà trường
quân sự trong công tác đào tạo cán bộ quân đội, cho đây là nhân tố chủ yếu
quyết định việc bảo đảm chất lượng đào tạo cán bộ quân đội.
- Chỉ rõ sự cần thiết phải có chiến lược, chương trình, kế hoạch cụ thể
trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội trong từng thời
kỳ đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của các nhà trường quân đội.

18


- Đề ra những chỉ tiêu chính cho việc phát triển đội ngũ nhà giáo trong
quân đội cả về số lượng, cơ cấu tổ chức, chất lượng như: Đảm bảo cả số


1.1.4. Một số công trình đề cập đến vấn đề xây dựng, quản lý phát triển đội
ngũ giảng viên đại học, cao đẳng
Vấn đề xây dựng ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV đại học, cao
đẳng trong thời gian gần đây đã có một số công trình, đề tài khoa học, luận
văn quản lý giáo dục nghiên cứu.
- Một số đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nghiên cứu về ĐNGV
như:
Nguyễn Hùng (2008), Biện pháp phát triển ĐNGV trường Cao đẳng
Văn hóa Nghệ thuật Đăk Lăk.
Phan Văn Thạch (2008), Quy hoạch và phát triển ĐNGV trường Cao
đẳng Công nghiệp Cẩm Phả đến năm 2015.
Lê Thị Việt Anh (2011), Quản lý xây dựng và phát triển ĐNGV Trường
Đại học Điện lực.
Vũ Thị Dung (2011), Biện pháp quản lý ĐNGV của Trường Cao đẳng
Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011-2020.
Nguyễn Văn Đường (2011), Phát triển ĐNGV Trường Đại học Kỹ
thuật - Hậu cần Công an nhân dân.
Nguyễn Thị Hồng Việt (2012), Biện pháp phát triển ĐNGV ở trường Cao
đẳng Bách khoa Hưng Yên.
Những luận văn trên nghiên cứu, khái quát hóa những vấn đề chung của
khoa học quản lý và quản lý giáo dục. Tuy hướng tiếp cận khác nhau nhưng
đều đi sâu nghiên cứu thực trạng đội ngũ giảng viên và các biện pháp phát
triển đội ngũ giảng viên của một cơ sở đào tạo cụ thể, từ đó đề xuất biện pháp
phát triển đội ngũ giảng viên của cơ sở mình nghiên cứu, hoặc đang học tập,
công tác.
- Trong quân đội, Công trình nghiên cứu “Nâng cao chất lượng đào tạo
đội ngũ giáo viên khoa học xã hội nhân văn trong quân đội giai đoạn hiện
nay” (2005), do Đại tá, Phó giáo sư, tiến sĩ Đặng Đức Thắng chủ biên. Tác
giả đã xác định được hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo, xác định

đoạn hiện nay.

21


Nhận xét chung: Những công trình nghiên cứu trong và ngoài quân đội về
xây dựng, quản lý phát triển ĐNGV tuy chọn cho mình góc độ nghiên cứu
riêng, nhưng nhìn chung đều dựa trên cơ sở khoa học quản lý giáo dục để làm
rõ, khái quát hóa lý luận về quản lý phát triển ĐNGV, đề xuất các biện pháp
để quản lý phát triển, nâng cao chất lượng ĐNGV của nhà trường như: biện
pháp về kế hoạch, quy hoạch ĐNGV; biện pháp về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển
chọn, sử dụng ĐNGV; biện pháp về đảm bảo chế độ, chính sách cho ĐNGV
với mục tiêu xây dựng ĐNGV có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng đáp ứng
được với mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của nhà trường.
Những kết quả nghiên cứu về xây dựng ĐNGV cả trong và ngoài quân
đội có ý nghĩa thiết thực cho việc kế thừa, tổng hợp, khái quát những vấn đề
lý luận đặt ra, làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý phát triển
ĐNGV ở Trường Đại học Chính trị, BQP.
1.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục 1998): Quản lý là
Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Các trường phái quản lý xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau
nên đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý:
F.W Taylor với thuyết quản lý theo khoa học cho rằng: "Quản lý là biết
chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công
việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". F.W Taylor đã đưa ra 4 nguyên tắc quản lý
và căn cứ vào đó, ông đưa ra các chế độ và các phương pháp về quản lý tác
nghiệp và tổ chức quản lý.
H. Fayol với thuyết hành chính định nghĩa: "Quản lý là sự dự đoán và

là hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay, nhiều người cho rằng:
Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối điều hành
của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.
Từ những vấn đề trên, xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể
định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Khái niệm trên cho ta thấy:

23


- Quản lý bao giờ cũng là một tác động có hướng đích, có mục tiêu xác
định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: Chủ thể quản lý và
đối tượng quản lý.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và
ngược lại.
Quản lý là một khoa học nhưng mang tính nghệ thuật. Kiến thức làm cơ
sở cho quản lý là một khoa học, còn vận dụng kiến thức đó để quản lý lại là
nghệ thuật. Hoạt động quản lý là một lĩnh vực thực hành phải xử lý tình
huống khác nhau nên nó còn phụ thuộc vào tài nghệ của từng người (được gọi
là nghệ thuật quản lý). Đó là cách giải quyết công việc trong điều kiện thực
tại của tình huống mà những kiến thức quản lý và sách vở không thể chỉ ra hết
được. Quản lý chỉ dùng kiến thức thì sẽ dẫn tới giáo điều, bảo thủ, tự trói
mình và bỏ lỡ thời cơ trong quản lý. Trái lại chỉ dùng nghệ thuật trong quản lý
mà thiếu cơ sở khoa học thì về cơ bản lâu dài là thiếu vững chắc và sẽ bó tay

ngoài đối với sự vật - hiện tượng đó làm cho nó vận động, biến đổi theo
khuynh hướng đi lên.
Trong sự vận động biến đổi của xã hội luôn tồn tại xu hướng phát triển,
đó là sự vận động phát triển của cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội. Triết học
mác xít đặt con người vào sự phát triển biện chứng. Con người vừa là mục
tiêu vừa là sức mạnh của quá trình phát triển; mục tiêu của quá trình phát triển
xã hội là hướng vào việc đáp ứng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
xã hội nói chung, mỗi con người cá thể nói riêng; quá trình phát triển đó đạt
tới sự tăng trưởng và ở động thái bền vững lại do sức mạnh của chính con
người, của tập thể những con người đó trong đời sống cộng đồng. Mỗi con
người không thụ động hưởng sự phát triển mà là chủ thể của quá trình phát

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status