Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp muốn
tồn tại, đứng vững và lớn mạnh đòi hỏi doanh nghiệp đó phải quan tâm đến
tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phải làm sao để chi phí
bỏ ra ít nhất mà hiệu quả lại thu lại cao nhất; có nh vậy doanh nghiệp mới
đạt đợc lợi nhuận tối đa và thực hiện đợc mọi nghĩa vụ đối với Nhà nớc, có
điều kiện cải thiện đời sống cho ngời lao động.
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu đợc
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá trị nguyên vật liệu dùng thờng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm. Vì
vậy, để giảm chi phí kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm thì trớc hết phải
tổ chức hạch toán hợp lý nguyên vật liệu từ khâu cung ứng, dự trữ cho đến
khâu sử dụng nguyên vật liệu...
Đối với mỗi doanh nghiệp tài sản cố định là yếu tố cơ bản của vốn kinh
doanh, nó thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ, năng lực và
thế mạnh của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, đồng thời là điều
kiện cần thiết để giảm bớt sức lao động và nâng cao năng suất lao động. Tài
sản cố định gắn liền với doanh nghiệp trong mọi thời kỳ phát triển của nền
kinh tế, đặc biệt là trong điều kiện khoa học kỹ thuật trở thành lực lợng sản
xuất trực tiếp thì vai trò của tài sản cố định ngày càng quan trọng.
Vậy nên để có thể quản lí tốt và hiệu quả tài sản nguyên liệu có chất lợng
phục vụ sản xuất là một vấn đề không kém phần quan trọng trong các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều tài
liệu lí thuyết đợc áp dụng trong mỗi đơn vị sản xuất để đáp ứng yêu cầu
này. Nhng vấn đề là mỗi đơn vị lại có một cách đánh giá và đầu t cho hoạt
động quản lí chất lợng hàng hoá nguyên vật liệu một cách khác nhau.
-1-
-3-
PHầN I
CÔNG TY CP ĐầU TƯ & XÂY DựNG NAM DƯƠNG- MộT Số KếT QUả ĐạT
ĐƯợc trong HOạT Động SảN XUấT KINH DOANH Và Kế HOạCH PHáT
TRIểN ĐếN NĂM 2010.
* Là một đơn vị trẻ mới đợc thành lập trong điều kiện cạnh tranh khó
khăn của nền kinh tế thị trờng nên cả bộ máy của công ty từ Lãnh đạo cho
đến cán bộ công nhân viên đều hết sức cố gắng và nỗ lực vợt qua những thử
thách đó. Đến nay, trong hồ sơ năng lực của mình, danh mục các hợp đồng
đã hoàn thành ngày một đa dạng và phong phú thêm.
I -Bộ máy quản lý:
1. Đặc điểm của bộ máy quản lý:
Công ty sắp xếp lại theo hớng tinh giảm bộ máy quản lý, tránh cồng
kềnh, xoá bỏ những khâu trung gian không cần thiết, sát nhập các phòng
ban theo hớng tinh gọn phục vụ và đáp ứng kịp thời cho sản xuất.
Bộ máy của công ty đợc tổ chức theo kiểu trực tuyến kết hợp với các
phòng ban hài hoà. Đứng đầu là giám đốc, chịu trách nhiệm điều hành và
quản lý sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm thông qua hai phó giám
đốc và các phòng ban chức năng.
* Giám đốc: là ngời đứng đầu bộ máy của công ty chịu trách
nhiệm chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý của công ty. Ngoài việc ủy quyền
trách nhiệm cho các Phó giám đốc, Giám đốc công ty còn trực tiếp chỉ huy
thông qua các trởng phòng tài vụ, tổ chức.
* Phó giám đốc công ty:
- Các Phó giám đốc công ty có nhiệm vụ giúp đỡ Giám đốc trực tiếp
chỉ đạo các bộ phận, đợc phân công và đợc uỷ quyền.
chính
Kho vật liệuphụ tùng
3. Các ngành kinh doanh chính:
* Sản xuất, mua bán cấu kiện bê tông đúc sẵn và vật liệu xây dựng.
* Vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách.
* Cho thuê các loại máy móc thiết bị.
* Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ
lợi và các
công trình kỹ thuật khác.
* Xây dựng, lắp đặt đờng ống cấp thoát nớc và hệ thống chiếu sáng.
* Đầu t và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
* Kinh doanh bất động sản.
* Đầu t phát triển nhà và các khu công nghiệp.
* Kinh doanh dịch vụ vờn cảnh, non bộ, công viên cây xanh, vờn giải
trí và các dịch vụ khác liên quan đến môi trờng sinh thái công cộng.
