SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
Mã số: ...........................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN CÔNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2015 – 2016
2
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Công
2. Ngày tháng năm sinh: 17 – 04 – 1969
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
5. Điện thoại: 0613866499(CQ);
3
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
4
SKKN: NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC
SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chương trình môn Ngữ văn bậc THPT hiện hành, các tiết đọc – hiểu
văn bản, trong đó bao gồm cả văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản nhật
dụng, chiếm một số lượng tương đối lớn. Kĩ năng đọc – hiểu văn bản cũng là một
kĩ năng cơ bản mà giáo viên dạy Ngữ văn cần phải hình thành cho học sinh trong
suốt quá trình học tập. Đây cũng là một trong hai kĩ năng quan trọng ( cùng với kĩ
năng viết – tạo lập văn bản ) của học sinh cần thể hiện trong nội dung kiểm tra,
đánh giá thông qua các kì thi mà Bộ GD&ĐT yêu cầu. Chính vì vậy, rèn luyện kĩ
năng đọc – hiểu cho học sinh như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu là điều mà bất cứ
giáo viên dạy Văn nào cũng phải quan tâm.
Vài năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều cải tiến trong công
tác thi cử, các đề văn “mở” hơn và yêu cầu đối với kĩ năng đọc – hiểu của học sinh
cũng được chú ý nhiều hơn. Đặc biệt, từ năm học 2014 – 2015, với sự chỉ đạo “đổi
mới dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng
lực học sinh”, các bài tập đọc - hiểu trở thành một phần không thể thiếu trong các
đề thi, đề kiểm tra. Và như vậy, việc tìm tòi các biện pháp để nâng cao năng lực
đọc hiểu cho học sinh là nhiệm vụ mà người giáo viên dạy Văn phải quan tâm.
Trước đây, chúng tôi cũng đã có một SKKN với đề tài Nâng cao hiệu quả
đọc – hiểu tác phẩm tự sự bằng phương pháp sử dụng sơ đồ, tuy nhiên chỉ giới hạn
vấn đề ở việc giúp HS tăng cường khả năng đọc hiểu các văn bản tự sự dựa trên
đặc điểm thể loại. Với đề tài Nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh
bằng phương pháp sử dụng sơ đồ, chúng tôi mở rộng phạm vi, vận dụng phương
pháp sơ đồ hóa trong giảng dạy đối với nhiều loại văn bản, trong nhiều khâu, nhiều
bước của quá trình học tập và còn hướng đến việc giúp học sinh ứng dụng vào thao
tác tạo lập văn bản. Mục đích cuối cùng là giúp nâng cao năng lực đọc hiểu văn
bản cho học sinh, từ đó cũng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ
văn trong nhà trường.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Về yêu cầu đổi mới dạy học môn Ngữ văn
Theo tinh thần đổi mới: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật Giáo dục số
38/2005/QH11, Điều 28), việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, cũng
như các môn học khác, tiếp tục là yêu cầu cấp thiết phải giải quyết hiện nay.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo
Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng cũng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi
mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”.
Việc đổi mới dạy học môn Ngữ văn, theo tinh thần trên, cũng chuyển từ việc
truyền thụ kiến thức là chủ yếu sang định hướng phát triển năng lực cho người học.
Như ta đã biết, một trong những mục tiêu cơ bản của môn Ngữ văn ở trường
phổ thông là hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng ngôn ngữ, trong
đó có năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập
văn bản (gồm kĩ năng nói và viết). Khái niệm “văn bản” ở đây được hiểu bao gồm
cả văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản nhật dụng.
bảng biểu, hình vẽ, các kí hiệu…
Phương pháp dạy học theo mô hình, sơ đồ thuộc nhóm phương pháp dạy học
trực quan. Sử dụng phương pháp này phối hợp với phương pháp thuyết trình hoặc
vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả.
