ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
-----o0o-----
PHAN THỊ KIM THOA
TỔ CHỨC DẠY HỌC HỢP TÁC THEO
NHÓM CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”
VẬT LÝ LỚP 11 THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS. LÊ THỊ CẨM TÚ
Huế, Khóa học 2012 - 2016
Để hoàn thành được khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến cô giáo ThS. Lê Thò Cẩm Tú, người đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo cho em trong suốt quá trình làm bài nghiên cứu tốt nghiệp.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa
Vật Lý của trường Đại học sư phạm Huế đã tận tình truyền đạt kiến
thức trong quãng thời gian của 4 năm đại học. Đây không chỉ là nền
tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý
báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin hơn.
Với vốn kiến thức còn nhiều hạn chế, khó có thể tránh khỏi
những thiếu sót trong bài nghiên cứu tốt nghiệp, em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài nghiên cứu được
hoàn thiện hơn.
1.5. Cấu trúc của dạy học hợp tác nhóm.....................................................12
1.5.1. Mô hình nhóm thảo luận nhanh..................................................13
1.5.2. Mô hình nhóm học tập STAD (Student Teams Achievements
Division).................................................................................................13
1.5.3. Mô hình nhóm TGT (Team – Game – Tournament)................14
1.5.4. Thực hiện một chuỗi bài tập luân phiên.....................................15
1.5.5. Mô hình nhóm Jigsaw (Ghép hình).............................................15
1.6. Kỹ năng dạy - học hợp tác theo nhóm..................................................16
1.6.1. Kỹ năng học tập hợp tác theo nhóm của học sinh......................16
1.6.2. Kỹ năng dạy học hợp tác theo nhóm của giáo viên...................18
1.7. Ưu điểm hạn chế của phương pháp DHHT..........................................21
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
1.7.1. Ưu điểm........................................................................................21
1.7.2. Hạn chế.........................................................................................22
1.8. Vai trò của phương pháp DHHT..........................................................23
1.8.1. Đối với nhà trường.......................................................................23
1.8.2. Đối với học sinh...........................................................................23
1.8.3. Đối với giáo viên.........................................................................23
1.9. Quy trình tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm.....................................24
1.9.1. Sơ đồ cấu trúc quy trình tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm...24
1.9.2. Quy trình thực hiện......................................................................25
1.9.2.1. Hoạt động của giáo viên.........................................................25
1.9.2.2. Hoạt động của học sinh..........................................................28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................31
CHƯƠNG 2....................................................................................................32
của công nghệ thông tin ở trường trung học phổ thông..............................39
2.4.1. Đối với giáo viên.........................................................................39
2.4.2. Đối với học sinh...........................................................................42
2.4.3. Nguyên nhân của thực trạng........................................................44
2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan.......................................................44
2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan..........................................................44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................46
CHƯƠNG 3....................................................................................................47
TỔ CHỨC DẠY HỌC HỢP TÁC THEO NHÓM CHƯƠNG ....................47
"CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ " VẬT LÍ 11 THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ...................47
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN................................................................47
3.1. Đặc điểm của chương “Cảm ứng điện từ”............................................47
3.2. Cấu trúc logic nội dung các kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”.....48
3.2.1. Sơ đồ cấu trúc logic nội dung chương “Cảm ứng điện từ”........48
3.2.2. Sơ đồ mạch kiến thức chương “ Cảm ứng điện từ”...................50
3.3. Vận dụng quy trình thiết kế bài dạy học hợp tác theo nhóm với sự hỗ
trợ của CNTT chương “Cảm ứng điện từ” Vật lý 11..................................51
3.3.1. Vận dụng quy trình thiết kế bài dạy học hợp tác theo nhóm với
sự hỗ trợ của CNTT trong tổ chức dạy học bài 38. Hiện tượng cảm
ứng điện từ. Suất điện động cảm ứng(2 tiết)........................................51
3.3.2.Vận dụng quy trình thiết kế bài dạy học hợp tác theo nhóm với
sự hỗ trợ của CNTT bài 41. Hiện tượng tự cảm...................................65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................75
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
PHẦN KẾT LUẬN.........................................................................................76
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐTD
CNTT
DHHT
GD&ĐT
GV
HĐDH
HĐNT
HS
HTHT
PHT
PPDH
SGK
THPT
TNMP
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
Bản đồ tư duy
Công nghệ thông tin
Dạy học hợp tác
Giáo dục và Đào tạo
Giáo viên
Hoạt động dạy học
Hoạt động nhận thức
Học sinh
Học tập hợp tác
Phiếu học tập
tác nhóm đôi khi không mang lại hiệu quả.
Hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin nói chung, mà trước hết là
máy vi tính và phần mềm dạy học nói riêng đã mở ra triển vọng to lớn trong việc
đổi mới phương pháp dạy học. CNTT được coi là phương tiện dạy học hữu hiệu
giúp nâng cao hiệu quả dạy học.
Chỉ thị 29/2001/CT- BGD&ĐT của Bộ Giáo dục đã nêu rõ “ Công nghệ
thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương
thức dạy và học. Công nghệ thông tin là phương tiện tiến tới một xã hội học
tập...” Từ đó, việc ứng dụng CNTT trong dạy học ngày càng trở nên rộng rãi ở
các trường phổ thông, các giáo viên đã bắt đầu thực hiện giảng dạy với sự hỗ trợ
của CNTT. Tuy nhiên, thực tế cho thấy CNTT đa phần chỉ được sử dụng để hỗ
trợ người thầy viết bảng bằng các bài trình chiếu đơn giản. Do vậy, giờ học trở
nên khô khan, nhàm chán, ít phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh.
Trong chương trình Vật lí 11 THPT thì phần Điện học là nội dung trọng
tâm, cơ bản. Tuy nhiên, kiến thức phần này lại khó và trừu tượng đối với học
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
sinh, đặc biệt là chương "Cảm ứng điện từ ", giáo viên gặp rất nhiều khó khăn
trong việc hình thành các khái niệm, các định luật cho học sinh. Chính vì vậy,
việc tổ chức dạy học hợp tác nhóm với sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp học sinh
nắm vững kiến thức hơn, tích cực và chủ động hơn trong học tập, từ đó góp phần
nâng cao chất lượng dạy học chương"Cảm ứng điện từ " nói riêng, vật lí lớp 11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tiến trình dạy học chương "Cảm ứng
điện từ" Vật lý 11 THPT thông qua hình thức dạy học hợp tác nhóm với sự hỗ
trợ của CNTT.
7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu Luật giáo dục, văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục
và các tạp chí khoa học về việc nâng cao chất lượng dạy học.
- Nghiên cứu tài liệu về dạy học hợp tác nhóm và ứng dụng CNTT trong
đổi mới phương pháp dạy học.
- Chương trình SGK Vật lý 11 THPT
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Đàm thoại với GV, HS để tìm hiểu thực trạng dạy học chương "Cảm ứng
điện từ" Vật lý 11 THPT.
- Nghiên cứu khả năng hỗ trợ của CNTT trong dạy học chương"Cảm ứng
điện từ" Vật lý 11THPT.
8. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm là một trong các mô hình giảng dạy
được sử dụng với mục tiêu nhằm thúc đẩy HS học tập, chia sẻ thông tin với nhau
để đạt được mục đích cuối cùng. Người khởi xướng phương pháp này là nhà triết
học cổ Hi Lạp Socrate. Ông đã đề ra phương pháp hội thoại – trò chuyện( hay
còn gọi là phương pháp Socrate) với đặc trưng chủ yếu là dùng hội thoại, tranh
luận để tìm tòi, phát hiện ra chân lý. Phương pháp này đưa người học đến chỗ tự
mình phát hiện ra được cái mình chưa biết và tự đi đến cái cần biết. Ý nghĩa
quan trọng của phương pháp này đối với quá trình dạy học hiện đại chính là:
người học phải cùng với người dạy làm chủ quá trình lĩnh hội tri thức, rồi sau đó
mới có được tri thức, tức là làm chủ được tri thức bản thân.
