[Tiểu luận cao học môn Triết học] Xây dựng triết học ngành xây dựng cơ bản - Pdf 37

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG …………………….

----------------

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
U

Một số vấn đề triết học trong Ngành Xây dựng

Họ và tên
Mã HV
Lớp
Hướng dẫn khoa học

: …………….
:
:
:

Hà Nội, 2015


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 1
T
8
2

T
8
2

3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 2
T
8
2

28T

4. Cấu trúc tiểu luận .............................................................................................. 2
T
8
2

28T

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TẾ......................... 3
T
8
2

T
8

8
2

2. Về quản lý đầu tư và nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước,
trái phiếu chính phủ ............................................................................................. 18
T
8
2

28T

3. Tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương................................ 19
T
8
2

T
8
2

4. Những rào cản và hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư19
T
8
2

T
8
2

5. Công tác quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành sử dụng vốn nhà nước20

2

28T

1. Giải pháp quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính
phủ ....................................................................................................................... 23
T
8
2

T
8
2

2. Giải pháp tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ
nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ ................................................ 24
T
8
2

T
8
2

3. Giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa
phương ................................................................................................................. 26
T
8
2


4

7. Giải pháp tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn
vốn đầu tư công ................................................................................................... 40
T
8
2

28T

KẾT LUẬN ................................................................................................ 43
T
8
2

28T

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................ 45
T
8
2

T
8
2


1

LỜI MỞ ĐẦU


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận triết
học về Ngành xây dựng. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật ngành xây dựng và nâng cao hiệu quả thực hiện Ngành xây dựng. Với


2

mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những nội
dung chủ yếu sau:
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về Ngành xây dựng
- Đánh giá thực trạng Ngành xây dựng
- Xây dựng một số quy luật trong Ngành xây dựng
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về Ngành xây dựng và
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Ngành xây dựng

3. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác – Lê
nin, quan điểm duy vật biện chứng và các quy luật của duy vật biện chứng. Ngoài
ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực của đề tài như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, logic, thống kê…cũng được sử dụng
trong quá trình nghiên cứu.

4. Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia
thành 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở khoa học
Chương 2. Một số vấn đề triết học trong ngành Xây dựng
Chương 3. Giải pháp triết học trong một số vấn đề ngành xây dựng

phép họ tổng kết và khái quát những tri thức riêng lẻ thành hệ thống quan niệm,
quan điểm chung. Về mặt xã hội, triết học xuất hiện khi sản xuất vật chất của loài
người phát triển đến trình độ làm nảy sinh quá trình phân công lao động trí óc và
lao động chân tay; nhưng quá trình phân công lao động này trong thực tế chỉ diễn
ra khi lịch sử nhân loại bước vào giai đoạn có phân chia giai cấp.

1.2. Vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ăngghen, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn
tại và tư duy, hay là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vấn đề này có
hai mặt:
- Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước? cái nào
quyết định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà triết học chia thành hai
trào lưu chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, nên vật chất có
trước, tồn tại độc lập với ý thức và quyết định ý thức; còn ý thức là thuộc tính, là sự
phản ánh vật chất. Chủ nghĩa duy vật trải qua nhiều giai đoạn phát triển với/hình


4

thức lịch sử cơ bản: duy vật cổ đại (mộc mạc, chất phác), duy vật tầm thường thế
kỷ V-XV, duy vật cơ học máy móc thế kỷ XVII-XVIII, duy vật siêu hình thế kỷ
XIX và duy vật mác-xít (biện chứng).
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới, nên ý
thức là cái có trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là sự “biểu
hiện” của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm chủ quan
(coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó là ý thức của con người nằm trong
con người) và duy tâm khách quan (cũng coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng
đó là một thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài con người và độc lập với con người).
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa học;