Liên quan đến dạy học bằng sơ đồ, có một khái niệm được nhắc đến nhiều
trong thời gian gần đây. Đó là sơ đồ tư duy (hay còn gọi là bản đồ tư duy - Mind
Map) của Tony Buzan. Đây là hình thức ghi chép có sử dụng màu sắc, hình ảnh
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Sơ đồ tư duy có cấu tạo giống như một chú
bạch tuộc có thân ở giữa và những chiếc xúc tu (vòi) xung quanh, hoặc như một
cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh. “Cái cây” ở giữa sơ đồ là một ý
tưởng chính hay hình ảnh trung tâm. Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn
đề liên quan với ý tưởng chính. Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh
nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ
sâu hơn. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối
kết với nhau. Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung
tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
7
Khi nghe giảng bài, nghe thuyết trình, đọc sách… người đọc, người học có
thể ghi tóm lược lại nội dung theo cách hiểu của cá nhân bằng sơ đồ tư duy. “Ghi”
bằng sơ đồ tư duy là chỉ ghi các ý chính, trọng tâm, viết tắt bằng những chữ cái,
hình vẽ, cụm từ, không ghi nguyên văn cả câu, ghi nhớ theo cách hiểu, cách bố cục
riêng của từng người. Từ một hình ảnh trung tâm hoặc một từ khóa trung tâm,
người ghi có thể tạo ra nhiều nhánh lớn để ghi lại các ý chính, các sự kiện quan
trọng, từ mỗi nhánh lớn có thể tạo thêm nhiều nhánh nhỏ để ghi lại những chi tiết
đồ vào việc đọc và hiểu nội dung văn bản, trước hết ở khâu tóm tắt văn bản, sau đó
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
8
là hiểu nội dung ý nghĩa của văn bản hoặc khái quát hóa nội dung ý nghĩa của văn
bản.
Điều mà chúng tôi đặc biệt lưu ý trong SKKN này là việc ghi sơ đồ, đọc sơ
đồ phải bám sát đặc trưng thể loại của văn bản.
Đối với văn bản tự sự, chúng tôi nhận thấy có thể sử dụng sơ đồ trong nhiều
phạm vi phân tích tác phẩm, đặc biệt là trong các bước tóm tắt và phân tích cốt
truyện.
Về cốt truyện, truyện trung đại truyền thống thường đầy đủ các thành phần
(trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút ), dù là một hay nhiều sự kiện thì
vẫn chỉ được xâu chuỗi theo thời gian, không được mô tả trong quan hệ mở rộng
không gian… Do đó, việc đọc và sơ đồ hóa cốt truyện phải dựa trên sườn sự kiện,
sự việc vốn được thuật lại theo trình tự thời gian.
So với truyện trung đại, việc tóm tắt cốt truyện của truyện hiện đại có khó
hơn. Ở các truyện hiện đại, kết cấu truyện có nhiều sáng tạo đa dạng với các thủ
pháp đảo lộn, đồng hiện, thu hẹp hoặc nới rộng thời gian, không gian… Câu
chuyện có khi được triển khai với nhiều mạch chuyện xen kẽ nhau, không theo
trình tự tuyến tính.
Trong trường hợp này, cần hướng dẫn học sinh dùng sơ đồ tóm tắt các bước
phát triển của cốt truyện dựa vào tình huống truyện, những sự kiện nổi bật, những
diễn biến của số phận các nhân vật chính. Khi sơ đồ hóa cốt truyện, cần bám vào
nhân vật chính để làm nổi rõ từng giai đoạn phát triển của nó. Mặt khác, khi tóm
tắt cốt truyện cần quan tâm đến những chi tiết, sự kiện tạo bước ngoặt trong cuộc
1. Giải pháp 1: Sử dụng sơ đồ trong đọc hiểu nội dung các văn bản dựa
trên đặc trưng thể loại
1.1. Sử dụng sơ đồ trong việc tóm tắt nội dung văn bản
1.1.1. Đối với văn bản tự sự
Như đã nêu, do đặc điểm của thể loại tự sự, khi dạy các văn bản loại này,
giáo viên luôn phải hướng dẫn học sinh thực hiện việc tóm tắt cốt truyện.
Có nhiều cách tóm tắt cốt truyện: dựa theo tiến trình vận động của các sự
kiện chính, dựa theo số phận của nhân vật chính… Tùy theo từng tác phẩm cụ thể,
căn cứ vào đặc điểm thể loại, giáo viên viên hướng dẫn học sinh lựa chọn cách
“ghi” sơ đồ hiệu quả nhất.
Ví dụ 1: Tóm tắt văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng
Thủy ( Sách Ngữ văn 10, tập 1).
Như ta đã biết, kết cấu của truyện có hai phần chính: phần một kể về An
Dương Vương xây thành Cổ Loa, chế nỏ thần, chống giặc Triệu Đà, phần hai tập
trung kể về mối tình Mị Châu – Trọng Thủy.