Hình thức học tập theo nhóm bắt đầu được áp dụng ở Đức và Pháp vào
theo nhóm. Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu cũng như
nhiều bài viết quan tâm tới dạy học mang tính hợp tác.
Trong tài liệu dịch "Cẩm nang thực hành giảng dạy" của tác giả Nguyễn
Trọng Tấn đã đề cập đến nhiều hình thức tổ chức dạy học, học tập và giảng dạy,
lợi ích của công việc học tập hợp tác, cách tổ chức nhóm học tập ở các bậc học
như bậc tiểu học, bậc trung học. Lợi ích của công việc học tập theo nhóm, thiết
lập chia nhóm giảng dạy cho HS rất có giá trị. Tác giả Thái Duy Tuyên đi sâu
vào nghiên cứu vấn đề về phương pháp dạy học, trong cuốn sách "Phương pháp
dạy học truyền thống và đổi mới", tác giả đã đề cập rất rõ tầm quan trọng của
dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác nhóm, quy trình tổ chức dạy học theo
phương pháp dạy học hợp tác nhóm. Cùng bài viết "Một số vấn đề cơ sở lí luận
học hợp tác" của tác giả Lê Văn Tạc đã nêu lên cụ thể một số vấn đề học tập hợp
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
tác nhóm như khái niệm, nguyên tắc, cơ sở của lí thuyết, quá trình thực hiện học
hợp tác.
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đã
nêu được những ưu điểm nổi trội cũng như những mặt hạn chế nhất định của
việc ứng dụng CNTT vào dạy học Vật lý trong điều kiện thực tiễn của nước ta.
Với phương pháp dạy học nhóm với sự hỗ trợ của CNTT có một số tài liệu
như luận văn thạc sĩ của Tống Huy Hoàng với đề tài “Thiết kế bài dạy học theo lí
thuyết nhóm với sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học phần động lực học Vật lý
10 THPT”, luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Mỹ Phương với đề tài “Tổ chức hoạt
động học tập theo nhóm chương "Điện tích- Điện trường" Vật lí 11 THPT với sự
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC HỢP TÁC THEO NHÓM
1.1 Khái niệm hợp tác nhóm
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Hợp tác là cùng chung sức, giúp đỡ
lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích
chung’’.[1]
Hợp tác là khi mọi người làm việc chung với nhau và cùng hướng về một
mục tiêu chung dựa trên sự bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau và tự nguyện cùng
làm việc... cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau
Vậy, hợp tác là sự tự nguyện của các cá nhân cùng nhau làm việc một
cách bình đẳng trong một tập thể (nhóm). Các thành viên trong nhóm tiến hành
hoạt động nhằm mục đích và lợi ích chung, đồng thời đạt được mục đích và lợi
ích riêng của mỗi thành viên trên cơ sở nỗ lực chung. Hoạt động của từng cá
nhân trong quá trình tham gia công việc phải tuân theo những nguyên tắc nhất
định và có sự phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên trong nhóm[2].
1.2 Khái niệm học tập hợp tác nhóm
Hình thức học tập này đòi hỏi phải có sự tham gia, đóng góp trực tiếp của
người học vào quá trình học tập, đồng thời yêu cầu người học phải làm việc
cùng nhau để đạt được kết quả học tập chung.
Trong đó mỗi người học sẽ tìm thấy lợi ích cho chính mình và cho tất cả
các thành viên trong tổ chức (tổ, nhóm). Học sinh học bằng cách làm chứ không
chỉ học bằng cách nghe giáo viên giảng. Mục tiêu hoạt động học tập hợp tác là
chung, nhưng mỗi người lại có nhiệm vụ riêng, các hoạt động của từng cá nhân
được tổ chức phối hợp để đạt mục tiêu chung. Thông qua hoạt động trong tập
thể nhóm, lớp, các ý kiến phản ánh quan niệm của mỗi cá nhân được điều chỉnh
qua đó, người học nâng mình lên một trình độ mới. Hoạt động trong tập thể sẽ
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
7
trách nhiệm: một là tìm hiểu các tài liệu được giao – phần nhiệm vụ cá nhân, hai
làđảm bảo rằng tất cả các thành viên của nhóm phải hiểu được nội dung mà mình
đảm nhận – phần hợp tác. Có một số biện pháp để nâng cao tính phụ thuộc tích
cực của HS với nhau:
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
8
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
-Tạo sự phụ thuộc về mục đích – sản phẩm là chung của cả nhóm, các
công việc chỉ là một trách nhiệm trọn vẹn.
