Tiểu luận những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất khẩu thuỷ sản của VN vào thị trường EU và mỹ - Pdf 37

MỤC LỤC
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ.............................................................................................5
I.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN............................................5
I.1.1. Khái niệm và vai trò của hàng rào phi thuế quan.........................................................5
I.1.2. Các loại hàng rào phi thuế quan...................................................................................5
II.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN
QUA 19


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với liên minh Châu Âu
(EU) vào ngày 20/10/1990, (kí hợp đồng buôn bán hàng dệt may với EU ngày
15/12/1992) và hiệp định khung với EU ngày 17/7/1995. Các sự kiện quan trọng
trên chính là yếu tố thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh
Châu Âu phát triển mạnh trên cả ba lĩnh vực : thương mại, đầu tư và viện trợ,
đặc biệt là lĩnh vực thương mại.
Hiện nay EU thực sự là thị trường tiềm năng của Việt Nam. Điều này
được thể hiện ở chỗ EU là một trong những trung tâm tiêu thụ lớn trên thế giới,
có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa, nhu cầu nhập khẩu hàng năm
của EU về những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là rất lớn. Đồng
thời chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam đang dần hoàn thiện. Hơn
nữa EU là khu vực phát triển kinh tế khá ổn định trên thế giới, cùng với sự ra
đời của đồng EURO, vị thế của EU ngày càng được nâng cao trên trường quốc
tế. Tại thời điểm này, Việt Nam lại đang thực hiện chiến lược “Công nghiệp hóa
hướng vào xuất khẩu”. Do vậy, thị trường EU là môi trường lí tưởng cho các
nhà xuất khẩu Việt Nam thể hiên sức mạnh của mình.
Bên cạnh đó, một thị trường tiềm năng không kém thị trường EU là Hoa
Kỳ. Kể từ ngày B.Clinton ký quyết định xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam,
từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm vượt qua hàng rào phi thuế
quan của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ.
b.Mục tiêu cụ thể
-Tìm hiểu những rào cản phi thuế, cụ thể ở thị trường EU và Mỹ.
-Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam và tìm ra các nguyên
nhân chủ yếu.
-Đề xuất định hướng và đưa ra một số giải pháp cụ thể để vượt qua hàng
rào phi thuế quan của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam trên hai thị trường EU
và Mỹ.

3


3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

a.Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan về xuất khẩu hàng thủy
sản và một số hàng rào phi thuế quan.
b.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Tập trung vào nghiên cứu hàng rào phi thuế quan và
các giải pháp vượt qua các hàng rào phi thuế quan của hàng xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam trên hai thị trường EU và Mỹ.
Phạm vi về thời gian: tìm hiểu vấn đề chủ yếu qua các năm 2000 - 2006

4


PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN
VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ

I.1.2.1. Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu được hiểu là quy định của Nhà nước về số
lượng cao nhất của một mặt hàng hoặc một nhóm hàng được phép
nhập khẩu từ thị trường nhất định trong một khoảng thời gian nhất
định thông qua hình thức cấp giấy phép.
Hạn ngạch nhập khẩu đưa tới sự hạn chế số lượng hàng nhập khẩu
đồng thời gây ra ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hóa, do mức
cung hàng hóa thấp đi làm cho giá cân bằng cao hơn so với giá
trong thương mại tự do. Hạn ngạch nhập khẩu tạo điều kiện cho các
nhà sản xuất trong nước thực hiện quy mô sản xuất với hiệu quả
thấp hơn so với điều kiện thương mại tự do. Hạn ngạch nhập khẩu
là một công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược sản xuất thay
thuế nhập khẩu bảo hộ nền sản xuất nội địa.
I.1.2.2. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là biện pháp hạn chế xuất khẩu mà
theo đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải
hạn chế bớt lượng hàng xuất sang nước mình một cách “tự
nguyện”, nếu không các quốc gia nhập khẩu sẽ áp dụng các biện
pháp cần thiết để buộc các quốc gia xuất khẩu phải giảm bớt số
lượng hàng hóa xuất khẩu sang nước mình.
Thực chất hạn chế xuất khẩu tự nguyện là những cuộc thương
lượng mậu dịch giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu để hạn chế
bớt sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu nhằm thực hiện những
mục tiêu nhất định ở các nước nhập khẩu, chẳng hạn: tạo công ăn
việc làm, bảo hộ những ngành công nghiệp non trẻ có tiềm năng...
Khi thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện nó có tác động kinh tế
tương tự như hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên hạn ngạch nhập khẩu
mang tính chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường
trong nước còn hạn chế xuất khẩu tự nguyện thực ra mang tính
6

