MỤC LỤC
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1. Chọn góc mở tại điểm đo GPS
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cùng với sự phát triển không
ngừng của đất nước là nhu cầu quản lí và sử dụng đất đai ngày càng cao. Hiện nay để đáp ứng
yêu cầu của các cơ quan chức năng có thẩm quyền về quản lí đất đai của khu vực xã Xuân
Quang cũng như của quốc gia. Do đó các bản đồ đo vẽ ngày xưa không được coi là có độ
chính xác cao vì hầu hết dùng đến phương pháp toàn đạc với độ chính xác thấp. Nên với yêu
cầu quản lý chặt chẽ qua thông tư của chính phủ chúng ta cần phải thiết lập lại những tấm bản
đồ có độ chính xác cao để giúp đỡ cho sự phát triển hạ tầng cũng như phát triển kinh tế xã hội
của xã Xuân Quang.Vì vậy việc xây dựng các mạng lưới địa chính có độ chính xác và đảm
bảo làm cơ sở cho việc thành lập bản đồ địa chính phục vụ cho việc quản lý đất đai cũng như
xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Vì thế nên em đã tìm hiểu và thực hiện đề tài :
“Thành lập lưới khống chế phục vụ đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 đến 1:5000
khu vực xã Xuân Quang, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ”
Nội dung đồ án gồm 3 chương :
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LƯỚI KHỐNG CHẾ ĐỊA CHÍNH
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH THÀNH LẬP LƯỚI KHỐNG CHẾ ĐỊA CHÍNH
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM
các điểm khống chế Nhà Nước. Để tăng dày mật độ điểm khống chế tọa độ địa chính, người
ta thường bố trí thêm 2 cấp khống chế mặt bằng, đó là lưới tọa độ địa chính cấp 1 và cấp 2.
Khi đo vẽ bản đồ địa chính ở khu vực đã có lưới toạ độ Nhà nước thì lấy các điểm toạ
độ Nhà nước hạng I, II làm cơ sở để phát triển lưới địa chính cơ sở. Từ lưới địa chính cơ sở
này ta phát triển ra các lưới cấp thấp hơn đó là lưới khống chế địa chính và lưới khống chế đo
vẽ.
Phương pháp xây dựng lưới khống chế tọa độ địa chính là sử dụng công nghệ định vị
toàn cầu GPS để xây dựng lưới khống chế địa chính cơ sở, và phương pháp đường truyền để
xây dựng lưới địa chính cấp 1 và cấp 2. Lưới thủy chuẩn hạng 4 và lưới thủy chuẩn kỹ thuật
được dùng làm cơ sở khống chế độ cao phục vụ đo vẽ bản đồ địa chính.
1.1.2 Phân loại lưới toạ độ địa chính
Lưới tọa độ quốc gia bao gồm: Lưới tọa độ cấp 0, lưới tọa độ hạng I, lưới tọa độ hạng II
và lưới tọa độ hạng III. Lưới tọa độ hạng I là mạng lưới hiện đang tồn tại nhưng không xây
dựng lại do vậy chỉ đưa ra các quy định kỹ thuật cụ thể cho lưới tọa độ cấp 0, hạng II và hạng
III.
6
Lưới tọa độ cấp 0 là lưới có độ chính xác cao nhất, được phân bố với mật độ khoảng
10.000 km2 - 15.000km2/điểm với khoảng cách trung bình giữa các điểm từ 100km - 150km.
Lưới tọa độ hạng II là lưới tọa độ tăng dày trung gian làm cơ sở để phát triển lưới tọa độ
hạng III được phân bố với mật độ khoảng 700km 2 - 1000km2/điểm với khoảng cách trung bình
giữa các điểm từ 25km - 30km.
Lưới tọa độ hạng III là lưới tọa độ làm cơ sở để phát triển các lưới khống chế đo vẽ
được phân bố với mật độ khoảng 5km 2 - 15km2/điểm đối với khu vực đồng bằng và 25km 2 50km2/điểm đối với khu vực miền núi. Khoảng cách trung bình giữa các điểm trong lưới tọa
độ hạng III là 2km - 4km đối với khu vực đồng bằng và 5km - 7km đối với khu vực miền núi.
