1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG …………………….
----------------
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
Một số vấn đề triết học trong Ngành Xây dựng
Họ và tên
Mã HV
Lớp
Hướng dẫn khoa học
: …………….
:
:
:
Hà Nội, 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
hội............................................................................................................16
CHƯƠNG II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG NGÀNH
XÂY DỰNG............................................................................................. 18
1. Quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ
.....................................................................................................................18
2. Về quản lý đầu tư và nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách
nhà nước, trái phiếu chính phủ................................................................18
3. Tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương..................19
4. Những rào cản và hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả
đầu tư..........................................................................................................19
4
5. Công tác quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành sử dụng vốn nhà
nước............................................................................................................20
6. Công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công..................20
7. Về nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư công........................22
1. Giải pháp quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu
chính phủ....................................................................................................23
2. Giải pháp tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ
bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ......................24
3. Giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại
các địa phương...........................................................................................26
4. Giải pháp loại bỏ những rào cản và hoàn thiện cơ chế, chính sách để
nâng cao hiệu quả đầu tư..........................................................................28
5. Giải pháp tăng cường, đẩy mạnh công tác quyết toán vốn đầu tư các
dự án hoàn thành sử dụng vốn nhà nước................................................32
6. Giải pháp tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng
tháp Ephen ở Pari... và do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải
được đặc biệt chú ý. Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình và còn ảnh
hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng.
Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chính
trị, kế toán, nghệ thuật... Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công
trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại
một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi
sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Những đặc điểm
này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn để nghiên cứu đề tài: Triết học
trong ngành Xây dựng cơ bản để làm rõ hơn một số vấn đề triết học trong quá
trình vận động của ngành Xây dựng. Từ đó, nhận thấy thực trạng và đưa ra giải
pháp giải quyết một số vấn đề trong ngành dưới góc nhìn của Triết học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận triết
học về Ngành xây dựng. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật ngành xây dựng và nâng cao hiệu quả thực hiện Ngành xây dựng. Với
2
mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những nội
dung chủ yếu sau:
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về Ngành xây dựng
- Đánh giá thực trạng Ngành xây dựng
- Xây dựng một số quy luật trong Ngành xây dựng
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về Ngành xây dựng và
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Ngành xây dựng
duy) và yếu tố nhận định (đánh giá về đạo lý để con người có thái độ và hành
động).
Theo quan điểm mácxít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội;
là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại, của nhận thức và của thái
độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự
nhiên, xã hội và tư duy.
Đặc điểm nổi bật của triết học là cách nhìn chung về thế giới, là sự nghiên cứu
thế giới xét như một chỉnh thể, cho nên tri thức triết học trước hết là những tri thức
phổ quát. Từ cách xem xét đó, triết học có vai trò giải thích bản chất, nguyên nhân
và những quy luật phát triển của thế giới; vừa có vai trò vạch ra con đường, những
phương tiện để nhận thức và cải tạo thế giới.
Triết học chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện: Về mặt nhận thức, triết học xuất
hiện khi năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định, cho
phép họ tổng kết và khái quát những tri thức riêng lẻ thành hệ thống quan niệm,
quan điểm chung. Về mặt xã hội, triết học xuất hiện khi sản xuất vật chất của loài
người phát triển đến trình độ làm nảy sinh quá trình phân công lao động trí óc và
lao động chân tay; nhưng quá trình phân công lao động này trong thực tế chỉ diễn ra
khi lịch sử nhân loại bước vào giai đoạn có phân chia giai cấp.
1.2. Vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ăngghen, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn
tại và tư duy, hay là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vấn đề này có
hai mặt:
- Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước? cái nào
quyết định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà triết học chia thành hai
trào lưu chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, nên vật chất có
trước, tồn tại độc lập với ý thức và quyết định ý thức; còn ý thức là thuộc tính, là sự
phản ánh vật chất. Chủ nghĩa duy vật trải qua nhiều giai đoạn phát triển với/hình
nguyên tinh thần sinh ra các hiện tượng tinh thần. Nhị nguyên luận thể hiện lập
trường dung hòa giữa duy vật và duy tâm, đó chỉ là khuynh hướng nhỏ trong lịch
sử triết học và trong cuộc đấu tranh triết học nó càng trở nên gần với chủ nghĩa duy
tâm.