7


Tổ chức thương mại thế giới không cho phép xác định trị giá tính
thuế quan theo giá nhập khẩu tối thiểu và giá bán trong nước của
hàng hóa tương tự được sản xuất tại nước nhập khẩu. Giá bán tối đa
trong nước đối với một hàng hóa nào đó cũng có thể hạn chế nhập
khẩu. Chính vì vậy Tổ chức thương mại thế giới thừa nhận các biện
pháp quản lý giá tối đa dù cho có phù hợp với nguyên tắc không
phân biệt đối sử cũng có thể tác động xấu tới lợi ích của các nước
thành viên xuất khẩu.
I.1.2.4. Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp
Với các hình thức sở hữu khác nhau nếu Nhà nước ban cho doanh
nghiệp Nhà nước những độc quyền nhất định thì có thể gây ra
những trở ngại nhất định đối với hoạt động thương mại quốc tế.
Các doanh nghiệp Nhà nước được quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu đã tạo ra một rào cản đối với hoạt động mua bán trên thị
trường thế giới. Các nước sử dụng biện pháp này thường cho rằng
họ cần phải bình ổn giá cả và khối lượng của các mặt hàng có ảnh
hưởng lớn đến các cân đối lớn của nền kinh tế. Tuy nhiên trên thực
tế biện pháp này đã hạn chế quyền kinh doanh xuất nhập khẩu tạo
độc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định.
I.1.2.5. Biện pháp liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đều là những quy định về
vệ sinh đo lường, an toàn lao động, bao bì, đóng gói ….Các tiêu
chuẩn này thường được các nước áp dụng, một mặt chúng tạo thuận
lợi cho thương mại quốc tế bằng cách giúp cho người mua đánh giá
được quy cách chất lượng sản phẩm, mặt khác chúng dễ trở thành
rào cản thương mại nếu quá khác biệt giữa các nước.
Trên thực tế một sản phẩm nhập khẩu nếu không đáp ứng được các

Liên minh Châu Âu (EU) ngày nay được xem như một đại quốc gia ở
Châu Âu, bởi vậy chính sách thương mại của EU cũng giống như chính sách
thương mại của một quốc gia, gồm: chính sách thương mại nội khối, chính sách
ngoại thương và quy chế nhập khẩu chung của EU .
I.2.1.1. Chính sách thương mại nội khối
Chính sách này tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị trường chung
Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải
quan (xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan) để tự do lưu thông hàng hóa,
sức lao động, dịch vụ và vốn, điều hòa các chính sách kinh tế xã hội của các
nước thành viên.
I.2.1.2. Chính sách ngoại thương của EU
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương
chung đối với các nước ngoài khối. Ủy ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy
nhất cho liên minh trong việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại và dàn
xếp tranh chấp trong lĩnh vực này.
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và
chính sách thương mại dựa trên cơ sở hiệp định. Các biện pháp được áp dụng
phổ biến trong chính sách này là: thuế quan, hạn chế về số lượng (Quota), hàng
rào kỹ thuật (TBT: Technical Barrier to Trade), hàng rào an thực phẩm và dịch

10


bệnh thủy sản (SPS: Sanitary and Phitosanitary), chống bán phá giá
(Untidumping), và trợ cấp xuất khẩu.
Hiện nay, 25 nước thành viên EU (bao gồm 15 nước cũ và 10 nước mới
gia nhập ngày 1/5/2004) đều áp dụng một biểu thuế quan chung đối với hàng
hóa xuất nhập khẩu, EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa: đẩy
mạnh tự do hóa thương mại (giảm thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu
và tiến tới xóa bỏ hạn ngạch). Đối với hàng hóa xuất khẩu vào EU, mức thuế