Lưới địa chính : lưới địa chính cơ sở, lưới địa chính cấp 1, cấp 2 thường là dạng lưới tam
giác hoặc đường chuyền chêm dày vào giữa các điểm lưới khống chế mặt bằng Nhà nước.
Lưới khống chế đo vẽ là lưới chêm dày vào mạng lưới khống chế mặt bằng Nhà nước và
này được thể hiện bằng cao độ chuẩn H γ, theo phương dây dọi từ điểm đó đến mặt
QuasiGeoid.
+ Hệ quy chiếu tọa độ trắc địa là một mặt Ellipsoid kích thước do WGS-84 được định vị
phù hợp với lãnh thổ Việt Nam với các tham số xác định:
- Elipsoid tham chiếu là WGS-84 với kích thước
+ Bán trục dài a = 6378137 m
+ Bán trục ngắn b = 6356752 m
+ Độ dẹt α = 1:298.26
+ Vận tốc góc quay quanh trục ω = 7292115x10-11rad/s
+ Hằng số trọng trường Trái đất fM=3986005.108m3s-2
+ Múi chiếu 30
Vị trí ellipsoid quy chiếu Quốc gia: ellipsoid WGS-84 toàn cầu được định vị lại cho phù
hợp với lãnh thổ Việt Nam. Trên cơ sở sử dụng điểm GPS cạnh dài có cao độ thủy chuẩn phân
bố đều trên toàn lãnh thổ.
8
Điểm gốc toạ độ Quốc Gia đặt tại Viện Nghiên Cứu Địa chính thuộc tổng cục địa chính,
đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Điểm gốc độ cao tại Hòn Dấu, Hải Phòng.
1.3 Tỷ lệ bản đồ
1.3.1 Sự cần thiết của việc chọn tỷ lệ bản đồ
Tỷ lệ đo vẽ trên khu đo phải căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý đất đai, giá
trị kinh tế sử dụng đất và mức độ khó khăn của từng khu đo, tính chất qui hoạch của từng khu
vực trong đơn vị hành chính để lựa chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ cho phù hợp.
1.3.2 Cơ sở chọn tỷ lệ bản đồ
Tỷ lệ đo vẽ bản đồ địa chính được xác định trên cơ sở loại đất và mật độ thửa đất trung
khu vực tương ứng.
1.4 Mật độ điểm khống chế
Để đo vẽ lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa thì mật độ điểm
khống chế tọa độ quy định như sau:
- Bản đồ tỷ lệ 1:5000, 1:10000: Trung bình 500 ha có một điểm khống chế tọa độ có độ
chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
- Bản đồ tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000: Trung bình từ 100 ha đến 150 ha có một điểm
khống chế tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200: Trung bình 30 ha có một điểm khống chế tọa độ có độ
chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
- Trường hợp khu vực đo vẽ có dạng hình tuyến thì bình quân 1,5 km chiều dài được bố trí
01 điểm tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên.
10
Trường hợp đặc biệt, khi đo vẽ lập bản đồ địa chính mà diện tích khu đo nhỏ hơn 30 ha
thì điểm tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên mật độ không quá 2 điểm.
Để đo vẽ lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, 1:5000, 1:10000 bằng phương pháp ảnh hàng
không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa thì trung bình 2500 ha có một điểm khống chế tọa độ
có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên.
Yêu cầu độ chính xác
1.5
1.5.1
Chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản chung của lưới địa chính quy định như sau:
Bảng 1.1: Chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của lưới địa chính
- Đối với cạnh nhỏ hơn 400 m
Trị tuyệt đối sai số trung phương độ cao sau bình sai:
≤ 10 giây
- Vùng đồng bằng
≤ 10 cm
- Vùng núi
≤ 12 cm
1.5.2 Yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi lập lưới địa chính bằng công nghệ GNSS và thành quả
đo đạc, tính toán, bình sai
a. Chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của lưới địa chính khi lập bằng công nghệ GNSS quy định
như sau:
Bảng 1.2: Chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của lưới địa chính thành lập bằng công nghệ
GNSS.