Cần cho học sinh thấy được cốt lõi lịch sử của câu chuyện ( một tiêu chí
quan trọng để phân biệt với cổ tích ). Cốt lõi lịch sử này chủ yếu nằm ở phần một
của truyện. Với việc xây dựng thành Cổ Loa, nhân vật An Dương Vương mang
dáng dấp của một nhân vật anh hùng văn hóa nhưng với việc chế nỏ, chống giặc,
An Dương Vương là một nhân vật anh hùng lịch sử. An Dương Vương – dưới cái
nhìn của nhân dân – là người có công lao lớn đối với đất nước nên được ngưỡng
mộ và tôn thờ như một anh hùng
Ở phần hai của truyện, chất truyền thuyết đã có sự biến đổi do sự xâm nhập
của yếu tố cổ tích vào cốt truyện, cùng với đó là sự đan cài thêm chủ đề quan hệ
gia đình vào chủ đề giữ nước, chống giặc ngoại. Sự đan cài này làm cho ý nghĩa
của truyện không chỉ là một bản anh hùng ca dựng nước, giữ nước mà còn đặt vấn
đề về mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và vận mệnh đất nước.
Với định hướng trên, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh “ghi” tóm tắt theo
sơ đồ sau:
_________________________________________________________________
TRIỆU
ĐÀ
TRỘM
Kết
Trọng
hôn ĐÁNH Thủy
Mị
Châu
THUA
CHẠY
Cầu cứu
XUỐNG
BIỂN( đã
CHÉM MỊ CHÂU
Giếng
dùng trong SKKN năm học 2013 – 2014 )
Tự tử
Ngọ
trước
muốn
đi chơi
nh
ớ
cảnh tết, tiếng
sáo, rượu…
Tết
dâu
gạt nợ
nợ
MỊ
trâu ngựa
cứu A Phủ
khóc, muốn
tự tử
Nghèo
lão Thuyên
mua thuốc
vợ chồng lão
( đã dùng
con ăn
bánh Bị trói
HỒNG
mọi người
phạt
vạ
quán trà
2014 )
A
PHỦ
mất bò
Nghèo,
Ví dụ 3: Tóm tắt truyện Thuốc ( mồ
Lỗ côi
Tấn )
Thuyên
Trong truyện, hình tượng trung tâm là chiếc bánh bao tẩm máu người
THUỐC
(thuốc),
liênlaoquan đến(bánh
ho
a
12
1.1.2. Đối với các loại văn bản khác
- Kịch bản văn học, giống như tác phẩm truyện là có hệ thống nhân vật, sự
kiện, được trình bày qua các bước: thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút... Do vậy
cách ghi sơ đồ tóm tắt cũng Trương
tương tự
cần bám
Ba như
bị bắttác
chếtphẩm
nhầm, truyện,
sống lại trong
trong sát sự phát
triển của hành
Thắt nút
động kịch, thể hiện được mâuthân
thuẫn
kịch.
xác hàng thịt
thân xác hàng thịt
Ví dụ: Có thể ghi tóm tắt “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” ( đoạn trích SGK
Ngữ văn 12, tập 2) như sau:Vợ hàng thịt đòi chồng, lí trưởng sách nhiễu, người thân
Phát
triển
13
- Đối với văn bản nghị luận, quan trọng nhất là sơ đồ tóm tắt phải thể hiện
được hệ thống luận điểm. Giữa các phần trong bố cục của một văn bản nghị luận
luôn có sự liên kết chặt chẽ. Không chỉ đơn giản là sự tiếp nối của các phần Mở
bài, Thân bài và Kết luận, có một mạch ngầm liên kết được tạo ra bởi sự triển khai
hệ thống luận điểm suốt toàn văn bản. Chỉ cho học sinh thấy được mạch ngầm liên
kết các lí lẽ của văn bản là điều cần thiết.
Ví dụ 1: Tóm tắt hệ thống lập luận của “Tuyên ngôn độc lập”.
Về kết cấu, hệ thống lí lẽ trong “Tuyên ngôn độc lập” được xâu chuỗi qua
các luận điểm cơ bản được sơ đồ hóa như sau:
Luận điểm 1: Cơ sở nền độc lập của Việt Nam là những
quyền lợi cơ bản của con người và quyền độc lập, tự quyết
của các dân tộc.