những rào cản khó vượt qua đối với hàng xuất khẩu của các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam.
Quy chế nhập khẩu chung của EU chính là quy định cụ thể để thực hiện
chính sách nhập khẩu của EU như sau:
i. Về thuế
1. Thuế nhập khẩu: một trong những việc đáng chú ý nhất của việc hình
thành thị trường chung là các thủ tục thông quan đồng nhất và thuế nhập khẩu
chỉ phải thanh toán tại cảng vào EU. Khi đã vào EU thì không cần các thủ tục
thông quan tại biên giới nội địa. Bởi vậy, hàng có thể được vận chuyển nhanh
với giá cước rẻ trong phạm vi EU.
Thuế nhập khẩu được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu vào
EU. Nhờ chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập và các hiệp định thương mại
mà xuất khẩu từ các nước đang phát triển có thể miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu
một mức thuế thấp. Trong các trường hợp đặc biệt, hàng hóa có thể được miễn
thuế vì các lý do khác nhau: vận chuyển hàng mẫu không có giá thương mại,
hàng hóa để sửa chữa hoặc các sản phẩm nhập khẩu tạm thời.
2. Thuế nhằm bảo hộ
Các sản phẩm thực phẩm: chính sách nông nghiệp chung (CAP) đã được
ban hành và thực thi ở EU trong nỗ lực để bảo hộ sản xuất thực phẩm nội địa.
Một đặc điểm quan trọng của CAP là hệ thống thuế. Các loại thuế được hợp
nhất thành hệ thống giá khởi điểm. Nếu giá nhập khẩu nằm dưới giá khởi điểm
tối thiểu, một mức thuế bổ sung được đánh thêm vào thuế hải quan.
Thuế chống bán phá giá: thuế chống bán phá giá là thuế đánh vào các sản
phẩm nhập khẩu được bán ở EU với mức giá thấp hơn so với mức giá được bán
12


ở các nước sản xuất. Khi các sản phẩm nhập khẩu gây ảnh hưởng tiêu cực
nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp nội địa của EU, ngành công nghiệp này
có thể gửi đơn kiện đến Brussels. Nếu qua điều tra nhận thấy có hiện tượng bán

như hoa quả. Điều đó có nghĩa là giấy chứng nhận phải được cung cấp bởi nước
có sản phẩm xuất khẩu trong điều kiện đảm bảo sức khỏe. Sản phẩm phải được
giám định bởi cơ quan giám định thực phẩm có thẩm quyền của nước sản xuất
để đảm bảo rằng không bị côn trùng và dịch bệnh.
v. Lệnh cấm
EU ban hành lệnh cấm đối với một số sản phẩm, điều này có nghĩa là sản
phẩm nhập khẩu bị cấm hoặc chỉ cho phép trong những điều kiện nhất định.
Lệnh cấm này chủ yếu được áp dụng đối với việc mua bán các sản phẩm nguy
hiểm như: phế thải hóa chất, thuốc tân dược, thuốc trừ sâu. Thực phẩm, cây
trồng và vật nuôi nhập khẩu cũng có thể là đối tượng bị cấm trên cơ sở cân nhắc
về an toàn và sức khỏe. Các luật quốc tế đối với sản phẩm này là: luật về chất
thải hóa chất và công ước thương mại quốc tế về các loại hàng hóa gây nguy
hiểm.
vi. Chính sách hóa chất – rào cản mới của EU
Ủy ban Châu Âu (EC) đang chuẩn bị ban hành chính sách hóa chất trên
lãnh thổ EU nhằm ngăn ngừa tác hại của hóa chất đối với sức khỏe con người và
môi trường. Theo đó, chính sách mới sẽ ban hành những quy định về đăng ký,
kiểm tra, cấp phép và hạn chế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu hành
và sử dụng hóa chất được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào và hóa chất để xử lý
nguyên liệu trong quá trình sản xuất.
I.2.2. Chính sách thương mại của Mỹ
Dù là một nước chủ trương tự do hóa thương mại, nhưng Mỹ cũng có
những chính sách về nhập khẩu nhằm bảo vệ người tiêu dùng và sản xuất trong
nước.
I.2.2.1. Quy định về hải quan
Hải quan Mỹ là cơ quan thực thi và áp dụng các quy định của luật thuế
quan và những luật lệ khác của các bộ để điều chỉnh việc nhập khẩu hàng hóa.