- Do nghành nghề kinh doanh khá dàn trải trên nhiều lĩnh vực nên đòi
hỏi ở đội ngũ quản lý phải có trình độ, bản lĩnh và sự nhạy bén. Mô hình
sản xuất và quản lý nhỏ gọn nhng linh hoạt đảm bảo tiến độ cũng nh chất l-5-
ợng của sản phẩm đã tạo ra. Nhiều phơng án đợc thực hiện nhằm làm giảm
thiểu những chi phí không đáng có, trong đó giảm thiểu chi phí hàng tồn
kho và sử dụng hiệu quả tài sản, trang thiết bị, nguyên vật liệu luôn đợc đặt
lên hàng đầu. Sự linh hoạt trong quản lí hàng hoá lu kho là cả một quá trình
nghiên cứu và học hỏi từ những nớc tiên tiến và những công ty lớn khác.
Đến nay, đội ngũ nhân viên kế toán tài sản và nhân viên quản lý kho hàng
một trong
những hoạt
động quan
trọng nhất
là
làm
giảm tối đa
những chi phí cho hàng hỏng, hàng kém chất lợng không thể sử dụng đợc
cho sản xuất cũng trong thời gian trên đợc thể hiện qua biểu đồ phân tích:
-7-
Qua biểu đồ trên ta thấy việc thực hiện công việc theo quy trình, phơng
pháp hớng
dẫn là rất quan trọng, ở mỗi một khâu đều có một tiêu chuẩn
quản lý chất lợng riêng đã mang lại kết quả rất khả quan.
4. Chi phí cho khâu quản lý cũng giảm đáng kể:
* Kết quả
về
tài
chính
2005
8.163.969.691
6.462.558.598
1.414.816.313
2.880.699.734
2.122.212.647
116.721.696
84.039.621
Từ bảng trên ta thấy những năm gần đây công ty đạt doanh thu cao. Năm
2003 đạt hơn 1 tỷ đồng, năm 2004 đạt hơn 4 tỷ đồng. Nếu làm phép tính
đơn giản ta sẽ thấy số vòng quay của vốn là khá lớn ( >3lần ). Một công ty
thuộc ngành xây lắp với số vòng quay của vốn lớn nh vậy => Công ty có
chính sách tài chính linh động, kết quả vốn kinh doanh khả quan. Do đó, đã
tạo đợc sự uy tín đối với khách hàng, cũng nh tín nhiệm của các chủ đầu t,
ngân hàng. Chính nhờ thế mạnh đó Công ty đã tạo đợc nguồn vốn khá lớn
-8-
qua nguồn thu vốn vay ngân hàng và tín dụng. Ngân hàng cung cấp tín
dụng cho Công ty là ngân hàng Thơng mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh Việt Nam với tổng số tiền tín dụng là 3 tỷ đồng chẵn.
Cụ thể năm 2003 Công ty đã huy động đợc hơn 5 tỷ đồng vốn lu động
một số vốn khá lớn, trong khi số nợ là hơn 1 tỷ đồng. Công ty đã thực hiện
chính sách vay đâu trả đấy, nên Công ty ngày càng phát triển và tạo uy tín
hơn trong nghành xây dựng. Do vậy mà đời sống của cán bộ nhân viên
trong công ty ngày càng ổn định hơn, mặt khác do yêu cầu của công việc là
lắp máy và xây dựng nên nếu là công nhân lao động trực tiếp thì công việc
đòi hỏi tay nghề, nặng nhọc, khó khăn, nguy hiểm. Còn nếu là lao động
8. Xác định rõ việc khơi dậy và phát triển nguồn lực sẵn có là rất quan
trọng, nghiên cứu các phơng pháp để tất cả mọi ngời bày tỏ quan điểm, ý
kiến của mình về những vấn đề còn cha hợp lý trong quản lí, sản xuất và
quan trọng hơn nữa là cách tiến hành cải tiến, thay đổi từng công việc cụ
thể trong sản xuất, kinh doanh.
Tất cả nội dung phơng hớng phát triển trên đã đợc Hội đồng quản trị và
Ban lãnh đạo công ty thông qua thảo luận và công bố rộng rãi tới các bộ
phận sản xuất thành viên của công ty. Qua đó mọi ngời đều đã xác định đợc
hớng phát triển về lâu dài của mình gắn với lợi ích và phát triển của công ty,
mọi đơn vị đều quyết tâm thực hiện tốt có hiệu quả công việc đợc giao.
PHầN II
Thực trạng hoạt động quản lý kho nguyên VậT LIệU- TàI SảN
Cố ĐịNH.