Luận điểm 2: Tố cáo tội ác của Td Pháp, chứng minh một
cách thuyết phục là Td Pháp không có bất kì cơ sở pháp lí
hay đạo lí nào đối với nhân dân Việt Nam, từ đó bác bỏ luận
điệu có công “khai hóa” và “bảo hộ” của chúng.
Luận điểm 3: Chính nghĩa sáng ngời của dân tộc ta. Nền độc
lập của Việt Nam được đồng thời khẳng định trên hai
phương diện pháp lí và đạo lí
Luận điểm 4: Tuyên ngôn về nền độc lập của Việt Nam.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1
– 12 – 2003”, giáo viên có thể liên hệ với cấu trúc của một bài NLXH về một hiện
tượng đời sống. Kết cấu của văn bản này có thể được mô tả theo bảng sau:
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
Từ mô hình kết cấu trên, học sinh có thể vận dụng vào một bài NLXH, giả
định là bàn về đại dịch HIV/AIDS hay một hiểm họa môi trường chẳng hạn.
1.2. Sử dụng sơ đồ trong việc tìm hiểu ý nghĩa văn bản
Không chỉ được vận dụng trong việc tóm tắt nội dung văn bản, sơ đồ cũng
được dùng rất hiệu quả trong khâu tìm hiểu, lí giải ý nghĩa nội dung của văn bản.
1.2.1. Trong quá trình đọc hiểu tác phẩm tự sự, việc tóm tắt và nắm vững cốt
truyện chỉ là bước mở đầu. Giáo viên sẽ phải hướng dẫn học sinh phân tích tình
huống truyện, số phận và tính cách nhân vật, ý nghĩa của các chi tiết nghệ thuật nổi
bật…
Việc sơ đồ hóa các nội dung trên cũngLần
là một
biện pháp giúp khắc sâu kiến
1
Lần 2
thức cho học sinh.
chọc ghẹo
4 bát
Bối cảnh
bánh
đúc
Ví dụ 1: Sơ đồ hóa tình huống truyện trong “Vợ nhặt”
nạn đói
-Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây
Gặpdựng
gỡ được mộtlờitình
nói huống
làm quen
đùangụ cư,
truyện độc đáo: Nhân vật Tràng, một anh nông dân nghèo
xấu xí, lại là dân
bất ngờ…
15
Ví dụ 2: Tóm tắt ý nghĩa hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người trong
truyện Thuốc ( Lỗ Tấn ). Trường hợp này có thể dùng bảng tóm tắt như sau:
Con bệnh
Bệnh
Bé Thuyên
Bệnh lao/
bệnh thể xác
Người dân
Bệnh tinh thần
Người cách
mạng
Bệnh tinh thần
Thuốc
Bánh bao
tẩm máu
Cách chữa
16
được bề sâu phức tạp của cuộc đời mà tâm điểm là con người với biết bao cảnh
ngộ éo le, vất vả nhưng cũng đầy ý nghĩa.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh ghi tóm tắt như sau:
CHẤT THƠ
NGHỆ THUẬT
MÀU HỒNG
HỒNG…
NHÌN KĨ
BỨC ẢNH
LAM LŨ,
KHỐN KHÓ
HÌNH ẢNH
NGƯỜI ĐÀN BÀ
SỰ THẬT
CUỘC ĐỜI
1.2.2. Đối với các thể loại văn bản khác như kí, thơ trữ tình, do đặc điểm thể
loại, tùy vào từng tác phẩm, giáo viên có cách khai thác ý nghĩa hình tượng bằng
những sơ đồ phù hợp.