14


15


Ngoài ra có một số mặt hàng phải chịu thêm thuế doanh thu hay mua bán
(ngoài thuế quan) như rượu, bia, thuốc lá, nước hoa và các sản phẩm dầu khí.
b) Lệ phí
Lệ phí gồm có: phí xử lý hàng và phí bảo dưỡng cảng.
Phí xử lý hàng: được đánh vào từng chuyến tàu hàng. Biểu thuế dành cho
việc nhập hàng chính thức (tức là hàng có giá trị trên 1500 USD, gọi là hàng
mậu dịch) liệt kê các loại phí khác nhau từ 21 đến 400 USD cho mỗi lần nhập
cùng với một số phí đánh theo tỷ lệ của món hàng này là 19%. Cũng chi phí này
nhưng cho loại hàng hóa nhập không chính thức (tức là phi mậu dịch) thì mức
phí là 2 USD cho hàng xử lý bằng máy, 4 USD cho hàng xử lý bằng tay mà
không phải do hải quan Mỹ làm và 8 USD do họ làm. Giá trị cho hàng phi mậu
dịch lớn nhất là 2500 USD. Một vài mặt hàng như vải sợi không được nhập theo
lối phi mậu dịch và nếu có thì giá trị tối đa cũng rất thấp.
Phí bảo dưỡng cảng: là phí tính theo giá trị % của chuyến tàu hàng nhập
vào, phí này là 0,125% trên giá trị tiền hàng và trả hàng quý.
c) Hạn ngạch (quota)
Hạn ngạch là sự kiểm soát về mặt số lượng hàng nhập khẩu trong một thời
gian nhất định vào Mỹ. Có một số mặt hàng nằm trong sự hạn chế này theo luật
của Quốc hội, quy định của các cơ quan quản lý theo lệnh của Tổng thống. Có
hai loại hạn ngạch:
• Hạn ngạch ấn định theo mức thuế quan: loại này cho người nhập được
đem vào Mỹ một mặt hàng nhất định nào đó với mức thuế được giảm bớt trong
một khoảng thời gian nhất định. Số hàng nào nhập vào mà vượt quá số lượng
cho phép sẽ bị đánh thuế cao. Các mặt hàng này thường là: sữa, kem, cá hồi…
•Hạn ngạch tuyệt đối: cho phép nhập một số lượng của mặt hàng nào đó
trong một khoảng thời gian nhất định. Hàng đem vào quá hạn ngạch sẽ bị trả về
hay cho vào kho để chờ đưa vào trong thời gian có hiệu lực của hạn ngạch mới.

phẩm đó.
* Ghi dấu đặc biệt: Ngoài những yêu cầu về ghi nước xuất xứ của hàng
hóa, có một số mặt hàng đòi hỏi phải có dấu hiệu đặc biệt như: chữ không được
phai, chữ nổi, chữ lõm cho những mặt hàng như ống sắt hay thép, khung, xi
17


lanh, các dụng cụ kỹ thuật, kéo kim…Có những cơ quan chỉ dẫn việc ghi những
nhãn hiệu đặc biệt này. Trong trường hợp sản phẩm bị ghi sai làm người tiêu thụ
hiểu nhầm sẽ không được nhập khẩu.
g) Các biện pháp hỗ trợ thương mại
* Thuế chống bán phá giá: Luật chống bán phá giá phân tích hành vi định
giá của các nhà sản xuất nước ngoài. Việc phân tích luôn được thực hiện theo
cách riêng biệt đối với từng công ty. Khái niệm đơn giản nhất về chống bán phá
giá tại thị trường Mỹ là bán một sản phẩm ở Mỹ với mức giá thị trường thấp hơn
giá của chính sản phẩm đó tại thị trường nước xuất khẩu. Mỹ sẽ áp dụng quy
định tính tỷ lệ lợi nhuận đặc biệt đối với các nước mà họ coi là nền kinh tế phi
thị trường như Trung Quốc, Việt Nam …Giá sản phẩm ở những nước này không
được công nhận với lý do là nền kinh tế do Chính phủ điều tiết.
Một vấn đề tiếp theo được xem xét là việc xét duyệt hành chính nhằm xác
định mức thuế phá giá thực tế mà người nhập khẩu phải nộp. Nếu chưa được xét
duyệt, khoản tiền mặt đặt cọc nộp cho hải quan Mỹ sẽ chính thức là mức thuế
chống bán phá giá. Việc định giá này có thể được thực hiện hàng năm. Còn một
lệnh chống bán phá giá có thể có hiệu lực vô hạn, mặc dù cứ 5 năm một lần
công tác đánh giá lại được tiến hành.
* Thuế chống trợ giá: Luật pháp Mỹ quy định những hình thức trợ giúp
doanh nghiệp của Chính phủ bao gồm: trợ cấp tiền mặt,trợ cấp xuất khẩu, các
khoản cho vay với lãi suất ưu đãi, các khoản bảo lãnh tín dụng, xóa nợ, giảm
thuế. Giống như trong một vụ điều tra thuế chồng bán phá giá, số tiền trợ cấp
được định lượng và tính theo tỷ lệ % để làm cơ sở áp thuế theo giá hàng vào tất