11
STT
Tiêu chí đánh giá chất lượng lưới địa chính đo bằng
Chỉ tiêu
công nghệ GNSS
≥ 60 phút
≤ 1:100000
Khi [S] < 5 km:
7
≤ 5 cm
- Trị tuyệt đối sai số khép độ cao dH
30 [ S ]
≤
mm
([S]: tính bằng
km)
8
9
1
Khoảng cách tối đa từ một điểm bất kỳ trong lưới đến
điểm cấp cao gần nhất
Số hướng đo nối tại 1 điểm
Số cạnh độc lập tại 1 điểm
≤ 10 km
≥3
≥2
12
Trước khi sử dụng phải kiểm tra hoạt động của máy thu và các thiết bị kèm theo, khi hoạt
động bình thường mới được đưa vào sử dụng. Đối với máy thu đang sử dụng cần kiểm tra sự
hoạt động của các phím chức năng, kiểm tra sự ổn định của quá trình thu tín hiệu thông qua việc
đo thử, kiểm tra việc truyền dữ liệu từ máy thu sang máy tính. Đối với các máy mới, trước khi
sử dụng phải tiến hành đo thử nghiệm trên bãi chuẩn (đối với loại máy thu 1 tần số) hoặc trên
các điểm cấp 0 (đối với loại máy thu 2 tần số) và so sánh kết quả đo với số liệu đã có.
c. Trước khi đo phải lập lịch đo. Khi lập lịch đo được phép sử dụng lịch vệ tinh quảng bá
không có nhiễu cố ý SA (Selective Availabitily) để lập nhưng lịch đó không được cũ quá 01
tháng tính đến thời điểm lập lịch đo. Các tham số cần khai báo vào phần mềm lập lịch đo gồm
ngày lập lịch đo; vị trí địa lý khu đo (tọa độ địa lý xác định trên bản đồ, lấy theo trung tâm khu
đo, giá trị B, L xác định đến phút); số vệ tinh tối thiểu cần quan sát là 4; PDOP lớn nhất cho
phép quan sát là 4; khoảng thời gian tối thiểu của ca đo là 60 phút; góc ngưỡng 15 độ.
d. Trong quá trình đo lưới tọa độ ở thực địa điểm đánh dấu trên ăng ten phải được đặt quay
về hướng Bắc với sai lệch không quá 10 độ; chiều cao ăng ten được tính trung bình từ 03 lần đo
độc lập vào các thời điểm bắt đầu đo, giữa khi đo và trước khi tắt máy thu, đọc số đến mm, giữa
các lần đo không lệch quá 2 mm.
đ. Khi sử dụng các máy thu tín hiệu vệ tinh nhiều chủng loại, nhiều hãng sản xuất khác
nhau để lập cùng một lưới phải chuyển file dữ liệu đo ở từng máy sang dạng RINEX.
e. Sử dụng các phần mềm (modul) phù hợp với loại máy thu tín hiệu vệ tinh để giải tự
động véc tơ cạnh, khi tính khái lược véc tơ cạnh phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:
- Lời giải được chấp nhận: Fixed;
- Chỉ số Ratio: > 1,5 (chỉ xem xét đến khi lời giải là Fixed);
- Sai số trung phương khoảng cách: (RMS) < 20 mm + 4.D mm (D tính bằng km).
Việc bình sai lưới chỉ được thực hiện sau khi tính khái lược cạnh và sai số khép cho toàn
bộ mạng lưới đạt chỉ tiêu kỹ thuật.
g. Khi tính khái lược cạnh nếu có chỉ tiêu kỹ thuật không đạt yêu cầu thì được phép tính
+ Thiết kế mạng lưới GPS trong đo tĩnh hoặc đo động.
