LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan
tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của
nhà trường và địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành
báo cáo tốt nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong
khoa Quản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt
thời gian em học tập tại trường; trong đó đặc biệt là cô giáo Th.S Tăng Thị
Thanh Nhàn - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian
em thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Đồng Thắng đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp đỡ để em hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp này.
Cuối cùng từ đáy lòng mình, em xin kính chúc các thầy, cô giáo và các
cô, chú mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Đồng Thắng, ngày 2 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Vi Thị An
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
RSX
Rừng sản xuất
RPH
Rừng phòng hộ
THCS
Trung học cơ sở
Ha
Hecta
UBND
SDĐ
Ủy ban nhân dân
Sử dụng đất
KSDĐ
Kiểu sử dụng đất
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
dựng cơ sở cho việc đề ra các phương án chuyển dịch cơ cấu cây trồng một
cách hợp lý nhất, nhằm đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất có thể. Xuất
phát từ thực tế trên, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai trường Đại
học Tài nguyên và môi trường Hà Nội, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng
viên – ThS. Tăng Thị Thanh Nhàn, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Thắng, huyện
Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng
Thắng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất giải pháp hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, KT-XH đầy đủ và chính xác, các
chỉ tiêu phải đảm bảo tính thống nhất và tính hệ thống.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với những chỉ tiêu phù
hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
- Các giải pháp đề xuất phải hợp lý về mặt khoa học và phải có tính khả
thi.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1
Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
như tôm, cua, cá,…
- Đất làm muối là diện tích đất dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất
muối.
1.1.3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã
hội. Khác với công nghiệp, sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng bởi
sự chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tê – xã hội. Những đặc điểm đó là:
- Đất đai đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp.
+ Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và
không thế thay thế.
+ Đất đai là sản phẩm của tự nhiên và có giới hạn nhất định.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật
Trong nông nghiệp, đối tượng sản xuất là các sinh vật, bao gồm: các loại cây
trồng, vật nuôi và các loại sinh vật khác. Chúng sinh trưởng và phát triển theo
một quy luật sinh lý nội tại và đồng thời chịu tác động rất nhiều từ ngoại cảnh
như thời tiết, khí hậu, môi trường. Giữa sinh vật và môi trường sống của
chúng là một khối thống nhất, mỗi một biến đổi của môi trường lập tức sinh
vật biến đổi để thích nghi, nếu quá giới hạn chịu đựng chúng sẽ bị chết. Các
quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan
của con người.
- Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn và
mang tính chất khu vực rõ rệt.
Các nhà máy, khu công nghiệp dù có lớn thế nào đi chăng nữa thì cũng
đều bị giới hạn về mặt không gian nhưng đối với nông nghiệp thì khác hẳn: ở
đâu có đất ở đó có sản xuất nông nghiệp. Phạm vi của sản xuất nông nghiệp
rộng khắp, có thể ở đồng bằng rộng lớn, có thể ở khe suối, triền núi, vì đất
nông nghiệp phân tán kéo theo việc sản xuất nông nghiệp mang tính phân tán.
- Có hiệu quả lâu bền và được xã hội chấp nhận .
- Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững. Nếu
sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất được bảo vệ cho phát
triển nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một
trong những cơ sở quan trọng nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập
được các hệ thống sử dụng đất hợp lý. Altieri và Susanna B.H.1990 cho rằng
nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi
thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại
của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro… Quan điểm đa canh và đa dạng
hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được Ngân hàng thế giới
đặc biệt khuyến khích đối với các nước nghèo .
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại,
vừa đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai . Phát triển nông nghiệp
bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm
đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả hiện tại và mai
sau . Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta, cần nắm vững mục tiêu
và tác dụng lâu dài của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh
học. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi
trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương. Từ đó, nghiên
cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững .
Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác: “Tiết kiệm và phân phối một cách
hợp lý”, các nhà Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng
tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng
được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội.
Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan hệ tương
quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết
quả đó”. Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn chi
nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc sử dụng đất là:
a. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết...) có ảnh hưởng trực
tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Bởi các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài
nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự
nhiên trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định
hướng đầu tư thâm canh đung.
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I.
Theo N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các
nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông
dân thiếu vốn là độ phì của đất.
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản
xuất nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể
lợi dụng những yếu tố đầu vào trong kinh tế, thuận lợi để tạo ra nông sản hàng
hoá với giá rẻ.
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt
trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác.
* Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và
phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ,
không khí nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một
trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản
lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ
độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét
theo từng vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5 0C, lượng mưa
năng suất cây trồng. Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố
trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng
đất cao.
* Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm. Con
người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng. Những sản phẩm
này cung cấp lương thực cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho xuất
khẩu.
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những
giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất.
Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không
những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian
sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá
phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, những tiến bộ trong
công tác giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng
hoá.
b. Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
* Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi
dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp
còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất
nông nghiệp được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay khi dân số tăng nhanh kéo
theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác
nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật
sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn .
Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
nghèo, khuyến nông...thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng
đất nông nghiệp của những người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá,
người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường,
thông tin thị trường, sức mua... hơn nữa các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản
xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa
bãi phân hoá học thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ... có tác động tiêu cực đến môi
trường, nguồn nước không khí và đất. Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng
các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng
dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực
trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được
đảm bảo ổn định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã không
ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai
nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật
đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và
nới rộng quyền của người sử dụng đất.
Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản
xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một
cách có hiệu quả. Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công
nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được
quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất.
Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó
làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp
một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng,
từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để
hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao
cách bền vững. Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật
trong canh tác, trong chế biến bảo quản…làm tăng năng suất, chất lượng cây
trồng vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động, vốn.
Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách
sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ đạt
được mục tiêu đề ra.
1.2.3. Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Trong quá trình sử dụng đất đai tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi
đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự tiết kiệm lớn
nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả. Do đó
tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông – lâm
nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực
hiện có hoặc mức độ tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một
khối lượng nông – lâm sản nhất định.
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức độ đạt được các mục
tiêu kinh tế, xã hội và môi trường (Đỗ Thị Lan, Đỗ Tài Anh, 2007).
“Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông – lâm
nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người dân. Vì vậy, đánh giá
hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng
vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền
vững về môi trường” (FAO, 1994)
1.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Mục đích đánh giá hiệu quả các LUT là để tính toán, so sánh và phân
loại mức độ thích hợp của các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường với các
loại hình sử sử dụng đất nông nghiệp ở địa phương.
Các chỉ tiêu cần tính toán để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
thường quy về đơn vị 1 ha cho từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp.
- Hiệu quả đồng vốn = CPTG/GTSX.
b. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Phân tích hiệu quả xã hội của bất kỳ loại hình sử dụng đất nông nghiệp
nào cũng cần trả lời một số câu hỏi sau đây:
- Khả năng đảm bảo đời sống của nông dân cũng như toàn xã hội (vấn
đề an ninh lương thực, vấn đề gỗ củi nhiên liệu...)
- Có phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện và tập
quán canh tác của người dân địa phương hay không?
- Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm?
- Tính ổn định, bền vững của những loại hình sử dụng đất bố trí ở các
vùng định canh định cư, kinh tế mới?
- Tỷ lệ sản phẩm hàng hóa?
Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại sử dụng nào cũng đạt được đầy đủ
các chỉ tiêu xã hội nêu trên. Tùy theo yêu cầu nghiên cứu hay mục tiêu xây
dựng dự án, người đánh giá có thể không lựa chọn chỉ tiêu này mà lựa chọn
chỉ tiêu kia để đưa vào đánh giá.
c. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Phân tích hiệu quả môi trường đối với các loại sử dụng đất nông nghiệp
nằm trong khuôn khổ của nội dung đánh giá tác động môi trường các phương
án sử dụng đất hay dự án phát triển nông nghiệp. Trong những đánh giá chi
tiết và các dự án mang tính khả thi thì việc phân tích hiệu quả môi trường là
một nội dung quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của loại sử
dụng đất nông nghiệp được lựa chọn đưa vào bố trí.
Các chỉ tiêu cần xem xét bao gồm:
- Tỷ lệ che phủ tối đa (tính bằng % diện tích mặt đất) mà loại sử dụng đất
nhất định tạo ra, khả năng chống xói mòn rửa trôi (lượng đất mất do xói mòn).
- Nguy cơ gây ô nhiễm hoặc phú dưỡng nguồn nước do bón quá nhiều
một loại phân bón, do sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật, hay do nước thải.
Dựa vào các tiêu chuẩn và bảng phân cấp đánh giá mức độ thích hợp,
lựa chọn các loại sử dụng đất nông nghiệp theo mục tiêu đề ra. Loại sử dụng
đất nông nghiệp lý tưởng nhất là loại có 4 nhóm chỉ tiêu đạt mức cao đến rất
cao. Thông thường, khi bố trí sử dụng đất, người ta luôn lựa chọn những loại
hình sử dụng đất nông nghiệp có nhiều chỉ tiêu đạt ở mức cao đến trung bình.
Ngoài ra, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội là những căn cứ để quyết định lựa
chọn loại sử dụng đất.
- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ
thống. Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính
so sánh có thang bậc.
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản
biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm
và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm
cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển
nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan
hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm hàng hóa có khả năng hướng tới
xuất khẩu.
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và
phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
1.3
. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới đất đai phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện
tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu khác nhưng Châu Á lại có tỉ lệ
phản tự nhiên, buộc con người phải sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng
tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại
nhưng không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục
tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là
hướng đi trong tương lai.
1.4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam có tổng iện tích tự nhiên là 33.121,20 nghìn ha, trong đó đất
nông nghiệp năm 2012 là 26.280,5 nghìn ha chiếm 79,35% tổng diện tích đất
tự nhiên. Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất
thế giới. Ngày nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa kèm theo là
những quá trình xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác
không hợp lý, chăn thả quá mức; Quá trình chua hoá, mặn hóa, hoang mạc
hoá, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng... Tính theo bình quân đầu
người thì diện tích đất tự nhiên giảm 26,7%, đất nông nghiệp giảm 21,5%.
Vì vậy, vấn đề đảm bảo lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất
nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn. Do đó việc sử dụng
hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với
nước ta.
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du
miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca. Để đảm bảo đủ dinh
dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung
thường xuyên.
Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng
đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng
thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng
kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế kém
phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra
So sánh
2014-2010
(nghìn ha)
26.100,1
184,4
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất trồng cây hàng năm
Trong đó: Đất trồng lúa
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối
Đất nông nghiệp khác
SXN
CHN
LUA
CLN
LNP
RPH
RSX
RDD
NTS
LMU
NKH
Năm 2010
(nghìn ha)
33,3
-35,9
-34,9
69,1
124,1
17,2
108,0
-1,0
21,8
0,4
1,1
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014 )
Như vậy diện tích đất trồng lúa của nước ta năm 2014 là 4.092,8 nghìn
ha, so với năm 2010 đã giảm -34,9 nghìn ha, trong đó, giảm nhiều nhất ở
đồng bằng sông Hồng, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở
Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5%. Điều đáng nói là phần