ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LÔ ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN – TÀI NGUYÊN NƯỚC

ĐỖ THỊ KIỀU TRANG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LÔ
ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

Chuyên ngành: Thuỷ văn
Mã ngành: D440224

Hà Nội – 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN – TÀI NGUYÊN NƯỚC


ĐỖ THỊ KIỀU TRANG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LÔ
ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

Chuyên ngành: Thuỷ văn
Mã ngành: D440224

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
THS. LÊ THU TRANG
KS. NGUYỄN HỒNG HẠNH

Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Kiều Trang


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU


DANH MỤC HÌNH


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT

Bộ Tài Nguyên và Môi trường

BOD

Nhu cầu oxy sinh hoá

COD

Nhu cầu oxy hoá học

COLIFORM

Chỉ tiêu vi sinh

8

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nước là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết
yếu của sự sống và môi trường. Tài nguyên nước trên thế giới nói chung và ở
Việt Nam nói riêng đang chịu sức ép nặng nề do biến đổi khí hậu, tốc độ gia
tăng dân số, do sự phát triển của các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống của
con người có liên quan đến sử dụng nước và tình trạng ô nhiễm, suy thoái
nguồn nước ngày càng trầm trọng.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, phía
Bắc giáp với tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp với tỉnh Cao Bằng, phía
Đông giáp với tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên, phía Nam giáp với tỉnh
Vĩnh Phúc, phía Tây Nam giáp với tỉnh Phú Thọ, phía Tây giáp với tỉnh Yên
Bái. Tuyên Quang nằm ở trung tâm của lưu vực sông Lô, sông Gâm chảy qua
tỉnh theo hướng Bắc-Nam và nhập vào song Lô ở phía Tây Bắc huyện Yên
Sơn chỗ giáp ranh giữa 3 xã Phúc Ninh, Thắng Quân và Tân Long.
Tỉnh Tuyên Quang có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng; có mạng
lưới sông suối khá dày đặc, mật độ bình quân 900 m/km 2. Trong số đó có lưu
vực chính là sông Lô. Tiềm năng nước mặt, nước ngầm dồi dào, chất lượng
nước tốt, đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội
của tỉnh.
Tuyên Quang từ một tỉnh thuần nông đã và đang dần phát triển không
ngừng vươn lên trong vài năm gần đây. Tốc độ tăng trương GDP tăng, cơ cấu
kinh tế đã chuyển đổi theo hướng công nghiệp và dịch vụ, du lịch. Tuy nhiên
việc tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, xã hội luôn tiềm ẩn nguy cơ về ô
nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh
học.
Song song với quá trình phát triển của nền kinh tế-xã hội, tình trạng ô
nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, chất lượng môi trường đất, nước,

tượng thuỷ văn và Tài nguyên nước, Trường đại học Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội và với sự hướng dẫn trực tiếp của kỹ sư Nguyễn Hồng Hạnh,
tôi thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng nước sông Lô đoạn chảy qua địa
bàn tỉnh Tuyên Quang và đề xuất các biện pháp quản lý tài nguyên nước.”
để thấy được chất lượng nước sông Lô đoạn chảy qua tỉnh Tuyên Quang. Bên
cạnh đó nhằm thống kê, đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Lô; đề xuất
các giải pháp kiểm soát , xử lý khả thi các nguồn nước thải trước khi xả vào
sông Lô, Phục vụ hiệu quả công tác quản lý Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang là hết sức cấp bách và cần thiết.
2. Ý nghĩa của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
-Nâng cao kiến thức và kỹ năng rút ra kinh nghiệm thực tế, vận dụng
nâng cao kiến thức đã học.
-Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, sau
này có điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường.


10

2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá hiện trạng môi trường, xác định những tác động, áp lực gây
ô nhiễm môi trường sông Lô và mức độ ảnh hưởng của chúng.
- Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi
trường tại khu vực sinh sống.
- Giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường đưa ra
các biện pháp quản lý cũng như các dự án phù hợp nhằm kiểm soát cũng như
hạn chế tác động của các nguồn gây ô nhiễm chất lượng nước sông Lô.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nước tại sông Lô đoạn chaỷ qua địa bàn tỉnh
Tuyên Quang.