Ví dụ 1: Sơ đồ hóa vẻ đẹp đầy nữ tính của sông Hương trong bút kí Ai đã
đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
nước
Ví dụ 2: Sơ đồ hóa mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Từ ấy
(Tố Hữu)
Niềm vui lớn
Ánh sáng lí tưởng đã mở ra trong tâm
hồn nhà thơ 1 chân trời mới về nhận
thức, tư tưởng và tình cảm (giác ngộ lí
tưởng CM)
Lẽ sống lớn
Có ý thức tự nguyện và quyết tâm vượt
qua cái tôi cá nhân để sống với cái ta
chung, với quần chúng nhân dân
Tình cảm lớn
Lẽ sống mới giúp nhà thơ tự xác định
cho mình là thành viên thân thiết trong
đại gia đình quần chúng lao khổ
2. Giải pháp 2: Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong việc ôn tập, củng cố kiến
thức
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu
trong việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức là rất thuận lợi. Có thể dùng bảng tóm tắt
để hệ thống hóa kiến thức văn học sử về một giai đoạn văn học, về một tác gia văn
học… Có thể dùng sơ đồ để so sánh, đối chiếu về hai giai đoạn văn học, hai phong
A Phủ
Tóm tắt
Cuộc đời của Mị và Số phận người dân
A Phủ ở Hồng Ngài miền núi dưới chế
bị áp bức, bóc lột… độ cũ và con đường
Cuộc sống mới từ tự giải phóng của họ
khi bỏ trốn
Phiềng Sa…
Vợ nhặt
…
Rừng xà nu
…
…
Chủ đề
…
đến
…
Những
đứa …
Miêu tả
Tái hiện các tính chất, thuộc tính Văn tả cảnh, tả người, tả sự vật;
sự vật, hiện tượng làm cho chúng Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm
hiển hiện trước mắt…
tự sự
Biểu cảm Bày tỏ tình cảm, cảm xúc của Tác phẩm văn học: thơ trữ tình,
con người đ/v con người, sự vật, tùy bút, bút kí…
thiên nhiên, xã hội…
Thư từ biểu hiện tình cảm giữa
người với người…
Thuyết
minh
Trình bày thuộc tính, cấu tạo,
nguyên nhân, kết quả, tính có ích
hoặc có hại của sự vật, hiện
tượng. Từ đó cung cấp tri thức
cho người đọc.
Bản thuyết minh sản phẩm hàng
hóa
Lời giới thiệu di tích, thắng cảnh,
nhân vật
Văn bản trình bày tri thức trong
KHTN và XH
Nghị
Những biểu hiện của giá
trị nhân đạo trong
Vợ chồng A Phủ và
Vợ nhặt
Đồng cảm,
xót thương
cho số phận
bất hạnh của
người dân
lao động
Lên án, tố cáo
tội ác của bọn
thống trị
Phát hiện, ca
ngợi những
phẩm chất của
người lao động
Thấy được
khả năng đổi
đời nhờ CM
của người
lao động
2.2. Sử dụng sơ đồ, bảng biểu (dạng khuyết, thiếu) để kiểm tra kiến thức
đã học
…
…
Tình cảm gia đình, đồng …
đội…
…
Ví dụ 2: Giáo viên cho sơ đồ dạng khuyết để ôn tập, kiểm tra kiến thức về 1
nội dung trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: vẻ đẹp của hình tượng người
lính Tây Tiến. Yêu cầu HS suy nghĩ, lựa chọn và điền thông tin theo gợi ý sau:
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
21
???
Câu thơ dẫn chứng?
Vd: Chiến trường đi
chẳng tiếc đời xanh
Câu thơ dẫn chứng?
Vd: ???
Vẻ đẹp của
Vẻ đẹp của
người lính
Tây Tiến
Câu thơ dẫn chứng?
Vd: Đêm mơ Hà Nội
dáng kiều thơm
Tâm hồn hào
hoa, đa cảm,
lãng mạn
3. Giải pháp 3: Sử dụng mô hình cấu trúc trong việc hướng dẫn HS tạo
lập đoạn văn hoặc các văn bản ngắn
Năng lực đọc hiểu của học sinh còn thể hiện ở việc tạo lập văn bản. Tuy
nhiên, khi thực hành, HS trung bình và yếu thường tỏ ra rất lúng túng, đặc biệt
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
22
trong việc khai triển đoạn. Do các em không hình dung được cấu trúc của đoạn văn
sẽ viết nên khi viết thường “nghĩ đến đâu viết đến đấy”, dẫn đến đoạn văn rất lủng
củng. Với giải pháp này, giáo viên dễ dàng hướng dẫn học sinh luyện viết các đoạn
văn ngắn.
Các bước tiến hành:
+ Mô hình hóa các thành phần nội dung cần thể hiện
người lính Tây Tiến có vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn nhưng cũng rất anh hùng.
Cấu trúc mở rộng :
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
23
Quang Dũng là một trong những gương mặt nổi bật của thơ ca Việt
Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
Là một nghệ sĩ đa tài, ông không chỉ viết văn, làm thơ mà còn vẽ
tranh, soạn nhạc.