+ Lập kế hoạch đo và công tác chuẩn bị thiết bị máy thu cùng các phụ kiện,
chuẩn bị nhận lực, phương tiện đi lại…
+ Lưới GPS nói chung không khác nhiều so với các mạng lưới trắc địa truyền
thống (lưới tam giác, đa giác,…). Lưới GPS gồm các điểm được chọn, đóng cọc trên
mặt đất nơi ổn định hoặc bố trí trên đỉnh các công trình vững chắc, kiên cố. Các điểm
đó được liên kết với nhau bởi các cạnh đo, nhờ các cạnh đo đó chúng ta sẽ tính toán
xác định được tọa độ, độ cao của các điểm trong một hệ thống tọa độ thống nhất. Lưới
GPS không cần thông hướng giữa các điểm vẫn có thể đo được cạnh đo. Yêu cầu thông
hướng giữa các điểm GPS là để đo nối phương vị khi phát triển lưới cấp thấp.
+ Nguyên tắc thống nhất khi xây dựng lưới trắc địa là phải có trị đo thừa để kiểm
tra kết quả đo, chính vì vậy mạng lưới GPS phải tạo thành các hình khép kín hoặc được
khống chế bởi các điểm cấp cao. Trong mỗi hình khép kín chúng ta sẽ kiểm tra sai số
khép tọa độ fX,fY,fZ. Sai số khép hình phản ánh chất lượng của các cạnh đo và các sai số
định tâm, đo cao anten máy thu đồng thời để kiểm tra phát hiện sai số thô như đặt
nhầm điểm,…
+ Để xác định tọa độ và độ cao cho các điểm trong lưới GPS cần đo nối với các
điểm tọa độ và độ cao nhà nước, chúng là các điểm khởi tính. Trong trường hợp lý
tưởng số lượng tọa độ điểm khởi tính trong một mạng lưới GPS thường lớn hơn 3, số
lượng điểm độ cao khởi tính thường lớn hơn 4.
15
+ Hiện nay, trong các quy định đo GPS không có yêu cầu phải ước tính độ chính
xác các mạng lưới GPS. Tuy vậy vẫn có thể thực hiện công tác này theo nguyên tắc
ước tính lưới mặt bằng trong đó coi các trị đo cạnh GPS tương đương với các trị đo
chiều dài và phương vị. Ngoài ra có thể ước tính độ chính xác lưới GPS trong hệ tọa độ
không gian địa tâm X, Y, Z.
Để thiết kế lưới GPS ta thực hiện theo các bước sau :
2360604.196
549128.379
33.457
2.2 Khảo sát, chọn điểm
Chọn điểm đo GPS liên quan đến vấn đề thiết kế lưới GPS, ngoài một số yêu cầu
về mật độ điểm, vể kết cấu hình học của mạng lưới, các điểm GPS cần phải đảm bảo
một số yêu cầu riêng mang tính đặc thù của công nghệ GPS.
Người chọn điểm phải tìm hiểu kỹ yêu cầu, mục đích của nhiệm vụ, điều kiện tự
nhiên và xã hội của khu đo, dựa vào thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt để tiến hành
khảo sát, chọn điểm lưới GPS ngoài thực địa.
Vị trí điểm chọn phải đáp ứng được các yêu cầu sau :
+ Phải phù hợp với yêu cầu của thiết kế kỹ thuật, thuận lợi cho việc đo nối và cho
các công tác đo đạc tiếp theo.
+ Phải được đặt ở nơi có nền đất, đá ổn định, sử dụng được lâu dài, an toàn và
thuận tiện khi đo đạc.
+ Phải thuận tiện cho việc lắp đặt máy thu và thao tác khi đo, có khoảng không
rộng, tránh đặt dưới các dặng cây, tán cây, dưới chân các tòa nhà cao tầng… Có góc
cao không quá 15° (hoặc có thể là 20°).
+ Phải thuận lợi cho việc thu tín hiệu vệ tinh, tránh hiện tượng nhiễu tín hiệu do
quá gần các khu vực trạm phát sóng như trạm điện, trạm phát thanh, truyền hình… và
sai số đa đường dẫn do phản xạ tín hiệu từ các địa vật xung quanh điểm đo.
+ Phải cách xa nguồn phát sóng vô tuyến công suất hơn 200m và cách xa cáp
điện cao thế hơn 50m.