a. Phương pháp biện chứng
Thuật ngữ “siêu hình” (metaphysics), đầu tiên được Aristote dùng để chỉ bộ
phận quan trọng nhất trong hệ thống triết học của mình. Theo đó, nó được hiểu là
học thuyết về những gì vượt ra ngoài giới hạn của “kinh nghiệm”, về những đối
tượng đằng sau các sự vật hữu hình. Vì vậy, cho đến thời Phục hưng người ta vẫn
coi siêu hình học đồng nghĩa với triết học. Đến thế kỷ XVII-XVIII, sự phát triển
của khoa học tự nhiên đòi hỏi phải phân chia giới tự nhiên thành những lĩnh vực
riêng biệt để nghiên cứu. Chính cách nghiên cứu ấy đã đem lại cho các nhà khoa
học một thói quen, xét sự vật và quá trình trong trạng thái cô lập ở ngoài mối liên
hệ, vận động và phát triển của chúng. Khi cách xem xét này được các nhà duy vật
đưa vào triết học thì nó đã tạo ra phương pháp siêu hình. Như vậy, thuật ngữ
“phương pháp siêu hình” được dùng để chỉ phương pháp triết học đặc trưng cho
chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII. Phương pháp siêu hình là cách xem xét thế
giới trong sự cô lập tác biệt lẫn nhau hoặc không vận động, hoặc không phát triển,
hoặc vận động và phát triển theo chu kỳ khép kín.
b. Phương pháp siêu hình
Thuật ngữ “biện chứng” (dialectics), đầu tiên được Platon dùng để chỉ một
nghệ thuật trong tranh luận, theo đó nó được hiểu là những thủ đoạn biện bác chủ
quan. Tuy vậy ở thời cổ đại đã có những tư tưởng biện chứng khách quan (triết học
Hêraclít), nhưng vẫn còn mang tính tự phát và chưa trở thành hệ thống. Đến thế kỷ
XVIII, những tư tưởng biện chứng được phục hồi và được xây dựng thành hệ
thống, đặc biệt là ở trong các học thuyết của những nhà triết học duy tâm cổ điển
Đức. Từ lúc này những tư tưởng biện chứng mới hợp thành một phương pháp triết
học đối lập với phương pháp siêu hình. Đến giữa thế kỷ XIX, khái quát hiện thực
xã hội, tổng kết những thành quả lý luận và khoa học, Mác và Ăngghen xây dựng
lại phương pháp biện chứng trên lập trường duy vật đã sáng tạo ra phương pháp
biện chứng mácxít. Phương pháp biện chứng là cách xem xét thế giới trong mối
liên hệ phổ biến quy định ràng buộc nhau và luôn vận động và luôn phát triển.


Các nhà thực chứng mới cho rằng, nhận thức khoa học không phải là việc đưa
lại tri thức về các quy luật khách quan, mà là sự hình thành một trật tự nhất định
giữa các hiện tượng, trật tự này dường như không phụ thuộc vào tự nhiên mà phụ
thuộc vào những nguyên tắc có tính ước lệ do chủ thể chọn trước. Do đó, theo họ,
quy luật chỉ là sản phẩm của sự nhất trí giữa các nhà khoa học.
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi quy luật đều mang tính khách
quan. Các quy luật được phản ánh trong các khoa học không phải là sự sáng tạo
thuần tuý của tư tưởng. Những quy luật do khoa học phát hiện ra chính là sự phản
ánh những quy luật hiện thực của thế giới khách quan và của tư duy.
1.4.2. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó
mà không phải cái khác.
Chất của các sự vật là do những thuộc tính vốn có của sự vật kết hợp một cách
hữu cơ với nhau tạo thành, bản thân mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc


7

tính của sự vật cũng có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến cho
mỗi thuộc tính lại trở thành một chất.
Lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu
thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
cũng như của các thuộc tính của nó.
Sự phân biệt giữa chất và lượng cũng chỉ là tương đối, phụ thuộc vào mối
quan hệ xác định. Nghĩa là có cái trong mối quan hệ này là chất, nhưng trong mối
quan hệ khác nó lại là lượng và ngược lại. Do vậy, cần tránh quan điểm siêu hình
tuyệt đối hoá gianh giới giữa chất và lượng. Xác định chất và lượng phải căn cứ

hưởng của phương thức sản xuất, lại vừa chịu ảnh hưởng của nhân tố thuộc kiến
trúc thượng tầng của một hình thái xã hội nhất định.
Khái niệm Ngành xây dựng thường được diễn giải qua khái niệm Xây dựng
cơ bản:


9

- Hoại động đầu tư cơ bản: là hoạt động bỏ vốn để tạo ra các tài sản cố định
đưa vào hoại động trong các lĩnh vục kinh tế, xã hội nhằm thu được các lợi ích
khác nhau. Về tổng thể thì hoạt động đầu tư nào cũng cần phải có tài sản cố định.
Để có được tài sản cổ định, chủ đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách: xây dựng
mới, mua sắm, đi thuê…
- Đầu tư xây dựng cơ bản: là hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành
xây dựng mà tài sản cố định, bao gồm các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực xây dựng
cơ bản (khảo sát thiết kế, tư vấn xây dựng, thi công xây lắp công trình, sản xuất và
cung ứng thiết bị vật tư xây dựng) nhằm thực hiện xây dựng các công trình.
- Xây dựng cơ bản: là các hoại động cụ thể để tạo ra sản phẩm là những công
trình xây dựng có quy mô, trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hoặc năng lực
phục vụ nhất định. Xây dựng cơ bản là quá trình đổi mới tái sản xuất giản đơn và
mở rộng các tài sản cố định của các ngành sẩn xuất vật chất cũng như phi sản xuất
vật chất nhằm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Xây dựng cơ
bản được thực hiện dưới các phương thức: xây dựng mới, xây dựng lai, khôi phụ,
mở rộng và nâng cấp tài sản cố định.
- Ở góc độ của triết học,
Quá trình xây dựng cơ bản là quá trình hoạt động để chuyển vốn dầu tư dưới
dạng tiền tệ sang tài sản phục vụ cho mục đích đầu tư.

2.2. Vai trò của ngành Ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân
Ở nước ta Ngành xây dựng là ngành sản xuất vật chất lớn nhất của nền kinh tế


2.3. Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của sản phẩm xây dựng
1.2.1. Khái niệm về sản phẩm xây dựng
Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao
gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong). Sản phẩm xây dựng là kết tinh
của các thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một
thời kỳ nhất định. Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực
lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: các chủ đầu tư; các doanh nghiệp nhận
thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất thiết bị
công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng; các tổ chức dịch
vụ ngân hàng và tài chính; các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. Do vậy chi
phí để cấu thành nên sản phẩm xây dựng rất khó xác định và khó chính xác.
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến
tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần dùng để lắp đặt
các máy móc thiết bị của công trình xây dựng để đưa chúng vào hoạt động.
Tuỳ theo hình thức đấu thầu mà sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây
dựng được phân ra hai trường hợp:
– Doanh nghiệp xây dựng chỉ nhận thầu xây lắp thì sản phẩm của doanh
nghiệp xây dựng đem chào hàng khi tranh thầu xây dựng chỉ là các giải pháp công
nghệ và chức xây dựng công trình đang được đấu thầu.
– Doanh nghiệp xây dựng áp đụng hình thức chìa khoá trao tay thì sản phẩm
của tổng thầu xây dựng bao gồm cả phần giải pháp công nghệ, tổ chức xây dựng
công trình và phần thiết kế kiến trúc, kết cấu công trình xây dựng (mặc dù phần này
tổ chức tổng thầu xây dựng có thể đi thuê tổ chức tư vấn thiết kế thực hiện, nhưng
người chủ trì vẫn là tổ chức tổng thầu xây dựng).