1.3. Phương pháp triết học
Phương pháp triết học là phương pháp nhận thức thế giới nói chung, là hệ
thống những nguyên tắc dùng để nghiên cứu thế giới xét như một chỉnh thể. Trong
lịch sử triết học có hai phương pháp cơ bản đối lập nhau: phương pháp siêu hình và
phương pháp biện chứng.
5
a. Phương pháp biện chứng
Thuật ngữ “siêu hình” (metaphysics), đầu tiên được Aristote dùng để chỉ bộ
phận quan trọng nhất trong hệ thống triết học của mình. Theo đó, nó được hiểu là
học thuyết về những gì vượt ra ngoài giới hạn của “kinh nghiệm”, về những đối
tượng đằng sau các sự vật hữu hình. Vì vậy, cho đến thời Phục hưng người ta vẫn
coi siêu hình học đồng nghĩa với triết học. Đến thế kỷ XVII-XVIII, sự phát triển
của khoa học tự nhiên đòi hỏi phải phân chia giới tự nhiên thành những lĩnh vực
riêng biệt để nghiên cứu. Chính cách nghiên cứu ấy đã đem lại cho các nhà khoa
học một thói quen, xét sự vật và quá trình trong trạng thái cô lập ở ngoài mối liên
hệ, vận động và phát triển của chúng. Khi cách xem xét này được các nhà duy vật
đưa vào triết học thì nó đã tạo ra phương pháp siêu hình. Như vậy, thuật ngữ
“phương pháp siêu hình” được dùng để chỉ phương pháp triết học đặc trưng cho
chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII. Phương pháp siêu hình là cách xem xét thế
giới trong sự cô lập tác biệt lẫn nhau hoặc không vận động, hoặc không phát triển,
hoặc vận động và phát triển theo chu kỳ khép kín.
b. Phương pháp siêu hình
được hiểu là một trật tự khách quan, là con đường phát triển tự nhiên, vốn có của
mọi sự vật. Ngược lại, các nhà triết học duy tâm phủ nhận sự tồn tại khách quan
của quy luật. Chẳng hạn, Platôn cho rằng các tư tưởng đang tồn tại là quy luật đối
với các sự vật, vì các sự vật chỉ là hình ảnh của tư tưởng.
Đối với chủ nghĩa duy tâm khách quan, quy luật được giải thích như là sự thể
hiện của “ lý trí thế giới”. “Lý trí thế giới”, theo các nhà duy tâm khách quan, là
quy luật của tự nhiên và xã hội.
Tuy nhiên, trong số những nhà triết học duy tâm khách quan cũng có một số
người có đóng góp rất quý giá trong quan niệm về quy luật. Chẳng hạn, theo
Hêghen, quy luật là cái bền vững, cái ổn định, cái đồng nhất trong toàn bộ hiện
tượng, là sự phản ánh “cái yên tĩnh” của hiện tượng; quy luật không phải là cái bên
ngoài đối với hiện tượng mà là cái vốn có trong hiện tượng, quy luật là mối quan hệ
căn bản của hiện tượng, .v.v..
Các nhà thực chứng mới cho rằng, nhận thức khoa học không phải là việc đưa
lại tri thức về các quy luật khách quan, mà là sự hình thành một trật tự nhất định
giữa các hiện tượng, trật tự này dường như không phụ thuộc vào tự nhiên mà phụ
thuộc vào những nguyên tắc có tính ước lệ do chủ thể chọn trước. Do đó, theo họ,
quy luật chỉ là sản phẩm của sự nhất trí giữa các nhà khoa học.
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi quy luật đều mang tính khách
quan. Các quy luật được phản ánh trong các khoa học không phải là sự sáng tạo
thuần tuý của tư tưởng. Những quy luật do khoa học phát hiện ra chính là sự phản
ánh những quy luật hiện thực của thế giới khách quan và của tư duy.