+ Không cần đảm bảo tầm ngắm thông cho tất cả các điểm.
+ Nếu bắt buộc phải chọn điểm ở nơi bị che khuất thì phải mô tả sự che khuất đó
trong hệ địa diện chân trời, để còn lập lịch đo và tạo điều kiện quan sát tốt nhất.
6 và PDOP không lớn hơn 5. Thời gian đo có thể kéo dài thêm đối với cạnh dài hoặc
điều kiện thu tín hiệu tại điểm đo không tốt.
Bảng 2.2: Thời gian ca đo tối thiểu
Độ dài cạnh đo (km)
0–1
1–5
5 –10
10 – 20
Thời gian ca đo (phút)
20 – 30
30 – 60
60 – 90
90 – 120
19
Bảng 2.3: Yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi đo GPS các cấp
Phương
Pháp Đo
Hạng
II
Hạng
III
Hạng
≥4
≥5
≥4
≥5
Đo tĩnh
Tĩnh nhanh
≥2
≥2
≥2
≥ 1,6
≥ 1,6
≥ 1,6
≥ 1,6
≥ 1,6
≥ 1,6
≥ 90
Thời gian thu tín hiệu (phút)
Đo tĩnh
Tĩnh nhanh
Số lượng vệ tinh quan trắc
dùng được
Số lần đo lặp trung bình tại
trạm
Thị trấn được thành lập lưới với cạnh giao động từ 1 km – 5 km do đó phương án
độ dài thời gian ca đo là từ 30 đến 60 phút.
2.3.2 Lập kế hoạch đo
Người làm công tác thiết kế lưới GPS phải lưu ý tới việc lập kế hoạch đo lưới vì
nó liên quan tới nhiều vấn đề quan trọng vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực
tế. Các vấn đề liên quan đó là : máy sử dụng để đo, kỹ thuật quan trắc và tổ chức đo
đạc. Đo GPS khác với các phép đo truyền thống là không cần thông hướng giữa các
điểm đo vì vậy sẽ có những điểm khác biệt khi lập kế hoạch đo, thực hiện đo và xử lý
số liệu đo.
Lập kế hoạch tối ưu trong đo GPS cần xem xét tới một số tham số như : cấu hình
của vệ tinh; số lượng, chủng loại máy thu sử dụng để đo… Trái ngược với yêu cầu
20
trong thiết kế các mạng lưới tam giác đo góc, đo cạnh là cố gắng phải đảm bảo cường
độ hình học của lưới, thì đối với lưới GPS yêu cầu về đồ hình và chiều dài cạnh hầu
như không có ý nghĩa quyết định.
Đối với các mạng lưới lớn có nhiều điểm đo và máy thu tham gia đo thì việc lập
kế hoạch đo cần có sự trợ giúp của chương trình máy tính với những dữ liệu đầu vào.
Để đảm bảo thành công cho công tác đo GPS cần phải tiến hành lập kế hoạc đo,
cụ thể là xác định thời gian đo tối ưu. Khoảng thời gian tối ưu có thể sử dụng là khoảng
thời gian trong đó có số vệ tinh quan trắc đồng thời là tối đa và có PDOP không vượt
quá giá trị cho phép.
phải bảo đảm sai số định tâm trong khoảng ± 1mm.
Tổ đo phải nghiêm chỉnh tuân theo thời gian quy định trong bảng điều độ công
tác, đảm bảo quan trắc đồng bộ cùng một nhóm các vệ tinh. Khi có sự thay đổi so với
bảng điều độ cần thông báo với người phụ trách để xử lý. Tổ đo không được tùy tiện
thay đổi kế hoạch đo ngắm.
Các dây dẫn nối từ anten đến máy thu và các thiết bị phụ trợ phải được kiểm tra
kỹ lưỡng trước khi tiến hành đo tín hiệu.
Trước khi mở máy cho một ca đo phải đo chiều cao anten bằng thước chuyên
dùng đọc số đến milimet, ghi tên trạm máy, ngày tháng năm, số liệu ca đo, chiều cao
anten. Sau khi tắt máy ta đo lại chiều cao anten để kiểm tra chênh lệch chiều cao anten
giữa 2 lần đo, không được vượt quá ± 2mm và lấy giá trị trung bình ghi vào sổ đo. Nếu
như chênh lệch vượt quá hạn sai cho phép thì phải tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất ý
kiến xử lý ghi vào cột ghi chú trong sổ đo.