11

Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp được tạo thành bằng

hành xây dựng phảihú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát
thiết kế và tổ chức thi công xáy lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại,
hoặc sửa chữa gây thiệt hại vỏn đầu tư và giảm tuổi thọ công trình.
3. Sản phẩm thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn. Số lượng, chủng loại
vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất


12

khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất
phức tạp thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ.
4. Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các
yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình.
5. Sản phẩm xây dựng liên quan nhiều đến cảnh quan và môi trường tự nhiên,
do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương
nơi đặt công trình.
6. Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá – nghệ
thuật và quốc phòng. Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến
trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt… Có thể nói
sản phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học – kỹ thuật và văn hoá trong
từng giai đoạn phát triển của một đất nưóc.
1.2.3. Những đặc điểm của sản xuất xây dựng tác động tới kinh tế xây dựng
Xuất phát từ tính chất và đặc điểm của sản phẩm xây dựng ta có thể rút ra một
số đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của sản xuất xây dựng như sau:
1. Sản xuất thiếu tính Ổn định, có tính lưu động cao theo lãnh thổ
Đặc điểm này kéo theo một loạt các tác động gây bất lợi về kinh tế:
Thiết kế có thể thay đổi theo yêu cầu của chủ đầu tư về công năng hoặc trình
độ kỹ thuật, các vật liệu, ngoài ra thiết kế có thể thay đổi cho phù hợp với thực tế 1
công trường xây dựng phát sinh.
Các phương án công nghệ và tổ chức xây dựng phải luôn luôn biến đổi phù

tiết, chịu ảnh hường của sự biến động giá cả. Vì vậy tổ chức và quản lý sản xuất tốt,
nhằm đẩy mạnh tiến độ thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng là biện pháp
quan trong đế hạn chế các tác đổng ngẫu nhiên xuất hiện theo thời gian như thiên
tai. biến đông giá cả. phá hoại của kẻ xấu.
3. Quá trình sản xuất mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phức tạp các công
việc xen kẽ và ảnh hưởng lẩn nhau
Quá trình sản xuất xây dựng thường có nhiéu đơn vị tham gia xây lắp một
cổng Irình.
Do đó công tác tổ chức quản lý trên công trường rất phức tạp, thiếu ổn định,
nhiều khó khăn khi phối hợp hoạt động của các nhóm lao động làm các công việc
khác nhau trên cùng một mặt trận công tác. Vì vậy cần phải coi trọng công tác thiết
kế tổ chức thi công, đặc biệt là phải phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các lực
lượng tham gia xây dựng theo thời gian và không gian. Phải coi trọng công tác điều
độ thi công, có tinh thần và trình độ tổ chức phối hợp cao giữa đơn vị tham gia xây
dựng công trình.
4. Sản xuất xảy dựng nói chung thực hiện ở ngoài trài nên chịu ảnh hưởng
nhiếu của điều kiện thiên nhiên tới các hoạt động lao động gây lãng phí về kinh
tế để hạn chế những tác động trên
Đặc điểm này làm cho các doanh nghiệp xây lắp khó lường hết được trước
những khó khăn phát sinh do diều kiện thời tiết khí hậu, từ đó ảnh hưởng tới hiệu
quả của lao động như quá trình sản xuất có thể bị gián đoạn do mưa, bão hoặc có
những rủi ro bất ngờ cho sản xuất. Ngoài ra sản xuất xây dựng là lao động nặng
nhọc, làm việc trên cao. độ mất an toàn lao động cao. Các biện pháp có thế làm
giảm mức độ ảnh hưởng của yếu tố này là:


14

– Khi lập kế hoạch xây dựng phải đặc biệt chú ý đến yếu tố thời tiết và mùa
màng trong năm, có các biện pháp tranh thủ mùa khô và tránh mùa mưa bão.

hội, đã tác động không nhỏ tới công tác tổ chức sản xuất trong toàn Ngành xây
dựng. Lực lượng xà) dựng ở nước ta rất đông đảo, đa dạng các loại hình tổ chức và
hoạt động, song còn phân tán manh mún, chưa tập trung thành những doanh nghiệp


15

có quy mô lớn, trình độ trang bị máy móc thiết bị tiên tiến còn rất hạn chế. Đội ngũ
công nhân lành nghể thiếu nhiều. Do đó khả năng đáp ứng yêu cầu của công cuộc
công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước còn thấp, khả năng canh tranh với các tập
đoàn xây dựng quốc tế để thắng thầu các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức
tạp còn hạn chế. Biện pháp hữu hiệu là thành lập hiệp hội các nhà thầu nhằm tăng
khả năng canh tranh đối với các nhà thầu quốc tế.