1.4.2. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó
mà không phải cái khác.
Chất của các sự vật là do những thuộc tính vốn có của sự vật kết hợp một cách
hữu cơ với nhau tạo thành, bản thân mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc
bản thân sự vật quyết định. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hoá
giữa mặt khẳng định và mặt phủ định. Sự phủ định thứ nhất được thực hiện một
cách căn bản sẽ làm cho sự vật cũ sẽ chuyển thành cái đối lập của mình. Lần phủ
định tiếp theo dẫn đến ra đời một sự vật mới mang nhiều đặc trưng đối lập với cái
được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất. Nó được bổ xung nhiều nhân tố mới. Như
vậy, sau hai lần phủ định, về hình thức sẽ trở lại cái xuất phát, song, thực chất,
không phải giống nguyên như cũ, mà dường như lắp lại cái cũ, nhưng trên cơ sở
cao hơn.
2. Cơ sở thực tế
2.1. Khái niệm về Ngành Xây dựng
Ngành Xây dựng (bao gồm cả kiến trúc) vừa là một hoạt động sản xuất, lại
vừa là một hoạt động nghệ thuật, nên quá trình phát triển của nó vừa chịu ảnh
hưởng của phương thức sản xuất, lại vừa chịu ảnh hưởng của nhân tố thuộc kiến
trúc thượng tầng của một hình thái xã hội nhất định.
Khái niệm Ngành xây dựng thường được diễn giải qua khái niệm Xây dựng
cơ bản:
9
- Hoại động đầu tư cơ bản: là hoạt động bỏ vốn để tạo ra các tài sản cố định
đưa vào hoại động trong các lĩnh vục kinh tế, xã hội nhằm thu được các lợi ích
khác nhau. Về tổng thể thì hoạt động đầu tư nào cũng cần phải có tài sản cố định.
Để có được tài sản cổ định, chủ đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách: xây dựng
mới, mua sắm, đi thuê…
- Đầu tư xây dựng cơ bản: là hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành
xây dựng mà tài sản cố định, bao gồm các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực xây dựng
cơ bản (khảo sát thiết kế, tư vấn xây dựng, thi công xây lắp công trình, sản xuất và
cung ứng thiết bị vật tư xây dựng) nhằm thực hiện xây dựng các công trình.
10
• Xây dựng cơ bản tạo điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các
hoạt động xã hội, dân sinh quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công
trình xã hội, dịch vụ cơ sớ hạ tầng ngày càng đạt trình độ cao. Góp phần nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong xã hội.
• Xây dựng cơ bản đóng góp đáng kể lợi nhuận cho nền kinh tế quốc dân.
Hàng/ngành Xây dựng đóng góp cho ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Giải
quyết công ăn việc làm cho một lực lượng lớn lao động trong đó đa phần là cán bộ
công nhân viên ngành Xây dựng.
Tóm lại Ngành xây dựng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nó quyết định quy mô và trình độ kỹ thuật của xã hội của đất nước nói chung và sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay nói riêng.
2.3. Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của sản phẩm xây dựng
1.2.1. Khái niệm về sản phẩm xây dựng
Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao
gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong). Sản phẩm xây dựng là kết tinh
của các thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một
thời kỳ nhất định. Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực
lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: các chủ đầu tư; các doanh nghiệp nhận
thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất thiết bị
công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng; các tổ chức dịch
vụ ngân hàng và tài chính; các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. Do vậy chi
phí để cấu thành nên sản phẩm xây dựng rất khó xác định và khó chính xác.
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến
tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần dùng để lắp đặt
các máy móc thiết bị của công trình xây dựng để đưa chúng vào hoạt động.
Tuỳ theo hình thức đấu thầu mà sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây
dựng được phân ra hai trường hợp:
nhiên của sản phẩm; cơ cấu của ngành cùng với tổ chức quá trình xây dựng; những
nhân tố quyết định nhu cầu; phương thức xác định giá cả. Những đặc điểm sản
phẩm xây dựng có ảnh hướng lớn đến phương thức tổ chức sản xuất và quản lý
kinh tế trong ngành Xây dựng, làm cho việc thi công xây lắp công trình xây dựng
có nhiều điểm khác biệt so với việc thi công các sản phẩm của các ngành khác. Sản
phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có đặc
điểm như sau:
1. Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và cả
về phương pháp chế tạo. Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt
hàng và giá cả của chủ đầu tư (người mua), điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi
xây dựng.