- Sự phụ thuộc về phần thưởng – cho điểm chung nhóm, điểm cá nhân cộng
với phần thưởng của nhóm, khen thưởng cả nhóm, khen thưởng bằng hiện vật.
- Sự phụ thuộc về nguồn học tập – hạn chế mỗi nhóm một bộ tài liệu, mỗi
thành viên có nguồn tài liệu cần thiết khác nhau.
- Sự phụ thuộc về vai trò – người ghi chép, người hỏi, người động viên,
người quan sát, và đặc biệt một số trường hợp không có thủ lĩnh nhóm.
- Sự phụ thuộc về môi trường – tổ chức không gian thảo luận nhóm sao
cho nâng cao sự hợp tác và phụ thuộc, ví dụ cho mỗi nhóm một khu vực làm
việc riêng.
2) Yếu tố cơ bản thứ hai là sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên
trong nhóm. HS phải thực sự làm việc cùng nhau, họ sẽ cùng thành công khi biết
chia sẻ tài liệu, kiến thức, kinh nghiệm, giúp đỡ, hỗ trợ, khuyến khích nhau, cùng
nỗ lực, cùng kiểm tra lẫn nhau, cùng thảo luận nội dung bài học…Việc tương
tác trực tiếp sẽ có tác động tốt đối với HS như: tăng động cơ học tập, gây hứng
thú tìm hiểu, kích thích sự giao tiếp, sự chia sẻ những ý tưởng, kinh nghiệm để
giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó các kĩ năng sống sẽ được thay đổi theo chiều
thành viên khác, kiến họ tin tưởng vào sự nỗ lực của mọi người.
- Cá nhân phải ý thức rằng kết quả của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến các
thành viên trong nhóm.
- Khi cần kiểm tra, GV có thể kiểm tra mức độ tự giác làm việc cộng tác
giữa các cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau như: làm bài kiểm tra cá nhân,
kiểm tra một HS bất kì về công việc của cả nhóm, quan sát nhóm làm việc và ghi
chép tần số làm việc của mỗi cá nhân, đề nghị HS giảng lại những gì đã học
được từ người khác…
- Ngoài ra số lượng HS trong nhóm phải được giới hạn, bởi khi số lượng
HS ít thì trách nhiệm cá nhân sẽ được nâng cao.
Khi đạt được yếu tố này, thông qua các hoạt động hợp tác mỗi HS sẽ nhận
thấy mình thật sự trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn so với họ trước khi chưa tham
gia vào nhóm hợp tác.
4) Yếu tố kĩ năng hoạt động hợp tác nhóm, yếu tố này đỏi hỏi HS phải có
kĩ năng làm việc trong nhóm nhỏ như biết cách trao đổi thông tin, lắng nghe
người khác, trình bày báo cáo, biết cách trao đổi và thảo luận, biết cách tóm tắt
và xử lí thông tin, thậm chí nếu cần phải biết cách thuyết phục người khác.
Ngoài việc trao đổi thông tin bằng ngôn ngữ, cá nhân còn phải biết truyền tin
bằng các cử chỉ phi ngôn ngữ qua ánh mắt, sắc mặt, nụ cười… Trong quá trình
tổ chức học tập theo nhóm, GV cần chú ý đến việc hướng dẫn HS thực hiện và
rèn luyện các kĩ năng. Việc dạy và rèn luyện kĩ năng hoạt động hợp tác nhóm có
thể trải qua các bước như:
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
Phương pháp DHHT đòi hỏi các cá nhân trong nhóm phải cùng làm việc
với nhau để cùng thành công thành công của mỗi cá nhân sẽ được thể hiện rõ ở
thành công của nhóm. Vì vậy phương pháp DHHT được coi là phương pháp giáo
dục hiệu quả bởi xã hội loài người tồn tại và phát triển là do có sự hợp tác giữa
người với người.