2.4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công
nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Thông thường, công
tác Ngành xây dựng do các đơn vị xây lắp nhận thầu tiến hành. Ngành sản xuất có
các đặc điểm sau:
Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa
vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp về kỹ
thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu
diễn ra ngoài trời chịu tác dộng rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa,
nắng, lũ, lụt... đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những biến động
này để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của nó.
Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc… Có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài…. Do vậy, việc tổ chức quản
lý hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ

công xây dựng nhiều công trình, tạo cơ sở vật chất ban đầu phục vụ làm việc của
các cơ quan, bệnh viện trong tỉnh; tiếp đến thực hiện xây dựng các nhà máy, xí
nghiệp sản xuất, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đặc biệt trong giai đoạn từ hơn 10/trở lại đây, ngành xây dựng Cao Bằng từ
công tác quy hoạch, đến thiết kế, thi công đã có bước phát triển đáng kể cả về chất
và lượng, góp phần quan trọng vào việc hình thành rõ nét các đô thị tại các thị trấn,
thị xã; các công trình hiện đại, quy mô dần dần mọc lên thay thế những công trình
cũ, lạc hậu, xuống cấp không còn phù hợp, không đáp ứng yêu cầu sử dụng và xu
thế phát triển; diện mạo các đô thị, trị trấn, thị xã được đổi thay nhanh chóng, thị xã
Cao Bằng trở thành thành phố - đô thị loại III trực thuộc tỉnh; bộ mặt nông thôn có
nhiều đổi mới, khang trang, hạ tầng cơ sở được đầu tư ngày càng đồng bộ, đời sống
vật chất và tinh thần nhân dân địa phương được nâng cao.
Ngày nay, cùng với phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế Quốc
tế, đất nước ta đang đổi mới và bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vừa
xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vừa phát triển nên kinh tế đất nước, ngành xây
dựng Cao Bằng cần phấn đấu nhiều hơn nữa để đạt trình độ chung của cả nước.
Trước hết chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành xây dựng đảm bảo
cả về số lượng (quy mô), cơ cấu và chất lượng. Thường xuyên củng cố bộ máy tổ
chức của ngành, đầu tư đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để có thể đảm nhận các
nhiệm vụ ngày càng đòi hỏi hàm lượng tri thức cao, đáp ứng yêu cầu công nghệ
mới, tiên tiến, hiện đại.
Để bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng, nhất là đầu tư
phát triển đô thị, công tác quy hoạch phải đi trước một bước. Ngành xây dựng cần
chú trọng nâng cao nhận thức và tầm nhìn về quy hoạch xây dựng, tiếp tục đổi mới


17

về nội dung, phương pháp và đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch xây dựng. Phát triển
không gian đô thị theo hướng hiện đại đảm bảo hài hòa bản chất của địa phương,

CHƯƠNG II.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG NGÀNH XÂY DỰNG
1. Quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ
Trong thời gian qua, việc huy động và sử dụng vốn ngân sách nhà nước và
vốn trái phiếu Chính phủ đã có đóng góp quan trọng vào việc đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do phân
cấp quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt
quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu
Chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm,
hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực của Nhà nước. Trong khi
đó, thời gian tới vốn ngân sách nhà nước rất hạn hẹp, vốn trái phiếu Chính phủ
không thể phát hành tăng thêm so với/2011 để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm
phát, giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, dư
nợ công ở mức cho phép.
Căn cứ Kết luận tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa XI), đi đôi với việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày
24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tổ chức triển khai các giải pháp tổng thể về tái cơ
cấu đầu tư trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công.
Thủ tướng Chính phủ cần yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực
thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước (sau đây
gọi tắt là các Bộ, ngành, địa phương) triển khai thực hiện một số nguyên tắc và giải
pháp tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính
phủ.