4.2. Phương pháp tổng hợp so sánh đối chiếu với QCVN08:2008BTNMT
Từ số liệu cùng thu thập được tính toán được tải lượng ô nhiễm so sánh
với QCVN để đưa ra mức độ ô nhiễm môi trường nước, từ đó so sánh và đưa
ra điểm tối ưu có chất lượng nước phù hợp cho việc xử lý cho sinh hoạt.
5. Kết cấu của đề tài
Nội dung đồ án bao gồm:
Mở đầu.
Chương I: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu.
Chương II: Kết quả nghiên cứu.
Chương III: Các biện pháp quản lý tài nguyên nước
Kết luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo.


12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số đặc điểm tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang
1.1.1. Vị trí địa lý [2]
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, cách thành phố Hà Nội
khoảng 165Km về phía Bắc.


13

Hình 1: Bản đồ hành chính tỉnh Tuyên Quang
Trong toạ độ địa lý tỉnh Tuyên Quang được xác định như sau:

kiểu địa hình như sau: địa hình núi trung bình (cao 700-1500m), địa hình núi
thấp (cao 300-700m), địa hình đồi thấp (cao dưới 300m), địa hình karst và địa
hình thung lũng.
Sự chênh lệch độ cao địa hình giữa các vùng trong tỉnh khá lớn: nơi cao
nhất là đỉnh Cham Chu (huyện Hàm Yên) với độ cao tuyệt đối là 1.580m, nơi


14

thấp nhất ở phía Nam huyện Sơn Dương với độ cao chỉ từ 23-24m so với mực
nước biển.
Có thể chia Tuyên Quang thành 3 vùng địa hình sau:
- Vùng núi phía Bắc tỉnh gồm các huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm
Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn, độ cao phổ biến từ 200 – 600 m và giảm
dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 250
- Vùng đồi núi giữa tỉnh gồm: phía Nam huyện Yên Sơn, thị xã Tuyên
Quang và phía Bắc huyện Sơn Dương, độ cao trung bình dưới 500 m và
hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần dưới 250.
- Vùng đồi núi phía Nam tỉnh là vùng thuộc phía Nam huyện Sơn
Dương, mang đặc điểm địa hình trung du.
1.1.2.2. Địa mạo
Độ dốc địa hình của tỉnh được phân chia thành 4 vùng: vùng có độ dốc
nhỏ hơn 8ochiếm 14,19% tổng diện tích toàn vùng; vùng có độ dốc
8÷15ochiếm 34,57%; vùng có độ dốc 15÷25 ochiếm 26,18%, và vùng có độ
dốc lớn hơn 25o chiếm 20,90%.
1.1.3. Khí tượng, thuỷ văn [12]
1.1.3.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hoá các
chất ô nhiễm trong không khí gần mặt đất hoặc nguồn nước. Nhiệt độ không
khí càng cao thì tác động độc tố lan truyền và chuyển hoá các chất ô nhiễm

14.7
17.8
12.5

22.2
13.7
22.1
20.3
17.6

21.5
21.3
20.7
21.8
16.9

23.1
24.7
24.4
23.4
23.4

26.6
27.0
26.4
28.0
26.4

29.7
28.3

20.0
20.0
22.2

19.6
17.2
18.9
18.0
16.5

Năm
2007
2008
2009
2010
2011

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 1010 và năm 1011)


15

Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai
mùa rõ rệt: mùa đông lạnh – khô hanh; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình năm ở tỉnh Tuyên Quang dao động từ
22,23÷24,84oC. Biên độ dao động nhiệt độ trung bình nhiều năm từ
11,80÷13,60oC. Nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất là tháng I, Cao nhất là các
tháng VI, VII và tháng VIII.
Do có sự chi phối giữa gió mùa và địa hình nên mùa đông ở vùng núi
thấp chỉ tương đối rét, mùa hạ tương đối nóng; ở vùng cao, mùa đông rét

VIII

IX

X

XI

XII

56.5
60.7
82.1
52.5
99.8

81.5
27.1
74.6
118.8
31.3

27.8
61.8
55.3
69.8
27.2

79.3
69.4

235.5
160.7
144.4

113.4
113.3
132.7
108.0
108.1

178.3
135.6
120.1
116.2
145.7

143.3
81.0
72.7
66.8
96.9

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 1010 và năm 1011)

1.1.3.3. Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí trung bình năm 82-86%. Trong đó ở vùng núi cao và
vùng phía Bắc của tỉnh, độ ẩm trung bình năm thay đổi từ 86-88%; ở vùng núi
thấp và vùng phía Nam, độ ẩm trung bình hang năm thay đổi 81-84%.
Bảng 3: Độ ẩm tỉnh Tuyên Quang
Đơn vị: %


