LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan
tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của
nhà trường và địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành
báo cáo tốt nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong
khoa Quản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt
thời gian em học tập tại trường; trong đó đặc biệt là cô giáo Th.S Tăng Thị
Thanh Nhàn - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian
em thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Đồng Thắng đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp đỡ để em hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp này.
Cuối cùng từ đáy lòng mình, em xin kính chúc các thầy, cô giáo và các
cô, chú mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Đồng Thắng, ngày 2 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Vi Thị An
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BVTV Bảo vệ thực vật
CPTG Chi phí trung gian
GTSX Giá trị sản xuất
HQĐV Hiệu quả đồng vốn
LĐ Lao động
LUT Loại hình sử dụng đất
những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do nhu
cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất ở, đất phi nông nghiệp… Vì
vậy, làm thế nào để có thể sử dụng hiệu quả diện tích đất nông nghiệp hiện có
trên địa bàn là vấn đề đang được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu để
xây dựng cơ sở cho việc đề ra các phương án chuyển dịch cơ cấu cây trồng
một cách hợp lý nhất, nhằm đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất có thể.
1
Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai trường
Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của
giảng viên – ThS. Tăng Thị Thanh Nhàn, em tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Thắng,
huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng
Thắng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất giải pháp hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, KT-XH đầy đủ và chính xác, các
chỉ tiêu phải đảm bảo tính thống nhất và tính hệ thống.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với những chỉ tiêu phù
hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
- Các giải pháp đề xuất phải hợp lý về mặt khoa học và phải có tính
khả thi.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp
- Đất làm muối là diện tích đất dùng để phục vụ cho quá trình sản
xuất muối.
1.1.3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã
hội. Khác với công nghiệp, sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng bởi
sự chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tê – xã hội. Những đặc điểm đó là:
- Đất đai đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
+ Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và
không thế thay thế.
+ Đất đai là sản phẩm của tự nhiên và có giới hạn nhất định.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật
Trong nông nghiệp, đối tượng sản xuất là các sinh vật, bao gồm: các loại cây
trồng, vật nuôi và các loại sinh vật khác. Chúng sinh trưởng và phát triển theo
một quy luật sinh lý nội tại và đồng thời chịu tác động rất nhiều từ ngoại cảnh
như thời tiết, khí hậu, môi trường. Giữa sinh vật và môi trường sống của
chúng là một khối thống nhất, mỗi một biến đổi của môi trường lập tức sinh
vật biến đổi để thích nghi, nếu quá giới hạn chịu đựng chúng sẽ bị chết. Các
quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan
của con người.
- Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn và
mang tính chất khu vực rõ rệt.
4
Các nhà máy, khu công nghiệp dù có lớn thế nào đi chăng nữa thì cũng
đều bị giới hạn về mặt không gian nhưng đối với nông nghiệp thì khác hẳn: ở
đâu có đất ở đó có sản xuất nông nghiệp. Phạm vi của sản xuất nông nghiệp
rộng khắp, có thể ở đồng bằng rộng lớn, có thể ở khe suối, triền núi, vì đất
nông nghiệp phân tán kéo theo việc sản xuất nông nghiệp mang tính phân tán.
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên phạm vi không gian rộng
lớn, do đó ở mỗi vùng địa lý nhất định của lãnh thỗ các yếu tố sản xuất (đất
đai, khí hậu, nguồn nước, các yếu tố về xã hội) là hoàn toàn khác nhau. Mỗi
nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi
thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại
của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro… Quan điểm đa canh và đa dạng
hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được Ngân hàng thế giới
đặc biệt khuyến khích đối với các nước nghèo .
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại,
vừa đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai . Phát triển nông nghiệp
bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm
đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả hiện tại và mai
sau . Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta, cần nắm vững mục tiêu
và tác dụng lâu dài của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh
học. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi
trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương. Từ đó, nghiên
cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao -
đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững .
Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác: “Tiết kiệm và phân phối một cách
hợp lý”, các nhà Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng
6
tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng
được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội.
Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan hệ tương
quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết
quả đó”. Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn chi
phí bỏ ra là các nguồn lực đầu vào.
Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải mục tiêu cuối cùng mà
là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Hiệu quả là quan hệ so sánh tối
ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất
định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ hơn. Tuy vậy, mọi quan niệm
về hiệu quả kinh tế đều toát lên nét chung nhất đó là vấn đề tiết kiệm các
nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa.
nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông
dân thiếu vốn là độ phì của đất.
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản
xuất nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể
lợi dụng những yếu tố đầu vào trong kinh tế, thuận lợi để tạo ra nông sản hàng
hoá với giá rẻ.
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt
trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác.
* Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và
phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ,
không khí nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một
8
trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản
lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ
độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét
theo từng vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5
0
C, lượng mưa
trung bình từ 1.500 - 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm.
Trong khi đó, ở miền nam khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung
bình 22,6 - 27,5
0
C, lượng mưa trung bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000
giờ/năm.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các
loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những
giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất.
Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không
những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ
thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh
trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát
triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, những tiến bộ trong công tác
giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá.
b. Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
* Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi
dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp
còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất
10
nông nghiệp được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay khi dân số tăng nhanh kéo
theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác
nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật
sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn .
Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói
riêng, dân số vừa là thị trường của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là
nguồn cung về lao động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể
phát triển nếu không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra. Đặc
biệt, đối với một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở
nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có
ý thức trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
* Yếu tố kinh tế
đất nông nghiệp.
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được
đảm bảo ổn định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã không
ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai
nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật
đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và
nới rộng quyền của người sử dụng đất.
Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản
xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một
cách có hiệu quả. Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công
12
nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được
quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất.
Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó
làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp
một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng,
từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để
hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá
trị hàng hoá cao. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp cũng là
cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy
đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến
hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp.
c. Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây
trồng vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất
để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể
hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường
và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác
hiện có hoặc mức độ tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một
khối lượng nông – lâm sản nhất định.
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức độ đạt được các mục
tiêu kinh tế, xã hội và môi trường (Đỗ Thị Lan, Đỗ Tài Anh, 2007).
“Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông – lâm
nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người dân. Vì vậy, đánh giá
hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng
14
vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền
vững về môi trường” (FAO, 1994)
1.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Mục đích đánh giá hiệu quả các LUT là để tính toán, so sánh và phân
loại mức độ thích hợp của các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường với các
loại hình sử sử dụng đất nông nghiệp ở địa phương.
Các chỉ tiêu cần tính toán để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
thường quy về đơn vị 1 ha cho từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp.
a. Chỉ tiêu kinh tế
Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp gồm:
- Giá trị sản xuất (GTSX)
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một
thời kỳ nhất định, thường là 1 năm. GTSX chính là giá trị sản lượng trên một
đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
- Chi phí trung gian (CPTG)
Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ
ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ
sử dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (GTGT)
Giá trị gia tăng được tính theo công thức:
GTGT = GTSX - CPTG
Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất rất quan tâm đến GTGT,
chỉ tiêu kia để đưa vào đánh giá.
c. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Phân tích hiệu quả môi trường đối với các loại sử dụng đất nông nghiệp
16
nằm trong khuôn khổ của nội dung đánh giá tác động môi trường các phương
án sử dụng đất hay dự án phát triển nông nghiệp. Trong những đánh giá chi
tiết và các dự án mang tính khả thi thì việc phân tích hiệu quả môi trường là
một nội dung quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của loại sử
dụng đất nông nghiệp được lựa chọn đưa vào bố trí.
Các chỉ tiêu cần xem xét bao gồm:
- Tỷ lệ che phủ tối đa (tính bằng % diện tích mặt đất) mà loại sử dụng đất
nhất định tạo ra, khả năng chống xói mòn rửa trôi (lượng đất mất do xói mòn).
- Nguy cơ gây ô nhiễm hoặc phú dưỡng nguồn nước do bón quá nhiều
một loại phân bón, do sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật, hay do nước thải.