2. Về quản lý đầu tư và nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà
nước, trái phiếu chính phủ
Về quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà

ra các hậu quả như: Công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư kém; chủ
đầu tư không có nguồn vốn để thanh toán cho giá trị khối lượng thực hiện; nhiều
doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu nợ lương công nhân, chiếm dụng vốn của nhau,
không ít doanh nghiệp giải thể và phá sản; góp phần làm cho nợ xấu của ngân hàng
tăng lên,... Thực trạng trên đã và đang ảnh hưởng xấu đến an ninh tài chính, an toàn
nợ công và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương nhận thức đúng tác
động bất lợi do nợ đọng xây dựng cơ bản gây ra, tập trung triển khai thực hiện một
số nhiệm vụ, giải pháp để xử lý, khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại
các địa phương

4. Những rào cản và hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả
đầu tư
Trong những/qua, hoạt động đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư đã đạt nhiều
kết quả quan trọng, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, nâng cao trình độ khoa học công
nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo ra
năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội đã đề ra. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư thời gian qua hiệu quả chưa


20

cao, chưa tạo được động lực cần thiết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh
tế vĩ mô; trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do một số rào cản xuất phát từ thể chế
kinh tế, tổ chức hệ thống và quản lý kinh tế, các yếu tố đầu vào của sản xuất và tổ
chức bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư đã làm ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu
quả đầu tư.
Tập trung rà soát loại bỏ những thủ tục, quy định đang làm phức tạp, khó
khăn, cản trở đối với yêu cầu và đòi hỏi của việc tăng cường thu hút và sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế là nhiệm vụ đang đặt ra đối với



21

quản lý nhà nước về nợ công trên cơ sở phân công nhiệm vụ đối với các Bộ, ngành
và địa phương.
Nợ công là nguồn vốn cần thiết và rất quan trọng để bổ sung cho đầu tư phát
triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Rất nhiều công trình kết cấu hạ tầng
về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, điện, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường,...
đã được hoàn thành, phát huy hiệu quả và nhiều chương trình, dự án đang được
triển khai, góp phần thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo thêm việc
làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo
vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao trình độ khoa học, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý và đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Công tác quản lý nợ có chuyển biến, dần tiếp cận gần hơn với thông lệ tốt trên
thế giới. Cơ cấu nợ Chính phủ đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần
tỷ trọng vay nợ trong nước, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. Chủ động trả nợ
đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Tăng cường công khai, minh
bạch thông tin, số liệu về nợ công.
Tuy nhiên, nợ công đang tăng nhanh, dự kiến đến cuối/2015 sẽ sát giới hạn
Quốc hội phê duyệt. Cơ cấu nợ chưa thực sự bền vững, việc sử dụng các khoản vay
ngắn hạn cho đầu tư dài hạn làm phát sinh rủi ro tái cấp vốn và tạo ra áp lực trả nợ
lớn trong ngắn hạn. Chi phí huy động vốn vẫn còn cao. Một số dự án đầu tư sử
dụng vốn vay kém hiệu quả, không trả được nợ, phải tái cơ cấu tài chính hoặc
chuyển sang cơ chế nhà nước đầu tư vốn, làm tăng nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của
Chính phủ. Sử dụng vốn vay còn dàn trải, nhiều dự án chậm tiến độ, có dự án hoàn
thành nhưng không đạt được mục tiêu đề ra. Việc điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư
so với phê duyệt ban đầu, bổ sung hợp đồng diễn ra khá phổ biến dẫn đến phải tăng
vay nợ, gây áp lực gia tăng nợ công.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status