2. Sản phẩm là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ. Vốn đầu
tư xây dựng lớn, thời gian kiến tạo và thời gian sử dụng lâu dài. Do đó, khi tiến
hành xây dựng phảihú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát
thiết kế và tổ chức thi công xáy lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại,
hoặc sửa chữa gây thiệt hại vỏn đầu tư và giảm tuổi thọ công trình.
3. Sản phẩm thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn. Số lượng, chủng loại
vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất
12
khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất
phức tạp thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ.
4. Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các
yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình.
5. Sản phẩm xây dựng liên quan nhiều đến cảnh quan và môi trường tự nhiên,
do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương
nơi đặt công trình.
6. Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá – nghệ
2. Thời gian xây dựng cồng trình dài, chi phí sản xuất lớn
Thời gian xây dựng dài làm cho vồn đầu tư xây dựng của chủ đầu tư và vốn
sản xuất của tổ chức xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại cổng trình gây những thiệt
hại lớn do 1 đọng vốn gây ra. Những biện pháp khắc phục mức độ ảnh hưởng này
là: công tác tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp phải chặt chẽ, hợp lý. Phải
luôn tìm cách lựa chọn trình tự thi công hợp lý cho từng công trình và phối hợp thi
công nhiều công trình để đảm bảo có những khối lượng công tác gối đầu hợp lý, tạo
nên những nguồn vốn huy dộng cho những công trình trọng điểm.
Việc phân chia các giai đoạn thi công ở từng công trình, nhằm tạo ra khả năng
sử dụng và điều phối hợp lý nâng lực sản xuất của đơn vị. Thanh toán từng phần
khối lượng công tác xây lắp thực hiện và bàn giao đưa vào sử dụng từng hạng mục
công trình.
Các tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian và thời
tiết, chịu ảnh hường của sự biến động giá cả. Vì vậy tổ chức và quản lý sản xuất tốt,
nhằm đẩy mạnh tiến độ thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng là biện pháp
quan trong đế hạn chế các tác đổng ngẫu nhiên xuất hiện theo thời gian như thiên
tai. biến đông giá cả. phá hoại của kẻ xấu.
3. Quá trình sản xuất mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phức tạp các công
việc xen kẽ và ảnh hưởng lẩn nhau
Quá trình sản xuất xây dựng thường có nhiéu đơn vị tham gia xây lắp một
cổng Irình.
Do đó công tác tổ chức quản lý trên công trường rất phức tạp, thiếu ổn định,
nhiều khó khăn khi phối hợp hoạt động của các nhóm lao động làm các công việc
khác nhau trên cùng một mặt trận công tác. Vì vậy cần phải coi trọng công tác thiết
kế tổ chức thi công, đặc biệt là phải phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các lực
lượng tham gia xây dựng theo thời gian và không gian. Phải coi trọng công tác điều
độ thi công, có tinh thần và trình độ tổ chức phối hợp cao giữa đơn vị tham gia xây
dựng công trình.
4. Sản xuất xảy dựng nói chung thực hiện ở ngoài trài nên chịu ảnh hưởng
nhiếu của điều kiện thiên nhiên tới các hoạt động lao động gây lãng phí về kinh
chúng sẽ cố cấu tạo và công nghệ chế tạo khác nhau.
– Không thể xác định thống nhất giá cả cho một đơn vị sản phẩm cuối cùng,
giá cả của chúng phải được xác định trước khi chế tạo trong hợp đồng giao nhận
thẩu hoặc dấu thầu. Do đó doanh nghiệp xây dựng phải thực sự coi trọng công tác
ký hợp đổng, tìm hiểu kỹ đặc điểm và yêu cầu kỹ thuật, đặc điểm kinh tế xã hội của
địa phương: để có các biện pháp kỹ thuật, quản lý hợp lý nhằm đảm bảo chất
lượng, thời hạn và hiệu quả kinh tế cao.