Nói đến sự nghiệp thơ ca của ông, người đọc không thể không nhắc
đến bài “Tây Tiến” nổi tiếng.
Đây cũng được xem là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ lãng mạn,
phóng khoáng và tài hoa của nhà thơ vốn được mệnh danh là thi sĩ của “xứ Đoài
mây trắng”.
Trong bài thơ, tác giả đã khắc họa thành công hình tượng người lính
Tây Tiến có vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn nhưng cũng rất anh hùng.
Mô hình trên cũng có thể được vận dụng khi hướng dẫn học sinh trung bình, yếu
viết mở bài cho các đề bài NLXH :
Dẫn dắt
Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề sẽ nghị luận
Nêu luận đề
rèn luyện mới thành công”.
Câu thơ của Bác đã nêu lên một quan niệm hết sức đúng đắn, là một bài
học quý giá cho tất cả những ai muốn có thành công trong cuộc đời.
3.2. Vận dụng viết đoạn văn bản ngắn trong bài tập đọc hiểu
Các bài tập đọc hiểu thường có yêu cầu học sinh thể hiện cảm nhận của
mình trong một đoạn ngắn ( 5 – 7 dòng) về vấn đề nêu trong văn bản.
Để giúp học sinh bớt lúng túng, tránh mất thời gian, giáo viên nên hướng
dẫn học sinh tập viết bằng các bước sau:
- Xác định chủ đề cần viết (thường liên quan đến một nội dung của văn
bản đã cho)
- Viết đoạn ngắn theo 1 trong 2 kiểu diễn dịch hoặc tổng – phân – hợp
(theo kinh ngiệm của giáo viên thì đây là 2 cấu trúc mà HS dễ thực hiện
hơn cả)
+ Đoạn diễn dịch thường có mô hình:
A + B,C,D…
( trong đó A là câu chủ đề; B,C,D… là các câu khai triển bậc 1)
+ Đoạn tổng – phân – hợp thường có mô hình:
A + B,C,D… + A’
( trong đó A là câu chủ đề để giới thiệu đoạn văn; B,C,D…là các câu giải
thích hoặc làm rõ ý tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng,
lí lẽ có liên quan; A’ là câu kết đoạn bằng cách nhắc lại nội dung/ ý tưởng chính)
Ví dụ 1: Yêu cầu HS nêu 2 tác dụng của việc tự học theo quan điểm riêng
của mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. ( mục Đọc hiểu, Đề thi minh họa-kỳ thi
THPT quốc gia năm 2015 )
- HS xác định 2 ý chủ đề ( tương ứng với 2 tác dụng của tự học ):
tự học giúp cho ta có được kiến thức một các vững chắc nhất;
tự học còn giúp ta rèn luyện tính độc lập trong tư duy.
- Triển khai từng ý chủ đề nêu trên theo lối diễn dịch:
khả năng chủ động, sáng tạo, tăng cường năng lực phân tích, tổng hợp để từ đó dần
hình thành cho mình lối tư duy khoa học… Học sinh cũng từng bước được nâng
cao kĩ năng đọc – hiểu văn bản. Trong quá trình luyện tập, học sinh được tự mình
thể nghiệm, tạo lập những sơ đồ khác nhau nên cũng có hứng thú học tập nhiều
hơn, từ đó có thêm sự yêu thích đối với việc học tập bộ môn Văn.
Thông qua quá trình giảng dạy, giáo viên có thêm tư liệu bổ sung cho
phương pháp, kĩ thuật dạy học làm phong phú nội dung bài dạy.
Việc hướng dẫn học sinh tạo lập sơ đồ theo đặc điểm thi pháp thể loại của
văn bản cũng giúp giáo viên kết hợp cung cấp tri thức về thể loại cho học sinh, đáp
ứng được yêu cầu của Chuẩn kiến thức, kĩ năng do Bộ GD&ĐT ban hành.
Trong quá trình giảng dạy của bản thân, chất lượng các giờ dạy đọc hiểu
được nâng lên thấy rõ. Học sinh chủ động, sáng tạo hơn trong giờ học, nắm kĩ, nhớ
lâu các nội dung cần thiết. Nếu trước đây học sinh rất lúng túng, cảm thấy khó học,
khó nhớ thì nay đã có tiến bộ hơn nhiều.
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên