skkn nâng cao chất lượng môn tập đọc lớp 4 - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tập đọc lớp 4
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
3. Tác giả:
Họ và tên:

Nguyễn Thị Hương Liên ( Nữ)

Ngày tháng/ năm sinh:
Trình độ đào tạo:

17 - 04- 1970
Đại học Tiểu học.

Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ phó chuyên môn: Tổ 4-5
Trường Tiểu học Thái Học
Điện thoại:

01678210907

4. Đồng tác giả:

( Không)

5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

( không)

6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Thái Học.
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Giáo viên: Có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, yêu nghề, nhiệt tình với công

mt k nng chuyn dng ch vit sang li núi cú õm thanh v thụng hiu nú.
Bit c, con ngi ó nhõn kh nng tip nhn lờn nhiu ln. Khụng bit c,
con ngi s khụng cú iu kin hng th s giỏo dc m xó hi dnh cho h,
khụng th hỡnh thnh mt nhõn cỏch ton din. Vy c thỡ phi c nh th
no? c ra sao? ú mi l iu quan trng. Tìm hiểu thực tiễn dạy học môn
Tập đọc lớp 4 có thể thấy có khá nhiều thành công. Học sinh Tiểu học nói
chung và lớp 4 nói riêng đã biết đọc tơng đối đúng, nhiều em đọc to rõ ràng,
biết đọc thầm và hiểu đợc nội dung văn bản và một số em biết đọc diễn cảm.
Tuy nhiên, việc dạy học tập đọc lớp 4 vẫn còn một số hạn chế: Cht lng dy
Tp c cha cao. Học sinh còn đọc lẫn các âm đầu nh r/ d/ gi; ch/ tr. đặc biệt
là âm l/ n. Ngắt, nghỉ hơi cha đúng. Khả năng tìm hiểu đề bài, c din cm
của các em còn yếu. K năng luyện đọc của học sinh còn hạn chế các em thờng
hay "sợ" phải đọc trớc lớp khi phải đứng lên trình bày bài đọc của mình, các em
rất e ngại, rụt rè, có em đọc quá nhanh, có em đọc một cách rời rạc, không thể
hiện đợc cảm xúc trong bài đọc của mình.

2


khc phc nhng hn ch trờn tụi a ra mt s Bin phỏp nâng cao
chất lợng dy Tp c lp 4 vi mong mun gúp mt phn cụng sc vo vic
nõng cao cht lng dy hc Ting Vit Tiu hc.
2. iu kin, thi gian, i tng ỏp dng sỏng kin:
- iu kin: Đủ thiết bị dạy học. Đảm bảo nhu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học đối với từng bài trên lớp.
- Thi gian: T thỏng 9/ 2014 n thỏng 3 / 2015.
- i tng: Hc sinh lp 4. Trng Tiu hc.
3. Ni dung sỏng kin: Trong ni dung ca sỏng kin, tụi ó ch ra c
thc trng cũn tn ti, trờn c s ú tụi ó xõy dng v xut 4 bin phỏp sau:
Bin phỏp 1: Nâng cao chất lợng đọc mẫu của GV.

từ đầu năm học.
- Tăng cờng trang bị đầy đủ các thiết bị dạy - học cũng nh các điều kiện
cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc dạy- học một cách thờng xuyên.
- Tổ chức hội thi " Đọc hay" đối với giáo viên và học sinh.
+ Đối với cấp trên.
- Hàng năm mở chuyên đề môn Tập đọc để thống nhất phơng pháp dạy
học cũng nh tháo gỡ khó khăn.
- Cung cấp đầy đủ các tài liệu tham khảo, sách hớng dẫn hoặc bài soạn
cho giáo viên .
- Ngành quan tâm hơn nữa tới việc bồi dỡng, nâng cao trình độ chuyên
môn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy.
- Ch o v t chc hội thi " Đọc hay" đối với giáo viên và học sinh.

4


MÔ TẢ SÁNG KIÊN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
1.1. Lý do chọn đề tài.
Đất nước ta đang bước vào thế kỉ mới, thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ, con
người trung tâm của sự phát triển. Thực hiện“ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
và đang trên đà hội nhập thế giới đòi hỏi những chủ nhân tương lai không chỉ
có đạo đức tốt và nhiệt tình và còn giỏi về chuyên môn. Vì vậy, khi bàn đến
tương lai không thể không bàn đến giáo dục. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng
và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là cốt tử của sự phát triển
đất nước, bởi lẽ sự gắn bó của giáo dục với kinh tế xã hội, đặc biệt với cuộc
sống lao động và là sự gắn bó máu thịt, sống còn.
Ngay từ buổi đầu cách mạng, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đặc biệt trú
trọng đến công việc của con người, coi đó là cơ sở là nền tảng để xây dựng và
phát triển đất nước. Nghị quyết TW 2 ( khoá VIII ) lại một lần nữa khẳng định:

một số hạn chế:
- Cht lng dy Tp c cha cao.
- Học sinh còn đọc lẫn các âm đầu nh r/ d/ gi; ch/ tr. đặc biệt là âm l/ n.
- Đọc sai ở các tiếng có vần khó ví dụ: ngoắt ngoéo, khuỷu tay, con
hoẵng,
- Ngắt, nghỉ hơi cha đúng.
- Khả năng tìm hiểu đề bài, c din cm của các em còn yếu. lớp 4 đa
số các bài tập đọc đều có tranh và câu hỏi gợi ý nhng học sinh khai thác cha
hết, cha sâu các ni dung yờu cu.
- K năng luyện đọc của học sinh còn hạn chế các em thờng hay "sợ" phải
đọc trớc lớp khi phải đứng lên trình bày bài đọc của mình, các em rất e ngại, rụt
rè, có em đọc quá nhanh, có em đọc một cách rời rạc, không thể hiện đợc cảm
xúc trong bài đọc của mình.

6


Vỡ nhng lớ do trờn õy, tụi chọn sỏng kin: "Bin phỏp nâng cao chất lợng dy Tp c lp 4 vi mong mun gúp mt phn cụng sc vo vic
nõng cao cht lng dy hc Ting Vit Tiu hc.

1.2. Mục đích nghiên cứu.
Sáng kiến này nhằm nâng cao và bồi dỡng cho học sinh có kỹ năng, kỹ
xảo về phần đọc, viết, từ đó hiểu đúng nội dung, trọng tâm của vấn đề muốn gì
trong việc giao tiếp với mọi ngời xung quanh, biết chọn những cái hay, cái đẹp
trong thực tế để làm vốn riêng cho bản thân. Đây là cơ sở tốt nhất để ngời giáo
viên đem hết năng lực, trí tuệ của mình để giáo dục lòng yêu quý môn Tiếng
Việt. Đó là những thứ ngôn ngữ của dân tộc ta mà ông cha ta đã tìm tòi sáng tạo
từ qua bao đời nay. Tôi đã tiến hành nghiên cứu, tập hợp những cơ sở lý luận,
đánh giá thực tiễn dạy môn Tập đọc ở lớp 4 của bản thân. Qua khảo sát, dự giờ
các đồng nghiệp, tìm hiểu dạy Tập đọc ở Trờng Tiểu học nhằm tìm ra một số

t ghi li li núi õm thanh. Th hai, ú l s vn ng ca t tng, tỡnh cm,
s dng b mó ch - ngha, tc l mi quan h gia cỏc con ch v ý tng,
cỏc khỏi nim cha ng bờn trong nh v hiu cho c cỏc ni dung
nhng gỡ ó c. c ỳng, c din cm l yờu cu, mc ớch m dy hc
hng ti, ú chớnh l ni dung ca vic luyn c thnh ting. c ỳng trc
ht phi c ỳng chớnh õm, trng õm v ng iu.
* Dy tt mụn Tp c nhm:
2.1. Phát triển các kĩ năng đọc và nghe cho học sinh cụ thể là:
2.1.1. Đọc thành tiếng: - Phát âm đúng, ngắt nghỉ hơi hợp lí.
- Cờng độ đọc vừa phải ( không đọc quá to hay đọc lí nhí).
Tốc độ đọc vừa phải ( không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng). Đạt yêu cầu
tối thiểu 75 tiếng / 1 phút.
- Biết cách đọc loại văn bản hành chính, khoa học baods chí, văn học phù
hợp với thể loại và nội dung văn bản, thể hiện đợc tình cảm thái độ của tác giả,
giọng điệu của nhân vật.
2.1.2. Đọc thầm và hiểu nội dung:
8


- Biết đọc thầm, không mp máy môi.
- Hiểu đợc nghĩa các từ ngữ trong văn cảnh ( bài đọc ); nắm đợc nội dung
các câu, đoạn và ý nghĩa của bài.
- Có khả năng trả lời ( nói hoặc viết ) đúng các câu hỏi nội dung liên
quan đến nội dung từng đoạn, phát biểu ý kiến của bản thân về một nhân vật
hoặc một

vấn đề trong bài đọc.

2.13. Nghe: - Nghe và nắm đợc cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài.
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô.

các đồng chí giáo viên trẻ có trình độ trên chuẩn. Bên cạnh đó vẫn còn một số
giáo viên do trình độ còn hạn chế, có tuổi còn ngại nghiên cứu nên hạn chế
trong việc lựa chọn biện pháp dạy học mà chủ yếu phụ thuộc vào sách giáo
khoa và tài liệu tham khảo. Do ảnh hưởng của tiếng địa phương nhiều giáo viên
phát âm còn chưa chuẩn hay lẫn phụ âm l/n.
Khi dạy Tập đọc giáo viên còn gặp nhiều khó khăn. Giáo viên chưa biết
phối hợp các môn học khác trong việc dạy Tập đọc nên đọc còn sai chính tả
nhiều, dùng từ không chính xác, đặt câu sai ngữ pháp, ý văn rời rạc thiếu chặt
chẽ. Đa số giáo viên chưa quan tâm rèn kỹ năng đọc, nói cho học sinh. Học
sinh thường đọc lại bài văn của mình vì thế kỹ năng đọc, nói của học sinh ít
được rèn luyện. Giáo viên còn ít quan tâm đến chỉnh sửa lỗi thường xuyên cho
học sinh và bồi dưỡng nâng cao kiến thức với những em học sinh khá, giỏi.
Mặt khác, ở một số giáo viên chưa đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các hình
thức tổ chức giờ lên lớp, các phương pháp dạy học khơi dậy tính tò mò, hào
hứng học tập, đồng thời chưa phát huy được vốn sống của trẻ vào quá trình xây
dựng kiến thức bài học, tạo ra tiết dạy phong phú, nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu
quả đó cũng chính là một trong những nội dung quan trọng để đánh giá tiết dạy
của giáo viên.
3.2. Về phía học sinh.
Các em chủ yếu con nông thôn kinh tế gia đình bình thường, ổn định. Bố
mẹ chủ yếu làm nông nghiệp. Khi học tập các em còn một số khó khăn. Do bị
ảnh hưởng môi trường giao tiếp xung quanh nên nhiều em phát âm còn lẫn các
phụ âm: gi / d / r; l / n...
10


Kĩ năng đọc các em hạn chế, nhiều em đọc còn nhỏ. Một số em đọc còn
chưa đúng tiếng, từ có khi đọc còn thừa tiếng hoặc thiếu tiếng. Trong quá trình
đọc ngắt, nghỉ hơi chưa đúng. Đọc chưa mạch lạc, đọc diễn cảm còn hạn chế.
Hiểu nghĩa của từ và nội dung bài dạy chưa sâu, chưa chính xác...


%

thanh
SL

%

SL

%

SL

%

3A 29 6

20.6 7

24.1 17

58.6 6

20.6 5

17.2 15

51,7 3



11


Đối với học sinh lớp 4 việc đọc mẫu của giáo viên là không thể thiếu
được. Việc đọc mẫu của giáo viên đòi hỏi phải chuẩn mực, chính xác. Phát âm
phải chuẩn đặc biệt là các tiếng có phụ âm đầu dễ lẫn: n/l...Giáo viên không
hạn chế việc đọc mẫu một hay hai, ba lần mà phải tuỳ thuộc vào đối tượng học
sinh của lớp thực tế giảng dạy.
Việc đọc mẫu có thể do học sinh đảm nhận vì ở lớp 4, kĩ năng đọc của
học sinh đã được nâng cao, nhiều học sinh có thể đạt tới trình độ chuẩn trong
những trường hợp nhất định, do vậy, tùy từng trường hợp cụ thể giáo viên có
thể chỉ định một số HS khá, giỏi đọc mẫu trước lớp.
Giáo viên có thể đọc mẫu trong những trường hợp sau:
- Đọc mẫu toàn bài: Thường nhằm minh họa cách đọc hoàn chỉnh về
một văn bản. Chỉ nên đọc mẫu toàn bài sau khi học sinh luyện đọc, tạo hứng
thú để học sinh tìm hiểu bài và luyện đọc diễn cảm.
- Đọc mẫu câu, đoạn: Nhằm hướng dẫn, gợi ý hoặc "tạo tình huống" để
học sinh nhận xét, tự tìm ra cách đọc của câu, đoạn đó. Hướng dẫn cách đọc
diễn cảm.
- Đọc mẫu tõ, cụm từ: Nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng từ,
cụm từ đó.
Việc đọc mẫu của giáo viên là những định hướng quan trọng để giúp cho
học sinh rèn đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm. Bài đọc của thầy cô sẽ có tác
động trực tiếp và tích cực tới cách đọc của các em, không những giúp các em
đọc đúng mà còn truyền cho các em những rung động, xúc cảm tốt đẹp để giúp
các em đọc hay.
Để đọc mẫu chính xác, truyền cảm, giáo viên cần phải làm tốt những
việc sau đây:
- Trước hết cần nghiên cứu kỹ bài đọc trước khi lên lớp, đọc trước bài

Để khắc phục tình trạng trên, tôi đã tiến hành một số bước như sau:
- Điều tra phân loại lỗi ngay từ đầu năm học đối với từng em, từng nhóm
để có kế hoạch bồi dưỡng, uốn nắn kịp thời.

13


- Khi hng dn phỏt õm, tụi phõn tớch cho cỏc em thy s khỏc bit gia
cỏch phỏt õm l v n; tr v ch; d, r v gi. Giỏo viờn cú th lm mu cỏc em
thy h thng mụi, rng, li khi phỏt õm. C th l:
+ Phát âm l và n:
Cách phát âm l:

Đầu lỡi - hàm. Đặt đầu lỡi lên hàm sau đó bật hơi.

Cách phát âm n:

Mặt lỡi - hàm. Đa đầu lỡi lên mặt hàm bật nhẹ. Đầu l-

ỡi thẳng, luồng hơi đi ra nhẹ.
- Luyn phỏt õm tng õm nhiu lỳc, nhiu ln, nhiu ngy. Luyn phỏt
õm cỏc ting, cỏc t cú ph õm u l/ n kt hp với tỡm hiu ngha ca t.
+ Phỏt õm tr v ch:
Cỏch phỏt õm tr:

Gc li - hm. t gc li lờn hm bt hi.

Cỏch phỏt õm ch: u li - hm. a u li lờn hm bt hi nh.
+ Phỏt õm d, r v gi:
Cỏch phỏt õm d:

muối
uôi
khuỷu
uyu
Giáo viên có thể phát âm mẫu sau đó cho các em luyện đọc nhiều lần,
phân biệt cách phát âm đúng và âm sai để các em nhận ra cách phát âm đúng.
4.2.3. Luyện đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi:
Đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ, nghỉ hơi đúng chỗ cần căn cứ vào quan hệ
ngữ pháp của các tiếng, từ trong câu.
Để giúp các em luyện đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, tôi
hướng dẫn cụ thể như sau:
- Không đọc tách một từ thành hai phần rời rạc:
Ví dụ:

Đêm nay anh đứng gác ở trại.
"Đêm nay", "anh đứng gác " là một từ. Vì vậy không đọc là
Đêm / nay anh đứng gác ở trại.

Hoặc:
Đêm nay anh /đứng gác ở trại.
- Đọc liền các kết hợp cụm từ có quan hệ ngữ nghĩa với nhau.
Ví dụ: Bình minh của hoa phượng /là màu đỏ còn non, /nếu có mưa, / lại
càng tươi dịu.
( Hoa học trò - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 43).
Các cụm từ : "Bình minh của hoa phượng ", "là màu đỏ còn non", là những
kết hợp có quan hệ ngữ nghĩa nên khi đọc không thể tách rời.
- Hướng dẫn học sinh phân biệt câu thơ và dòng thơ. Có những bài thơ
phải đọc vắt hai dòng thơ vào thành một câu thơ.
Ví dụ:


việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
cho học sinh:
Tìm hiểu bài là bước hướng dẫn học sinh thông hiểu nội dung văn bản,
bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh. Đây là một yêu cầu cần thiết
trong giảng dạy phân môn Tập đọc. Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ
16


cảm nhận được nhiều cái hay, cái đẹp của văn thơ được phong phú thêm về tâm
hồn, nói- viết Tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động. Đồng thời, thấy được
cái hay, cái đẹp của nội dung và nghệ thuật bài đọc, các em sẽ có khả năng đọc
diễn cảm tốt hơn, yêu thích và hứng thú đọc hơn.
Mỗi bài tập đọc là một bức tranh thu nhỏ về con người, cuộc sống và
thời đại. Ngoài nhiệm vụ rèn đọc, phân môn Tập đọc còn cung cấp cho học
sinh kiến thức nhiều mặt, đa dạng thông qua nội dung bài đọc. Tuy giờ Tập đọc
không phải là một giờ giảng từ, giảng văn song bước hướng dẫn học sinh tìm
hiểu bài cũng không nên xem nhẹ.
Để học sinh hiểu nội dung bài thì việc hiểu nghĩa của các từ ngữ khó là
rất quan trọng. Ngoài việc giải nghĩa theo sách giáo khoa, giáo viên cần dựa
vào tâm lí của học sinh tiểu học giải nghĩa từ khó bằng hình minh hoạ và vật
thật.
Ví dụ: ( Hoa học trò - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 43).
Giải thích từ : Phượng. ( học sinh quan sát vật thật) là một cành hoa
phượng.
Bài Trống đồng Đông Sơn - Tiếng Việt 4 - Tập II / trang 17).
Giải thích từ Trống đồng, hoa văn (Giáo viên cho học sinh quan s¸t c¸c bøc
tranh, ¶nh minh häa).
Qua nghiên cứu hệ thống câu hỏi các bài tập đọc trong sách giáo khoa
Tiếng Việt 3, tôi nhận thấy đa số các câu hỏi đều là dạng câu hỏi làm tái hiện
lại các chi tiết của bài đọc.

cần thiết trong tiết dạy. Học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói
riêng, đọc diễn cảm chỉ yêu cầu ở một số kỹ thuật sau:
* Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng lôgic. Ngắt giọng lôgic là
chỗ dừng để tách các nhóm từ trong câu. Ngắt giọng lôgic hoàn toàn phụ thuộc
vào ý nghĩa và quan hệ các từ.
Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe, ngắt giọng
biểu cảm là những chỗ lắng đọng, sự im lặng có tác dụng truyền cảm “gây bão
tố”, góp phần tạo nên hiệu quả cao. Đó là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật.
Ví dụ: câu cuối của bài thơ sang năm con lên bảy.
Cha lại gặp mình / trong những ước mơ con.
Nếu tạo một chỗ ngừng ( ngắt giọng ) sau “ Cha gặp lại mình” thì sẽ có
hiệu quả nghệ thuật cao hơn so với ngắt giọng bình thường vì ngắt giọng như
vậy sẽ tăng âm lượng của bài thơ cho năm tiếng cuối “trong những ước mơ