Ngoài những đặc điểm gây nên những bất lợi kể trên thì những đặc điểm
mang tính thuận lợi tạo sự hấp dẫn trong sản xuất xây dựng đó là các nhà thầu được
biết trước: thị trường tiêu thụ, yêu cầu chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng,
thu nhập tính trước và được chủ đầu tư (người mua) tạm ứng vốn sản xuất theo tiến
độ thi công.
15
Ngoài ra, ở Việt Nam có những đặc điểm xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế xã
hội, đã tác động không nhỏ tới công tác tổ chức sản xuất trong toàn Ngành xây
dựng. Lực lượng xà) dựng ở nước ta rất đông đảo, đa dạng các loại hình tổ chức và
hoạt động, song còn phân tán manh mún, chưa tập trung thành những doanh nghiệp
có quy mô lớn, trình độ trang bị máy móc thiết bị tiên tiến còn rất hạn chế. Đội ngũ
công nhân lành nghể thiếu nhiều. Do đó khả năng đáp ứng yêu cầu của công cuộc
công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước còn thấp, khả năng canh tranh với các tập
đoàn xây dựng quốc tế để thắng thầu các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức
tạp còn hạn chế. Biện pháp hữu hiệu là thành lập hiệp hội các nhà thầu nhằm tăng
khả năng canh tranh đối với các nhà thầu quốc tế.
2.4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công
nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Thông thường, công
2.5. Phát huy vai trò của ngành xây dựng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Xây dựng cơ bản nói chung, ngành xây dựng nói riêng giữ một vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong những lĩnh vực sản xuất vật chất lớn
của nền kinh tế quốc dân, cùng các ngành sản xuất khác, trước hết là ngành công
nghiệp chế tạo và ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, nhiệm vụ của ngành xây
dựng là trực tiếp thực hiện và hoàn thành khâu cuối cùng của quá trình hình thành
tài sản cố định cho toàn bộ các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân và các
lĩnh vực phi sản xuất khác.
Đối với tỉnh ta, ngay từ đầu những/60 của thế kỷ trước, lúc mới thành lập Ty
Kiến trúc - Thủy lợi, lãnh đạo tỉnh đã chú trọng xây dựng và phát triển ngành xây
dựng để trở thành một trong những đơn vị chủ lực chuyên ngành xây dựng cơ sở
vật chất kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc. Tuy còn non trẻ, song ngành xây dựng Cao Bằng đã tự thiết kế, thi
công xây dựng nhiều công trình, tạo cơ sở vật chất ban đầu phục vụ làm việc của
các cơ quan, bệnh viện trong tỉnh; tiếp đến thực hiện xây dựng các nhà máy, xí
nghiệp sản xuất, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đặc biệt trong giai đoạn từ hơn 10/trở lại đây, ngành xây dựng Cao Bằng từ
công tác quy hoạch, đến thiết kế, thi công đã có bước phát triển đáng kể cả về chất
và lượng, góp phần quan trọng vào việc hình thành rõ nét các đô thị tại các thị trấn,
thị xã; các công trình hiện đại, quy mô dần dần mọc lên thay thế những công trình
cũ, lạc hậu, xuống cấp không còn phù hợp, không đáp ứng yêu cầu sử dụng và xu
thế phát triển; diện mạo các đô thị, trị trấn, thị xã được đổi thay nhanh chóng, thị xã
Cao Bằng trở thành thành phố - đô thị loại III trực thuộc tỉnh; bộ mặt nông thôn có
nhiều đổi mới, khang trang, hạ tầng cơ sở được đầu tư ngày càng đồng bộ, đời sống
vật chất và tinh thần nhân dân địa phương được nâng cao.