- Nguy cơ làm tái độ nhiễm mặn hoặc tái nhiễm phèn do thay đổi
phương thức sử dụng đất, do sử dụng nước tưới không đảm bảo tiêu chuẩn
cho phép
- Chiều hướng biến động độ phì tự nhiên của đất qua một số mốc thời gian
trong chu kỳ kinh doanh hoặc suốt thời kỳ kinh doanh đối với cây lâu năm; qua
một số vụ (năm) canh tác đối với loại sử dụng đất cây trồng ngắn ngày
Tác động thay đổi về sử dụng đất đến môi trường có thể chia làm 2
nhóm yếu tố: tác động trực tiếp đến môi trường vùng nghiên cứu và tác động
gián tiếp đến môi trường vùng nghiên cứu.
- Tác động trực tiếp: gây rửa trôi, xói mòn, thoái hóa đất, sức sản xuất
của đất, những đất có vấn đề, nước, sự xuất hiện của lụt lội, khô hạn, bồi lắng
cặn phù sa làm giảm công suất của các công trình thủy lợi, chất lượng nước,
độ che phủ, cấu trúc đa dạng hóa cây trồng,
- Tác động gián tiếp: ảnh hưởng đến dòng chảy hạ lưu, tình trạng ô
nhiễm nước ngầm do sự thẩm thấu của thuốc trừ sâu, phân bón, sự suy giảm
tài nguyên động thực vật do chặt phá rừng
hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm hàng hóa có khả năng hướng tới
xuất khẩu.
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và
phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
1.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới đất đai phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện
tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu khác nhưng Châu Á lại có tỉ lệ
diện tích đất nông nghiệp trên diện tích tự nhiên thấp và lại là khu vực có tỉ lệ
dân số đông trên thế giới. Có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới như:
Trung Quốc, ấn Độ, Indonexia. Ở Châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện
tích, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là khá lớn khoảng 407 triệu ha,
trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt.
Theo kết quả điều tra của FAO,1992. Trên thế giới hàng năm có
khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó
suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,70% diện tích, do gió 28%
diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,20% diện tích. Ở Trung Quốc,
diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có
36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu
ha đất bị úng, lầy và một số yếu tố khác chiếm 14,10% diện tích. Tại khu vực
châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh
hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Do chế độ canh tác không tốt đã gây
xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và
vùng đất dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục: châu Âu, châu
Úc, châu Phi: 5 -10 tấn/ha, châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; châu Á: 30 tấn/ha.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt, từ số liệu của UNDP năm 1995
cho ta thấy đây là khu vực dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh
tác thấp: bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau:
19
Indonesia 0,12ha; Malaysia 0,27ha; Philipin 0,13ha; Thái Lan 0,42ha; Việt
Nam 0,1ha. Như vậy, chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người
thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng
kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế kém
phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra
hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con
người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường. Tadon H.L.S chỉ
ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái
hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải
thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”.
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2014 của cả nước so với
năm 2010 tăng 184,4 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp được thể
hiện cụ thể qua bảng 1.1 như sau:
Bảng 1.1. Biến động đất nông nghiệp của cả nước
STT Chỉ tiêu Mã
Năm 2014
(nghìn ha)
Năm 2010
(nghìn ha)
So sánh
2014-2010
(nghìn ha)
Đất nông nghiệp
NNP
26.280,5 26.100,1 184,4
1 Đất sản xuất nông nghiệp
SXN
10.151,1 10.117,8 33,3
1.1 Đất trồng cây hàng năm
CHN
dụng đất nông nghiệp rất lớn. Đồng thời các thảm hoạ thiên cũng là một trong
những nguyên nhân làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp ở
nước ta hiện nay.
- Ô nhiễm đất nông nghiệp ngày càng thêm trầm trọng
Ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang là vấn
đề nghiêm trọng. Các nguyên nhân ô nhiễm đất nông nghiệp hiện nay gồm
những nguyên nhân chủ yếu sau: ô nhiễm đất vì nước thải sinh hoạt, nước thải
công nghiệp, ô nhiễm đất vì chất phế thải bởi các nguồn chất thải rắn, ô nhiễm
đất do sử dụng phân bón hoá học và nông dược trong canh tác sản xuất nông
nghiệp. Thuốc trừ sâu đồng thời với việc diệt các côn trùng gây hại, còn dẫn
đến ngộ độc đất đai ảnh hưởng đến môi trường đất của nước ta hiện nay.
22