20


con”, gây sự tập trung chú ý và thôi thúc phải trả lời tại sao lại “ gặp mình
trong những giấc mơ con”.
- Giọng đọc phù hợp với nội dung của từng đoạn, từng bài, phù hợp với các
kiểu câu trong bài:
Ví dụ:
Bài: "Bốn anh tài" Tiếng Việt 4 - Tập II/ trang 5 - giọng đọc toàn
bài hơi nhanh.
Bài: "Hoa học trò" - Tiếng Việt 4 - Tập II/ trang 58 - Giọng đọc nhẹ
nhàng, suy tư để cảm nhận được vẻ đẹp đặc biệt của hoa phượng và sự thay đổi
bất ngờ của màu hoa theo thời gian.
- Tốc độ đọc phù hợp: Khi đọc, cần thay đổi tốc độ đọc để biểu đạt đúng
sắc thái tình cảm của câu văn, câu thơ.
"Mẹ giã gạo/ mẹ nuôi bộ đội

+ Lớp 4B (Lớp đối chứng).
ĐỀ KHẢO SÁT ( phụ lục2)
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
L

Sai phụ âm đầu

SL

%

SL

%

SL

%

Sai tiếng
Dấu
Vần
thanh
SL % SL %

4A 29

0

0

42.9 5

17.

4

14.2 10


p


Số

Gi/ d/ r

7

Lớp SS
4A
4B

29
28

Tr/ ch

l/n

3

10.7

8

Chưa hoàn thành
SL
%
0
0
4
14.3

%
100
85.7

Ghi chú

Qua kết quả khảo sát, đối chứng với kết quả khảo sát trước khi chưa thực
hiện các biện pháp nêu trên tôi thấy rất vui vì chất lượng lớp 4A được nâng cao
rõ rệt. Tỉ lệ học sinh hoàn thành 100%. Đặc biệt là các lỗi sai về phát âm đã
được khắc phục rất nhiều. Học sinh phát âm các tiếng có phụ âm l/ n rất chuẩn.
Đa số các em đọc to, rõ ràng, ngắt nghỉ hơi đúng và diễn cảm. Học sinh hiểu
nghĩa của từ khó, hiểu nội dung của bài rất tốt. Trả lời đúng và nhanh các câu
hỏi.
23


Vi kt qu ny chng t rng cỏc bin phỏp tụi ó thc hin rt hiu
qu, ó thỳc y hc sinh:


Có được kết quả như vậy là do trong các giờ dạy Tập đọc, tôi đã thực
hiện tốt các biện pháp dạy học nêu trên, đặc biệt chú trọng rèn kỹ năng đọc để
từng bước nâng cao chất luợng đọc cho học sinh.
5.1. Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã hiểu sâu thêm về tầm quan trọng của
phân môn Tập đọc đối với học sinh Tiểu học, nắm được những biện pháp đặc
trưng của phân môn này. Sau quá trình áp dụng một số biện pháp nâng cao giờ
dạy Tập đọc lớp 4, tôi đã thu được một số kết quả nhất định và rút ra những bài
học kinh nghiệm sau đây:
- Nắm chắc mục đích, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc nói chung và
yêu cầu đọc đối với học sinh lớp 4 nói riêng. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài
dạy trước khi lên lớp.
- Đọc mẫu của giáo viên phải chuẩn mực, chính xác. Vì vậy, mỗi giáo
viên cần luôn tự học hỏi, bồi dưỡng bản thân, tự rèn đọc.
- Coi trọng việc rèn đọc cho học sinh: Đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy, ngắt
nghỉ hơi đúng chỗ, giọng đọc phù hợp và đảm bảo tốc độ đọc quy định của
từng khối lớp.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu để dẫn dắt học sinh khám
phá cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức nghệ thuật của bài. Từ đó phát
triển năng lực cảm thụ văn học và nâng cao chất lượng đọc diễn cảm cho các
em. Giáo viên cần luôn tìm tòi sáng tạo để không ngừng đổi mới phương pháp
giảng dạy sao cho mỗi tiết dạy thực sự là lao động sáng tạo của người thầy, tạo
điều kiện cho giờ dạy nhẹ nhàng, tự nhiên, có hiệu quả.
- Luôn khuyến khích, động viên học sinh để các em hứng thú, say mê
học tập, để "mỗi tiết học là một điều mới lạ, mỗi ngày đến trường là một
ngày vui" đối với các em.
- Cuối cùng, đòi hỏi người giáo viên lòng yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần
say mê với công tác giảng dạy, tâm huyết với học sinh để luôn cố gắng mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status