80
78
84
79
83

87
82
84
78
84

83
84
85
85
84

80
80
83
84
82

78
82
82
83
83


83
81
78
86
75

Năm
2007
2008
2009
2010
2011

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 1010 và năm 1011)

1.1.3.4. Chế độ mưa
Lượng mưa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang rất phong phú, phân bố và
biến động theo không gian và thời gian, phù hợp với địa hình địa phương và


16

hoàn lưu gió mùa ở miền Bắc nước ta. Chế độ mưa ở Tuyên Quang bị phân
hoá thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng V đến
tháng X, mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
Bảng 4: Lượng mưa tỉnh Tuyên Quang
Đơn vị: mm
Tháng
Năm

2
20
9
111
12.9

32
44
15
3
12.0

17
78
18
27
115.1

123
101
151
201
57.4

287
167
271
199
235.9


14
157
9
24
35.1

22
6
14
92
24.7

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 1010 và năm 1011.)

Lượng mưa nhiều năm tại Tuyên Quang biến động từ 1.256÷1.697mm,
trung bình 1.488mm. Mùa mưa với tổng lượng mưa từ 994÷1.444mm, chiếm
73,2÷85,8% lượng mưa năm; mùa khô với tổng lượng mưa từ 221÷493m, chỉ
chiếm 14,4÷30,6% lượng mưa năm.
1.1.3.5.Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình năm biến động từ 430÷1.256mm. Vào mùa
mưa, lượng bốc hơi trung bình tháng thay đổi từ 595÷2.356mm, vào mùa khô
từ 430÷1.047mm.
Bảng 5: Lượng bốc hơi tỉnh Tuyên Quang
Đơn vị: mm
Tháng
Năm
2007
2008
2009
2010

55
61
54
56
76

105
74
56
65
56

103
96
83
73
85

112
116
75
76
77

86
89
80
59
85


51

66
51
57
72
42

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 1010 và năm 1011)

1.1.3.6. Chế độ gió
Về hướng gió: do ảnh hưởng của gió mùa cùng với địa hình bị phân cắt
mạnh nên tần suất hướng gió ở các nơi trong tỉnh rất khác nhau.Trong các
thung lũng, Hướng gió thường trùng với hướng thung lũng. Ở những vùng
đồng bằng hoặc nhiều núi cao, hướng gió thịnh hành thường phù hợp với
hướng gió chính trong mùa. Vào mùa đông, hướng gió thịnh hành là gió Đông
Bắc; vào mùa hè tần suất xuất hiện gió Đông Bắc giảm và chuyển dần sang
gió Đông Nam hoặc Nam.
Về tốc độ gió: tần suất lặng gió nhỏ, khả năng xảy ra tốc độ gió lớn cao đặc
biệt là ở các vùng núi cao như Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên.


17

Tốc độ gió trung bình toàn tỉnh khoảng 1,3m/s.
1.1.3.7. Thuỷ văn
* Mạng lưới thuỷ văn
Tuyên Quang là tỉnh có mật độ sông suối cao (khoảng 0,9km/km2).
Chế độ thuỷ văn trên địa bàn tỉnh chia làm hai mùa rõ rệt, phù hợp với
hai mùa của khí hậu. Mùa lũ tập trung tới 80% tổng lượng nước trong năm và

Dòng chảy sông Lô và các sông nhánh biến động rất lớn. Do vị trí nằm
gần tâm mưa của huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang) nên lượng mưa năm
nhiều, lớp dòng chảy dồi dào.
*Phân phối dòng chảy năm
-Dòng chảy lũ:
Ở Tuyên Quang, nước lũ tập trung nhanh, lên xuống đột ngột. Mùa
mưa bắt đầu từ tháng V và kéo dài đến hết tháng IX. Những tháng mùa mưa
đều có khả năng sinh lũ; trong đó tập trung nhất vào các tháng VI, VII và
VIII. Đặc biệt là tháng VIII thường có lượng mưa lớn nhất, chiếm khoảng
18% tổng lượng mưa cả năm.
Lũ trên các sông suối nhỏ xuất hiện ngay sau khi mưa chỉ một vài giờ.
Nghĩa là quan hệ mưa và dòng chảy khá chặt chẽ.
-Dòng chảy cạn:
Mùa cạn ở Tuyên Quang bắt đầu từ tháng X-XI đến hết tháng IV-V
năm sau. Dòng chảy kiệt thường có 3 thời kì: thời kì đầu mùa cạn, cạn ổn
định và cuối mùa cạn. Trong đó giai đoạn đầu và giai đoạn cuối mùa cạn dòng
chảy dao động mạnh nhất mang tính chất chuyển tiếp từ mùa lũ sang mùa kiệt
và từ mừa kiệt sang mùa lũ.
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.1. Dân số và lao động
Theo số liệu thống kê năm 2010, dân số trung bình của tỉnh có 730.690
người, chiếm 0,85 % dân số của cả nước và 6,54 % dân số của vùng Trung du
và miền núi phía Bắc (là tỉnh có dân số lớn thứ 7 của vùng). Mật độ dân số
của tỉnh là 124 người/km2, bằng 47,15 % mật độ dân số của cả nước và
105,98 % mật độ dân số của vùng. Dân số của tỉnh phân bố không đồng đều
theo đơn vị hành chính. Huyện Sơn Dương có dân số lớn nhất với 172.628
người, chiếm 23,63 % dân số của cả tỉnh; huyện Na Hang có dân số thấp nhất
với 60.532 người, chiếm 7,95 % dân số của cả tỉnh. Thành phố Tuyên Quang
có mật độ dân số cao nhất với 764 người/km2, cao gấp 6,16 lần mật độ dân số
chung của cả tỉnh; huyện Na Hang có mật độ dân số thấp nhất, chỉ 41

DGP bình quân đầu người theo giá trị hiện hành tăng từ 4,8 triệu đồng
(năm 2005) tăng lên 18,4 triệu đồng (năm 2011).
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Kinh tế nông nghiệp giảm từ 39,36% (năm 2005) xuống 37,47% (năm
2011).
Kinh tế công nghiệp-xây dựng tăng từ 21,44% (năm 2005) lên 25,10%
(năm 2011) và ổn định từ năm 2008 đến năm 2011 ở mức 22,07-22,55%
Kinh tế dịch vụ tăng nhanh từ 35,54% (năm 2005) lên 39,98% (năm
2011).
Tuy vậy, chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng khu vực kinh tế còn
chậm, như chăn nuôi và lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng hiện có,
công nghiệp chế biến lâm sản chưa phát triển.


20

Nhìn chung trong những năm qua, tình hình xã hội tỉnh Tuyên Quang
rất ổn định, kinh tế phát triển. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng. Việc tăng
trưởng mạnh của nền kinh tế luôn kéo theo sự gia tăng ô nhiễm môi trường
bởi các chất thải, nhất là nước thải, rác thải rắn và khí thải. Vì vậy việc phân
tích các thành phần môi trường đất, nước, không khí; đánh giá, giám sát chặt
chẽ sự biến động của chúng theo thời gian, không gian cụ thể để phục vụ công
tác quản lý, bảo vệ môi trường cũng như dự báo, cảnh báo các tác động của
môi trường đến toàn bộ nền kinh tế- xã hội của tỉnh là việc làm rất cần thiết.


21

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về nước

về chất lượng và số lượng. [4]
Trong khi đó, tại Trung Quốc, hầu hết các kênh rạch, sông và hồ đang bị
ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Kết


22

quả là nguồn nước của nhiều thành phố và khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng
gây ảnh hưởng đến sức khỏe và hoạt động sống của con người.[21]
Tại Thái Lan tình hình ô nhiễm môi trường nước ở nhiều khu vực cũng
đang trong tình trạng tương tự. Theo kết quả nghiên cứu của Thares Srisatit và
cộng sự cho thấy tại Bangkok môi trường nước tại các khu công nghiệp đang
trong tình trạng báo động. Trong 30 mẫu phân tích thì có đến 27 mẫu cho thấy
các chỉ tiêu BOD5, COD, N tổng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 4-6 lần, trong
đó có một số chỉ tiêu như Pb, As vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 7-8 lần. [5]
Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên
thế giới vì bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công
nghiệp và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý tới mức những người mộ đạo
trước kia tôn thờ nguồn nước sông này giờ đây lại trở nên khiếp sợ chính
nguồn nước đó. Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng. [5]
Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, chất lượng nước tại nhiều con sông
lớn trên thế giới bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, hàng ngày hàng giờ phải hứng
chịu các nguồn ô nhiễm khác nhau. Do đó, việc cần làm trước tiên là phải tiến
hành đánh giá, kiểm tra, quan trắc hệ thống sông, để xác định được cụ thể
thành phần của nguồn nước thải gây ô nhiễm, xác định được mức độ ảnh
hưởng của chúng, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm hạn chế sự tác
động tiêu cực đến chất lượng nước sông, nâng cao khả năng cung cấp nước
phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội của con người.
2.1.2.Hiện trạng sử dụng tài nguyên nước tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cùng với quá trình gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa,

sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số tăng nhanh và tốc độ đô
thị hóa nhanh. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cùng với nước thải của các
cơ sở thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị
nước ta. Điều đáng nói là các loại nước thải đều được thải trực tiếp ra môi
trường, chưa qua xử lý, vì ở nước ta chưa có hệ thống xử lý nào đúng nghĩa
như tên gọi.
Theo thống kê, khu vực miền Bắc có hai hệ thống sông chính là sông
Hồng và sông Thái Bình, khu vực miền Trung có hai con sông lớn là sông Mã
và sông Cả, trong khi đó tại miền Nam có hệ thống sông Đồng Nai và sông
Cửu Long là các dòng sông chính. Tuy nhiên, trong những năm qua, quá trình
khai thác và xả thải của con người chưa hợp lý nên đã gây ra những tác động
đáng kể đến chất lượng nước tại các hệ thống sông trên.
Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt,
nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng.
Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải
sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông. Chất
lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH4, tổng N,
tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
- Sông Đồng Nai: Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu với
sông Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 -6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l)
nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A. Ô nhiễm vi sinh và
dầu mỡ rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, … chưa vượt tiêu chuẩn, nhiễm
mặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu. Vùng thượng lưu nước có
chất lượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do hàm


24

lượng cao của các chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh. Khả năng tự làm sạch của
sông Đồng Nai khá tốt .

pháp quản lý và xử lý triệt để thì hậu quả sẽ rất khó lường. Vì vậy, cần có quá
trình quản lý chặt chẽ hơn của các cơ quan chức năng cũng như việc tôn trọng
về pháp luật của các cơ sở sản xuất cũng như hoạt động của những người dân
để đảm bảo chất lượng nước tại các con sông.
Chất lượng các hồ ở Việt Nam:


25

Hệ thống hồ, ao, kênh và sông nhỏ tại cá thành phố lớn như Hà Nội, Hồ
Chí Minh, Hải Phòng, Huế tiếp nhận và chuyển nước thải từ các khu công
nghiệp và khu dân cư.
Gần đây hệ thống hồ này bị ô nhiễm nghiêm trọng, vượt quá từ 5 đến
10 lần mức quy chuẩn quốc gia về nguồn nước mặt loại B. Hầu hết các hồ
trong các thành phố đều bị phú dưỡng. Nhiều hồ bị phú dưỡng đột biến và tái
nhiễm hữu cơ.
Các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Hạ Long... Mới đang trong
giai đoạn thiết kế và xây dựng cơ sở xử lý nước thải. Một số các thành phố và
thị trấn nhỏ cũng bắt đầu xây dựng các dự án xử lý nước thải phân tán khu
dân cư.
Hiện nay các hồ chứa nước và hồ điều hoà ở Hà Nội nói riêng và các hồ
trên cả nước nói chung đều bị ô nhiễm, các chỉ tiêu ô nhiễm chủ yếu là: hàm
lượng oxy hoà tan (DO), nhu cầu oxy hoá sinh học (BOD5), nhu cầu oxy hoá
học (COD), kim loại nặng, vi sinh vật đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều
lần. Các hồ đều có hiện tượng phú dưỡng, hồ có rất nhiều tảo xanh (đặc biệt
là hồ Ba Mẫu), các hồ gần khu vực dân cư trong nội và ngoại thành các khu
đô thị, thành phố lớn như Hà Nội có lượng Coliform rất lớn vượt tiêu chuẩn
cho phép (QCVN 08:2008/BTNMT cột B) từ 100 đến trên 200 lần, vào mùa
khô có thể vượt tới 700 lần.
Chất lượng nước các hồ vào mùa khô ô nhiễm hơn mùa mưa do mùa khô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status