Vậy, DHHT được hiểu là dạy học theo hướng học tập hợp tác, trong đó
GV tổ chức cho HS cùng học tập với nhau; mục đích, nội dung học tập,mô hình
tổ chức dạy học được tiến hành dựa trên đặc điểm nguyên tắc của HTHT.
DHHT vừa tạo ra môi trường thuận lợi cho HS học tập tiếp thu kiến thức,phát
huy tiềm năng trí tuệ, góp phần tạo ra sự thành công của nhóm;đồng thời hướng
dẫn họ biết cách rèn luyện, phát triển kỹ năng hợp tác trong hoạt động học
tập[2].
1.4. Đặc điểm dạy học hợp tác nhóm
Phương pháp DHHT có những đặc điểm sau:
- Về hình thức, hoạt động dạy học vẫn được tiến hành trên quy mô cả lớp
giống như mô hình giờ học truyền thống
-Về mục đích, DHHT không chỉ truyền thụ cho HS những kiến thức trong
chương trình mà còn hướng vào việc phát triển tư duy, hình thành các kỹ năng
hợp tác, kỹ năng thực hành sáng tạo, chuẩn bị cho HS thích ứng hòa nhập với
đời sống xã hội.
- Về nội dung, DHHT ngoài những kiến thức qui định trong chương trình
còn bao gồm các bài tập nhận thức dưới dạng tình huống,thực hành tìm tòi, giải
lập luận chính, đảm bảo chủ đề rõ ràng, bố cục chặt chẽ. Các câu hỏi cần được
trình bày để HS dễ thấy trong suốt quá trình thảo luận. Có thể giao cho các nhóm
các câu hỏi khác nhau nhưng phải có liên quan. Thời gian hoạt động nên kéo dài
không quá 5 phút. Sau đó GV tổ chức thảo luận trước lớp. GV xác nhận các ý
kiến đúng, thể chế hoá kiến thức.
1.5.2. Mô hình nhóm học tập STAD (Student Teams Achievements Division)
Mỗi nhóm HS giúp đỡ nhau hiểu thực sự kỹ lưỡng về nội dung được giao,
phần kiểm tra sẽ là kiểm tra cá nhân. Hình thức này có tính ưu việt thể hiện ở cơ
chế chấm điểm dựa trên sự nỗ lực của từng cá nhân chứ không phải sự hơn kém
về khả năng. Cơ chế đánh giá này được minh hoạ bởi bảng sau:
Bảng 1.1. Cách tính chỉ số cố gắng của từng thành viên trong nhóm
Nhóm
Thành viên
Thành viên số 1
Thành viên số 2
Thành viên số 3
Thành viên số 4
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
Điểm KT
Lần 1 Lần 2
8
8
4
6
8
7
6
lớp có cùng nhiệm vụ. Hình thức hoạt động nhóm này có tác dụng tạo một sự
phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên chịu trách
nhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, thành tích của họ có ảnh hưởng trực tiếp
tới thành tích của nhóm. Quá trình kiểm tra đánh giá được biến thành các cuộc
tranh tài của các thành viên cùng số thứ tự ở các nhóm. Sự chênh lệch giữa hai
lần kiểm tra được sử dụng để tính điểm. Có thể tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1. Chia nhóm theo khả năng học tập
Thành viên số 1: Mức độ 1
Thành viên số 2: Mức độ 2
Thành viên số 3: Mức độ 3
Thành viên số 4: Mức độ 4.
- Bước 2. Học nhóm: Các thành viên trong nhóm thảo luận giúp đỡ nhau
hiểu bài.
- Bước 3. Thi đấu: Các thành viên cùng số thi đấu với nhau.
- Bước 4. Kiểm tra đánh giá dựa trên chỉ số nỗ lực giữa hai lần kiểm tra
(kiểm tra và tính điểm như cấu trúc STAD).