Ngày nay, cùng với phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế Quốc
tế, đất nước ta đang đổi mới và bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vừa
xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vừa phát triển nên kinh tế đất nước, ngành xây
dựng Cao Bằng cần phấn đấu nhiều hơn nữa để đạt trình độ chung của cả nước.
thị hóa; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư; triệt để thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí, thất thoát, tiêu cực, tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch, kiểm soát
sự phát triển của các đô thị theo quy hoạch được duyệt, kiểm soát bảo đảm yêu cầu
phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nhằm từng bước giải quyết dứt điểm
những vấn đề đang rất bức xúc. Quan tâm đến nâng cao chất lượng công trình, an
toàn của công trình xây dựng. Nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng nông thôn
mới, tập trung quy hoạch các thị tứ và xây dựng về cơ bản hạ tầng kỹ thuật, văn hoá
xã hội và dịch vụ. Hình thành các tụ điểm mang tính đô thị ở nông thôn, tạo môi
trường để vùng nông thôn phát triển.
18
CHƯƠNG II.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG NGÀNH XÂY DỰNG
1. Quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ
Trong thời gian qua, việc huy động và sử dụng vốn ngân sách nhà nước và
vốn trái phiếu Chính phủ đã có đóng góp quan trọng vào việc đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do phân
cấp quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt
quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu
Chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm,
hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực của Nhà nước. Trong khi
đó, thời gian tới vốn ngân sách nhà nước rất hạn hẹp, vốn trái phiếu Chính phủ
không thể phát hành tăng thêm so với/2011 để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm
phát, giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, dư
nợ công ở mức cho phép.
Căn cứ Kết luận tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
Chủ tịch Hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước tiếp tục
chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm các quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg
ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn
ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày
10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ
bản tại các địa phương; đồng thời, tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải
pháp
3. Tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương
Thời gian qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau tình trạng nợ đọng xây dựng
cơ bản tại các địa phương diễn ra khá phổ biến và ở mức độ khá nghiêm trọng, gây
ra các hậu quả như: Công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư kém; chủ
đầu tư không có nguồn vốn để thanh toán cho giá trị khối lượng thực hiện; nhiều
doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu nợ lương công nhân, chiếm dụng vốn của nhau,
không ít doanh nghiệp giải thể và phá sản; góp phần làm cho nợ xấu của ngân hàng
tăng lên,... Thực trạng trên đã và đang ảnh hưởng xấu đến an ninh tài chính, an toàn
nợ công và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương nhận thức đúng tác
động bất lợi do nợ đọng xây dựng cơ bản gây ra, tập trung triển khai thực hiện một
số nhiệm vụ, giải pháp để xử lý, khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại
các địa phương
4. Những rào cản và hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả
đầu tư
Trong những/qua, hoạt động đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư đã đạt nhiều
kết quả quan trọng, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, nâng cao trình độ khoa học công
nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo ra
chậm phê duyệt quyết toán theo quy định), gây ảnh hưởng đến việc quản lý vốn đầu
tư của Nhà nước, gây nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài, không tất toán được tài
khoản của dự án, không hạch toán tăng tài sản kịp thời cũng như việc theo dõi,
quản lý tài sản sau đầu tư.
Để xử lý triệt để các vi phạm trong công tác quyết toán vốn đầu tư các dự án
hoàn thành sử dụng vốn Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng
cơ quan Trung ương của các đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng thành viên các Tập đoàn kinh tế, các
Tổng công ty thực hiện ngay một số nhiệm vụ, giải pháp
6. Công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công
Thời gian qua, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Nghị quyết của
Quốc hội, các quy định của Luật Quản lý nợ công, Chính phủ thực hiện thống nhất
21
quản lý nhà nước về nợ công trên cơ sở phân công nhiệm vụ đối với các Bộ, ngành
và địa phương.
Nợ công là nguồn vốn cần thiết và rất quan trọng để bổ sung cho đầu tư phát
triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Rất nhiều công trình kết cấu hạ tầng
về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, điện, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường,...
đã được hoàn thành, phát huy hiệu quả và nhiều chương trình, dự án đang được
triển khai, góp phần thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo thêm việc
làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo
vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao trình độ khoa học, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý và đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Công tác quản lý nợ có chuyển biến, dần tiếp cận gần hơn với thông lệ tốt trên