2003

2004

2005

2006
(ước
tính)

A.Tổng số diện tích nuôi trồng (nghìn ha) 641,9 755,2 797,7 867,6 920,1 959,9
1.Diện tích nước mặn, lợ
397,1 502,2 556,1 612,8 642,3 677,2
Nuôi cá
50,0 24,7 14,3
13,1 11,2 16,5
Nuôi tôm
324,1 454,9 509,6 574,9 598,0 616,9
Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác
22,5 22,4 31,9
24,5 32,7 43,4
Ươm, nuôi giống thuỷ sản
0,5
0,2
0,3
0,3
0,4
0,4
2. Diện tích nước ngọt
244,8 253,0 241,6 254,8 277,8 282,7


Nguồn: Tổng cục Thống kê
19


Những nỗ lực trong việc đổi mới đã đem lại kết quả đáng khích lệ là
ngành thuỷ sản phát triển toàn diện trên các mặt nuôi trồng, khai thác, chế biến
và xuất khẩu.
Cũng từ đầu năm 2006 đến nay, toàn ngành đã khai thác được gần 3,5
triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó sản lượng thu được từ
nuôi trồng thuỷ sản trên 1,5 triệu tấn và còn lại là từ khai thác biển. Tốc độ tăng
bình quân hàng năm của giá trị sản xuất thuỷ sản thời kỳ 1986 – 2006 đạt mức
cao, gần 10%. Theo Bộ Thủy sản, tính đến ngày 24-11, kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của cả nước đã đạt gần 3,1 tỉ USD, bằng 110,06% kế hoạch đề ra cho
cả năm (3 tỉ USD) và tăng 24,45% so với cùng kỳ.
Quá trình tăng trưởng sản lượng thuỷ sản diễn ra đồng thời với quá trình
tăng trưởng diện tích NTTS. Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng nhanh hơn do
năng suất nuôi trồng tăng lên.
Bảng 2:Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường
năm 2005
Thị
trường
Châu Á (không kể Nhật
Bản)
Châu Âu
Mỹ
Nhật Bản
Thị trường khác
Total


II.1.2. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các thị trường
II.1.2.1. Đối với thị trường EU
Từ những năm 1980, sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã xuất
hiện trên thị trường EU dưới một nhãn hiệu chung là Seaprodex. Ngay từ những
năm đầu thâm nhập thị trường EU, sản phẩm thủy sản được xuất khẩu chung với
các sản phẩm nông sản khác với số lượng ít nhưng đã gây được cảm tình của
người tiêu dùng châu Âu. Vào năm 1985, 1986, Công ty xuất nhập khẩu thuỷ
sản Việt Nam SEAPRODEX đã được trao tặng danh hiệu “ Nhãn hiệu sản phẩm
thủy sản uy tín”.
Nhận thức được rằng, quá trình tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, đặc biệt là
tiêu thụ với giá trị gia tăng thông qua xuất khẩu, là động lực bảo đảm cho sự
tăng trưởng và phát triển của các hoạt động sản xuất khai thác và nuôi trồng, bên
cạnh việc giữ vững các thị trường truyền thống, ngành thuỷ sản đã chủ trương
tích cực đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, trong đó EU là một trong những lựa
chọn hàng đầu. Do đây là một thị trường lớn, ổn định, giá tốt nhưng có đòi hỏi
rất cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là sau những vụ ngộ
độc thực phẩm, nên để thu được thành công ở thị trường này, ngành đã xác định
không ngừng nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu trong chiến lược xúc tiến thâm nhập thị trường. Ngành đã hướng
dẫn các doanh nghiệp phấn đầu liên tục nhiền năm để tạo nên những bước
chuyển biến tích cực theo hướng này. Từ Bộ Thuỷ sản đến các doanh nghiệp đã
thực hiện hàng loạt biện pháp, từ cải thiện hệ thống thể chế, hoàn thiện văn bản
quy phạm pháp luật, nâng cao năng lực các cơ quan thẩm quyền, đổi mới cách
tiếp cận trong quản lý chất lượng, an toàn sản phẩm, cho đến đầu tư đổi mới
công nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cấp điều
kiện sản xuất nhằm thoả mãn các điều tương đồng với các nước nhập khẩu về hệ
21