- Bước 5. Xử lý kết quả: Điểm số cuối cùng của nhóm dựa vào tổng chỉ số
cố gắng của các thành viên.
Ngoài những ưu việt của cấu trúc STAD, thì cấu trúc TGT còn có một
điểm mạnh là có chú ý đến sự tương đồng về năng lực trong kiểm tra đánh giá
nên nó thể hiện rõ hơn sự công bằng trong kiểm tra đánh giá.
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
1.5.4. Thực hiện một chuỗi bài tập luân phiên
45
1.5.5. Mô hình nhóm Jigsaw (Ghép hình)
Cấu trúc này đề cao sự tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng
thành viên trong nhóm, loại bỏ gần như triệt để sự ăn theo, sự chi phối, sự tách
nhóm. Với cấu trúc này thì mỗi thành viên được giao một phần bài học. Sau đó
dành một khoảng thời gian nhất định để các thành viên cùng chủ đề thảo luận với
nhau và trở thành các nhóm chuyên gia. Khi kết thúc phần thảo luận này các
thành viên trở về nhóm của mình và khi đó, từng thành viên sẽ giảng lại cho cả
nhóm nghe phần bài học của mình ở nhóm chuyên gia và kiến thức toàn bài học
được ghép lại với nhau. Sự phối hợp này tương tự như trò chơi ghép hình.
Bước 1. Phân công nhiệm vụ cho các thành viên cùng số:
Thành viên số 1: Nhiệm vụ 1
Thành viên số 2: Nhiệm vụ 2
Thành viên số 3: Nhiệm vụ 3
Thành viên số 4: Nhiệm vụ 4.
Bước 2. Các nhóm chuyên gia làm việc: Thảo luận cùng chủ đề.
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
Bước 3. Nhóm hợp tác làm việc: Các thành viên của nhóm hợp tác trở về
nhóm giảng bàicho các thành viên còn lại để mọi thành viên trong nhóm hiểu hết
các nhiệm vụ 1, 2, 3, 4. Đối với cấu trúc này thì từng thành viên không những
hiểu về nhiệm vụ của mình mà còn hiểu toàn bộ nhiệm vụ của nhóm. Hình thức
hoạt động nhóm này có tác dụng giúp GV thực hiện việc DH phân hoá theo trình
3
Trung bình cộng điểm tiến bộ của các cá nhân sẽ là điểm tiến bộ của cả
nhóm. Điểm của cả nhóm sẽ là cơ sở để GV xếp loại nhóm hoạt động tốt hay
không trong buổi học, kỳ học hoặc năm học.
Như vậy, trong cấu trúc Jigsaw đã đề cao sự tương tác bình đẳng và tầm
quan trọng của từng thành viên trong nhóm, loại bỏ gần như triệt để sự ăn theo,
sự chi phối, và sự tách nhóm, đây là những vấn đề thường nảy sinh trong quá
trình làm việc nhóm.
1.6. Kỹ năng dạy - học hợp tác theo nhóm
1.6.1. Kỹ năng học tập hợp tác theo nhóm của học sinh
SVTH: Phan Thị Kim Thoa
16
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Cẩm Tú
Một nhiệm vụ rất quan trọng trong DHHT theo nhóm đó là người GV cần
rèn luyện kỹ năng hợp tác cho HS. Đối với học sinh THPT cần phải dạy cho các
em nắm được những kỹ năng trong các tình huống học HTHT theo nhóm như sau:
- Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm: HS khi nhận được nhiệm vụ học
tập cần di chuyển nhanh vào nhóm. Cần xây dựng một kế hoạch hoạt động cho
nhóm một cách cụ thể, hợp lý, bao gồm: thứ tự công việc, nội dung công việc,
thời gian, người chịu trách nhiệm,... sẽ đảm bảo cho mỗi thành viên chủ động và
có định hướng trong công việc của mình và của cả nhóm. Đồng thời cần có nội
quy, những nguyên tắc chung trong hoạt động để mọi thành viên trong nhóm dựa
vào đó mà thực hiện, đảm bảo sự quy củ, nghiêm túc trong hoạt động của nhóm.