Sau khi máy thu bắt đầu ghi nhận số liệu, người đo có thể sử dụng các chức năng
của bàn phím như : tìm thông tin trạm đo, số vệ tinh thu được tín hiệu, số hiệu vệ tinh,
kết quả định vị tức thời, tình trạng ghi, giữ số liệu (đối với máy thu có bàn phím điều
khiển).
Khi máy thu hiện kết quả, người đo ghi lần lượt các nội dung theo quy định trong
sổ đo. Trong trường hợp khi thời gian đo quá 60 phút thì cứ 30 phút lại ghi lại một lần.
Trong quá trình đo của một ca đo cần tránh các thao tác sau : Tắt máy thu và khởi
động lại, tiến hành tự đo thử (trừ khi xảy ra các sự cố sau : thay đổi góc cao của vệ
tinh, thay đổi tần suất thu tín hiệu, thay đổi vị trí anten, ấn nhầm phím đóng và xóa
thông tin).
Trong thời hạn đo người đo không được rời máy, phải thường xuyên theo dõi tình
trạng làm việc của máy thu, theo dõi nguồn điện, tình hình vệ tinh và ghi số liệu một
cách cẩn thận, chính xác. Đề phòng máy bị chấn động làm dịch chuyển, đề phòng
22
người và các vật thể khác gần anten che chắn tín hiệu của vệ tinh. Trong khi máy thu
2.4.1 Thiết lập hệ tọa độ địa phương
Hệ tọa độ địa phương là hệ tọa độ riêng thường được sử dụng ở mỗi quốc gia, mỗi
vùng và khu vực khác nhau, thậm chí mỗi công việc khác nhau. Em xin trình bày cách
thiết lập hệ tọa độ địa phương VN-2000 là hệ tọa độ quốc gia được công bố năm 2000 và
được sử dụng thống nhất trên quy mô toàn quốc. Ngoài hệ VN-2000, ở nước ta hiện nay, vì
nhiều lý do khác nhau, vẫn phải sử dụng hệ HN-72 với bản đồ GAUSS và hệ Indian với
bản đồ UTM. Mặc dù vậy, cách thức thiết lập các hệ tọa độ địa phương hoàn toàn giống
nhau. Điểm khác biệt cơ bản là các tham số.
Các bước thiết lập được tiến hành trong mô-đun Coordinate System Manager. Để
khởi động mô-đun này tiến hành như sau:
Từ màn hình Windows chọn Start/All Programs/Trimble Office/ Utilities/Coordinate
System Manager. Cửa sổ mô-đun Coordinate System Manager xuất hiện và hiển thị tất cả các
hệ toạ độ có trong file Current.
2.4.1.1 Nhập mô hình Geoid
Mô hình Geoid sẽ được sử dụng để chuyển độ cao trắc địa (H) về độ cao thủy chuẩn (h)
khi xử lý lưới GPS. Mô hình Geoid (có dạng tệp *.ggf) cần copy trước vào thư mục
C:\Documents and Settings\ All Users\ Application Data\ Trimble\ GeoData.
Trong hộp thoại Coordinate System Manager chọn thẻ Geoid Models.
24
Hình 2.2 Nhập mô hình Geoid
Bấm chuột phải và chọn Add New Model. Hộp thoại Geoid Properties xuất hiện.
Đặt tên cho mô hình geoid cần nhập trong trường Name và chọn file *.ggf tương ứng từ
danh sách File Name.
Lưu ý: Nếu không tìm thấy đường dẫn, cần tiến hành tìm thư mục Geo Data chứa các file
*.ggf với tùy chọn Search hiden files and folders.
2.4.1.2 Thiết lập hệ quy chiếu
Khi xử lý số liệu GPS, người sử dụng cần xác định tọa độ điểm GPS trong hệ quy chiếu