thống pháp lý, năng lực của cơ quan thực thi pháp lý và điều kiện sản xuất của


Từ năm 1996 – 1999, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang
EU tăng rất nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 54,92%. Theo số liệu thống
kê của EU, năm 1996 kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản từ Việt Nam đạt 26,9 triệu
USD, năm 1998 tăng lên 92,5 triệu USD. Theo số liệu thống kê của Trung tâm
Tin học Bộ Thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm
1999 đạt 89,1 triệu. Trong những năm 2000 – 2002, hoạt động xuất khẩu bị
chững lại và có xu hướng giảm sút, sau khi EU tăng cường kiểm tra dư lượng
các chất kháng sinh và hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng các chất này trong
sản phẩm. Nhờ những nỗ lực khắc phục của các cơ quan quản lý, các doanh
nghiệp và nông ngư dân Việt Nam, từ năm 2003, kim ngạch xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng trở lại. Năm 2003, kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU đạt 116, 7 triệu đôla, năm 2004 - 231,5 triệu
đôla, năm 2005 - 367,3 triệu đôla. Hàng thủy sản hiện là mặt hàng có kim ngạch
đứng thứ tư trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU. Tuy
nhiên, cho đến nay, tỷ trọng nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam hàng năm chỉ
bằng 0,3-0,4% trị giá nhập khẩu thủy sản của toàn EU. Khối lượng thuỷ sản xuất
khẩu của Việt Nam vào EU năm 2005 mới đạt gần 120 nghìn tấn, trị giá 380,9
triệu USD, chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước.
Bảng 3: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU
Năm
Kim ngạch
(triệuUSD)
Khối lượng
(tấn)

2000

2001


(Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản)
Sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là cá, tôm, mực, bạch tuộc, cá
ngừ, đồ hộp. Trong giai đoạn từ 2000-2001, mặt hàng có khối lượng nhập khẩu
lớn nhất của EU từ Việt Nam là tôm đông lạnh. Kim ngạch xuất khẩu tôm đông
lạnh năm 2000 đạt 38,6 triệu đôla, năm 2001 - 43,6 triệu đôla. Năm 2002, kim
23


ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam có giảm sút, chỉ còn 15,7 triệu đôla. Thời
gian đó, một số lô tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang EU bị phát hiện có dư
lượng kháng sinh cao quá mức cho phép và bị huỷ, gây thiệt hại lớn cho nhà
xuất khẩu. Nguyên nhân của tình trạng trên là do chúng ta chưa đáp ứng được
yêu cầu vệ sinh thực phẩm từ khâu nuôi trồng đến bàn ăn được công bố trong
Sách Trắng của EU đối với thực phẩm chế biến nhập khẩu. Thực hiện chính
sách bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng EU quy định “cấm” sử dụng 16 loại
hoá chất trong đó có chloramphenicol và nitrofuran có trong thực phẩm, tức phải
hiểu là “dư lượng kháng sinh bằng 0”. Trong thực tế EU cho phép dư lượng
kháng sinh dưới 0,3 phần tỷ là đạt yêu cầu.
Từ năm 2002, thương mại tôm giữa Việt Nam và EU đã có những dấu
hiệu phục hồi và có sự gia tăng cả về giá trị và khối lượng tôm xuất sang thị
trường này trong năm 2003 và 2004. Năm 2003, Việt Nam đã xuất khẩu hơn
5316 tấn tôm sang EU, tăng 28% so với 4000 tấn năm 2002. Năm 2004, tôm
Việt Nam đã thâm nhập mạnh hơn vào các thị trường mới tại khu vực EU, khi
các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam chuyển hướng từ Bỉ, thị trường truyền thống số
một tại EU, sang các thị trường khác như Anh, Đức, Italy. Đối với mặt hàng tôm
của Việt Nam, vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,
ngoài ra không bị cản trở bởi các biện pháp phi quan thuế nào khác.
Cá đông lạnh cũng là mặt hàng có mức tăng xuất khẩu sang EU đều và
đáng kể. Xuất khẩu cá của Việt Nam sang thị trường này đã vượt xa tôm không
những về khối lượng mà cả về giá trị, vươn lên đứng trên Nhật (66 triệu USD

12/2001, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát triển nhảy vọt.
Hiệp định đã tác động rất lớn tới việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản của
Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, đưa Hoa Kỳ trở thành một trong những thị
trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status