I: Quản lý chất lợng trong công tác bảo quản là một yếu tố quan trọng cho
- 10 -
chất lợng sản phẩm, các yếu tố:
- Con ngi (Men)
- Phng pháp sn xut, qui trình k thut (Methods)
- Nguyên vt liu (Materials)
- Thit b sn xut (Machines)
- Phng pháp v thit b o lng (Mesurement)
- Môi trng (Environment)
- Thông tin (Information)
- Lãng phí kho: Hàng tồn kho quá mc s lm ny sinh các thit hi
sau:
- Tng chi phí.
Trên phiếu nhập kho luôn ghi giá trị thực tế vật liệu nhập là giá đã có thuế
GTGT.
Ví dụ: Ngày 7/12/2001, thủ kho nhận đợc hàng và Hoá đơn GTGT.
Sau khi ban KCS kiểm tra chất lợng đạt tiêu chuẩn, số lợng đúng với hoá
đơn GTGT đã tiến hành viết Phiếu nhập kho .
1.3 Thủ tục nhập kho đối với vật liệu tự gia công:
- Đối với các loại vật liệu mới: Khi nhập kho các loại vật liệu mới, thủ
kho phải xác định thông số kỹ thuật của loại vật liệu đó, lập Biên bản
kiểm nhận vật t . Ngoài ra phải có sự kiểm tra của ban KCS về chất lợng
vật liệu nhập kho. Sau đó, ngời phụ trách phân xởng chế biến vật liệu sẽ đa
Biên bản kiểm nhận vật t sang phòng cung tiêu báo Phiếu nhập kho .
- 12 -
Phiếu nhập kho chỉ ghi số lợng nhập, không ghi giá trị của số vật liệu đó
và đợc lập thành 3 liên:
- Liên 1: Lu ở sổ gốc của phòng cung - tiêu.
- Liên 2: Thủ kho giữ để làm căn cứ theo dõi trên sổ kho.
- Liên 3: Kế toán giữ.
- Đối với các loại hàng khác nhập lại từ xởng sản xuất: Thủ tục nhập kho
cũng tơng tự nh các loại hàng mới. Điều đáng lu ý đây là: đồng thời với
việc nhập lại hàng, tổ trởng sản xuất phải thông báo cho thủ kho lợng hàng
đã bị lỗi chất lợng để thủ kho ghi vào sổ nhật ký của mình.
1.4. Thủ tục nhập kho đối với vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất nh ng
không dùng hết:
- Trờng hợp này, ngời phụ trách sản xuất sẽ đem số vật liệu ( cuối tháng
không dùng hết ) tới kho để nhập. Thủ tục nhập kho tơng tự nh nhập kho vật
liệu tự gia công.
* Thủ tục nhập kho đối với vật liệu đợc nhập từ cơ sở sản xuất 2 về công ty.
* TH 1: Sau khi nhận NVL cho một ngày sản xuất, nếu có phát sinh thêm
nhu cầu mới về NVL, tổ trởng tổ sản xuất sẽ viết Giấy đề nghị cung cấp
vật t và xin Giám đốc ký duyệt. Sau đó, tổ trởng tổ sản xuất sẽ đa giấy này
sang phòng cung tiêu lập Phiếu xuất kho . Thủ tục này giống nh trờng
hợp xuất NVL hàng ngày cho sản xuất
* TH 2: Khi xuất phần huỷ hàng bị lỗi không thể sử dụng, hội đồng giám
sát gồm nhân viên phòng hành chính, nhân viên phòng cung tiêu, bảo vệ sẽ
- 14 -
lập Biên bản xác định số hàng hoá, bao bì, nguyên vật liệu bị thiệt hại .
Biên bản này đợc ghi thành 2 liên:
- Liên 1: Thủ kho giữ.
- Liên 2: Kế toán giữ.
Ví dụ: Tại kho nguyên vật liệu , ngày 4/12/2001, tiến hành huỷ cặn lắng.
Sau khi thực hiện xong, những ngời có mặt chứng kiến sẽ lập biên bản.
Biên bản này sẽ đợc thủ kho và kế toán giữ để tiến hành theo dõi trên sổ
sách.
* TH 3: Trờng hợp xuất nguyên vật liệu cho sản xuất ở cơ sở 2.
Hàng ngày thủ kho tại cơ sở 2 tiến hành xuất vật liệu theo kế hoạch sản
xuất đợc đa xuống và ghi vào sổ có sự ký nhận của ngời nhận. Sau đó, định
kỳ ( 1 tuần 2 lần ), ngời viết phiếu ( trên công ty ) sẽ xuống cơ sở 2 để lập
Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho . Hoá đơn này đợc ghi thành 3 liên:
- Liên 1: Lu sổ gốc ở phòng cung - tiêu.
- Liên 2: Thủ kho tại cơ sở 2 giữ.
- Liên 3: Báo cáo viên tại cơ sở 2 giữ để lập Bảng kê chứng từ xuất vật
liệu tại cơ sở 2 . Cuối tháng bảng kê này đợc gửi về phòng kế toán của
công ty để tiến hành hạch toán.
* Công ty tiến hành hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phơng pháp
hàng đến nơi. Bằng các thủ tục kiểm kê hàng ngày nhân viên kho sẽ phải
xác định thời hạn sử dụng cho một số loại hoá chất và một số loại hàng có
tần suất xuất nhập nhiều mang tính cần thiết cho hoạt dộng sản xuất. Về thủ
tục với kế toán kho thì cũng nh đối với các loại hàng trong nớc.
- 16 -
Hoạt động liên quan đến kế toán kho theo sơ đồ sau:
Thẻ kho
Chứng
từ nhập
Chứng
từ xuất
Thẻ hoặc sổ
chi tiết vật liệu
Bảng tổng hợp
N- X- T
Kế toán
tổng hợp
Theo đó hàng năm công ty tổ chức tổng kiểm kê định kỳ 2 quý một lần, đây
vật liệu
là phơng pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế cuối kỳ để tính
toán giá thực tế của nguyên vật liệu đã xuất dùng trong kỳ theo công thức:
Giá thực tế
NVL xuất kho
liệu và tài sản cố định, công ty đã có một số hoạt động nh tổ chức khóa học
để giới thiệu, hớng dẫn các thành viên giúp nâng cao ý thức bảo quản và
hoạt động có hiệu quả hơn. Tài liệu hớng đợc trinh bầy rất đầy đủ,chi tiết và
dễ hiểu:
1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý và kế toán nguyên vật liệu trong sản
xuất:
1.1 Đặc điểm và vị trí của nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh:
Đối với doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là đối tợng lao động, là một
trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành
nên thực thể sản phẩm. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh , nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, không
giữ nguyên hình thái ban đầu. Do đó, giá trị của nguyên vật liệu chuyển
dịch toàn bộ vào giá trị của sản phẩm mới.
Chi phí về các loại nguyên vật liệu thờng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nó không chỉ là đầu vào trong
quá trình sản xuất mà còn là một bộ phận của hàng tồn kho. Khi giữ vai trò
là yếu tố đầu vào thì chất lợng vật liệu, chi phí thu mua, giá mua ảnh hởng
lớn tới quá trình sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Khi giữ vai trò là
hàng tồn kho thì việc bảo đảm cung ứng, sử dụng, tiết kiệm các loại nguyên
vật liệu có tác động mạnh mẽ đến các hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2 Yêu cầu về quản lý và hạch toán nguyên vật liệu:
Do đặc điểm, vị trí của nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh nên các
doanh nghiệp luôn cố gắng tổ chức tốt việc quản lý và hạch toán quá trình
chu chuyển của nguyên vật liệu bắt đầu từ khâu thu mua, vận chuyển, bảo
quản đến dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu.Ngày nay, nguyên vật liệu
- 18 -
không còn khan hiếm và không còn phải dự trữ nhiều nh trớc nữa; hàng hoá
theo một đặc trng nhất định nào đó thành từng nhóm để thuận tiện cho việc
quản lý và hạch toán.
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại nguyên vật liệu nh: căn cứ vào nguồn
gốc, căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng... nhng thông dụng nhất là căn cứ
vào vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất. Theo cách này,
nguyên vật liệu đợc phân thành các loại sau:
- Vật liệu chính: là đối tợng lao động chủ yếu trong các doanh nghiệp sản
xuất, là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm.
- Vật liệu phụ: là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản
xuất , không cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm, làm tăng chất lợng
vật liệu chính.
- Nhiên liệu: là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lợng cho quá trình sản
xuất, cho máy móc, thiết bị, nhiên liệu ( có thể là chất rắn, lỏng, khí ).
- Phụ tùng thay thế: là các phụ tùng, chi tiết dùng để thay thế sửa chữa máy
móc thiết bị, phơng tiện vận tải...
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản: là các loại vật liệu dùng cho công
tác xây lắp, xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu khác ngoài những loại trên, các
loại vật liệu này do quá trình sản xuất tạo ra, phế liệu thu hồi thanh lý
TSCĐ.
2. Tài sản cố định và tính cần thiết phải hạch toán:
2.1 Tài sản cố định và đặc điểm của nó:
Chúng ta đã biết, doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở, là tế bào của nền
kinh tế quốc dân, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh
- 20 -
để sản xuất các sản phẩm, cung ứng hàng hoá, dich vụ thoả mãn nhu cầu
ngời tiêu dùng. Do vậy, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bình thờng liên tục và có hiệu quả thì các doanh nghiệp cần phải có một nguồn lực
những lợi thế thu hút các nguồn tài chính phục vụ cho công việc đầu t mở
rộng sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, tổ chức tốt công tác kế toán TSCĐ để thờng xuyên theo dõi, nắm
chắc tình hình tăng giảm TSCĐ về số lợng và giá trị, tình hình sử dụng và
hao mòn TSCĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý và sử
dụng đầy đủ, hợp lý công suất TSCĐ, góp phần phát triển sản xuất, thu hồi
vốn đầu t nhanh để tái sản xuất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng
TSCĐ.
Thứ nhất, các phơng tiện vật chất hữu hình hay vô hình thuộc quyền sở hữu
hay thuộc quyền kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp. Nh vậy, các tài sản
hiện có tại doanh nghiệp nhng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
thì không đọc ghi chép lên báo cáo là tài sản, trừ trờng hợp tài sản thuê tài
chính, tuy không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhng đợc xem nh
tài sản vì nó thuộc quyền kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp.
Thứ hai, để đợc coi là tài sản thì các phơng tiện này phải có giá trị đối với
doanh nghiệp. Khái niệm giá trị ở đây đợc hiểu là sự hữu ích của tài sản đối
với doanh nghiệp.
Thứ ba, các phơng tiện phục vụ sản xuất kinh doanh phải có giá phí tính đợc. Giá phí ở đây đợc hiểu là tổng chi phí để có đợc tài sản đó.
Nh vậy, các vật hữu hình hoặc vô hình để đợc kế toán tài sản theo dõi thì
phải đồng thời thoả mãn ba điều kiện trên.
Tuy nhiên, để quản lý một cách chi tiết, chặt chẽ và chính xác, kế toán tiến
hành phân loại tài sản theo một tiêu thức phổ biến là căn cứ vào thời gian
chu chuyển của tài sản. Theo cách này, tài sản trong đơn vị gồm hai loại:
- 22 -
Tài sản lu động (TSLĐ) và tài sản cố định (TSCĐ). Trong đó, TSLĐ là tiền
và các khoản tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền hoặc chuyển vào chi
phí trong thời hạn một năm hay trong một chu kỳ hoạt động, TSCĐ đợc
Từ khái niệm và đặc điểm của TSCĐ, ta thấy vai trò nổi bật của TSCĐ là cơ
sở vật chất kỹ thuật, là yếu tố để thực hiện năng lực sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Các TSCĐ đợc bảo quản, sử dụng tốt và trang bị phù hợp
với quy mô của doanh nghiệp sẽ là cơ sở để quyết định cho việc tăng năng
suất lao động, tăng chất lợng kinh doanh, giảm chi phí sản xuất kinh doanh
từ đó dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó, sử dụng và quản lý
TSCĐ hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng.
2.2. Đặc điểm và yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp xây dựng:
2.2.1 Đặc điểm của TSCĐ:
- TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và trong quá trình sử dụng vẫn
giữ đợc hình thái vật chất ban đầu cho đến khi h hỏng phải loại bỏ.
- Giá trị của TSCĐ bị hao mòn dần và dịch chuyển từng phần giá trị vào chi
phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể:
+ Đối với các doanh nghiệp hoạt động xây dựng do sản xuất của ngành xây
dựng có những điểm riêng biệt khác với các ngành sản xuất khác, do đó yêu
cầu quản lý của TSCĐ tại các doanh nghiệp này cũng có những đòi hỏi cao.
+ Sản phẩm xây lắp là công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn kết cấu phức
tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài, khối lợng
thi công chủ yếu tiến hành ngoài trời do vậy quá trình sản xuất xây lắp cũng
rất phức tạp, không ổn định và có tính lu động cao.
+ Sản phẩm xây lắp đợc cố định tại mỗi nơi sản xuất, còn các điều kiện sản
xuất nh xe máy, thiết bị thi công, nhân công phải di chuyển theo địa điểm
- 24 -
đặt sản phẩm. đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng và hạch toán
tài sản vật t rất phức tạp và chịu ảnh hởng của thiên nhiên thời tiết, dễ mất
mát h hỏng, khó tránh khỏi những thiệt hại phát sinh.
2.2.2 Yêu cầu của việc quản lý TSCĐ:
TSCĐ gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại và phát triển.