skkn giáo dục lòng yêu quê hương đất nước thông qua các nhân vật lịch sử ở địa phương hải dương qua các thời kỳ lịch sử - Pdf 37

Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước thông qua các
nhân vật lịch sử ở địa phương Hải Dương qua các thời kì lịch sử”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Lịch sử
3. Tác giả:
Họ và tên: Đỗ Văn Nơi

Nam (nữ): Nam

Ngày tháng/năm sinh: 05 - 04 - 1975
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Lịch sử
Chức vụ, đơn vị công tác: Trường THCS Hưng Đạo
Điện thoại: 03203930108
4. Đồng tác giả (nếu có)
Họ và tên;
Ngày tháng/năm sinh;
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ, đơn vị công tác;
Điện thoại:
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) :
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015.
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN


TÓM TẮT SÁNG KIẾN

liên quan tới các nhân vật lịch sử ở địa phương qua đó sẽ nâng tầm hiểu biết của
các em về lịch sử của quê hương qua đó sẽ giáo dục các em lòng yêu, niềm tự hào
về quê hương mình, đất nước mình.
2.1.2: Đối với học sinh.
- Phải có đủ phương tiện học tập: Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, tranh
ảnh… Phải có thái độ học tập nghiêm túc, cầu tiến
- Có ý thức tìm hiểu lịch sử của dân tộc, của địa phương, tích cực tham gia
các hoạt động như: giữ gìn, bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử ở địa phương,
tham gia sưu tầm các tư liệu về lịch sử địa phương, tham gia các lễ hội truyền
thống ở địa phương ... qua đó sẽ hun đúc thêm lòng yêu quê hương, đất nước.
2.2: Thời gian áp dụng:
Trong suốt cả quá trình học tập môn lịch sử ở trường THCS
2.3: Đối tượng áp dụng:
Học sinh trường trung học nói chung, trường THCS nói riêng
3. Nội dung sáng kiến:
3.1: Điểm mới của đề tài:
Phương pháp giáo dục tư tưởng, tình cảm cách mạng qua môn lịch sử nói
chung, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước cho học sinh nói riêng đã có nhiều
tài liệu, nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu. Trong cuốn
“Phương pháp dạy học lịch sử” (Phan Ngọc Liên - chủ biên và Trịnh Đình Tùng,
Nguyễn Thị Côi, nhà xuất bản Đại học sư phạm) đã khẳng định “Giáo dục tư
tưởng - chính trị, truyền thống dân tộc, phẩm chất đạo đức cho học sinh qua dạy
-học lịch sử ở trường phổ thông là điều rất cần thiết, quan trọng. Song vấn đề ở
đây là hiệu quả giáo dục, chứ không phải là sự phô trương hình thức, giáo điều,
áp đặt. Phải xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ nói chung, từ mục tiêu đào
tạo của trường, nội dung, chức năng, nhiệm vụ bộ môn mà chọn lựa các biện
pháp sư phạm có hiệu quả cao. Đây là một lao động sư phạm khó khăn, sáng tạo


của giáo viên”. Tuy nhiên chưa có một tài liệu nào đề cập một cách đầy đủ, sâu

yêu quê hương, đất nước mình và qua đó các em cũng thấy được trách nhiệm của
mình đối với quê hương, đất nước.
5. Đề xuất kiến nghị để áp dụng sáng kiến:
Đề nghị các nhà trường cần trang bị thêm cho các giáo viên nhất là giáo
viên dạy lịch sử các tư liệu, tài liệu về lịch sử địa phương Hải Dương đặc biệt cần
trang bị cho giáo viên cuốn sách nói về các danh nhân ở Hải Dương qua các thời
kì lịch sử để giáo viên làm tài liệu giảng dạy.
Mỗi một giáo viên cần có ý thức, trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc và lịch
sử địa phương để luôn luôn có ý thức tìm hiểu, sưu tầm tư liệu về lịch sử địa
phương và dân tộc và qua đó giáo dục thế hệ trẻ sống có trách nhiệm với lịch sử
và càng thêm tự hào về vùng đất quê hương.


Phần 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Thế hệ trẻ của nước ta ngày nay, ngày ngày được cắp sách đến trường trong
hoàn cảnh đất nước thống nhất, thanh bình, không có chiến tranh, kinh tế phát
triển, đời sống no đủ. Chính vì vậy các em chưa hiểu hết giá trị của những gì mà
các em đang được hưởng thụ, các em có thái độ thờ ơ, lãnh đạm với quá khứ, các
em không hiểu được rằng để có được cuộc sống thanh bình hạnh phúc như ngày
hôm nay, đã có biết bao mồ hôi xương máu của những người đi trước đổ xuống
mảnh đất này. Thực tế trong xã hội hiện nay, do tác động của môi trường xã hội,
một bộ phận học sinh, thanh thiếu niên đang bị suy thoái về đạo đức, sống không
có lý tưởng, thiếu bản lĩnh chính trị, rất bàng quan với sự phát triển đi lên của đất
nước, không thấy được vai trò vị trí của mỗi cá nhân trong dòng chảy lịch sử dân
tộc. Khi có một sự việc, vấn đề xảy ra trong xã hội thì không tự nhận định được
vấn đề đó đúng hay sai, xử lí như thế nào? dẫn đến những hành vi thiếu đạo đức
đáng tiếc.
Thực tế giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường trung học cơ sở, qua dự giờ của
các đồng nghiệp tôi thấy đã có nhiều chuyển biến trong giảng dạy, các đồng chí

những anh hùng dân tộc đã hi sinh xương máu của mình cho nền độc lập của Tổ
quốc. Học lịch sử để học sinh biết rõ quá khứ, hiểu được hiện tại và xây dựng
tương lai. Trên cơ sở đó, cùng với các môn học khác góp phần hình thành nhân
cách con người và góp phần vào những tiến bộ của nhân loại.
Mục tiêu giáo dục của chúng ta hiện nay đã được Đảng ta xác định rõ “Xây
dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của nhân loại, phát huy tiềm
năng của dân tộc và con người Việt Nam”. Như vậy, dạy - học môn lịch sử ở
trường phổ thông hiện nay thực chất là một quá trình giáo dục nhân cách học sinh


theo mục tiêu, yêu cầu giáo dục nhân cách con người mới trong thời kì công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để thực hiện mục tiêu trên, trong những năm gần đây, Bộ giáo dục và đào
tạo đã tiến hành đổi mới chương trình giáo dục, đổi mới chương trình sách giáo
khoa bậc trung học cơ sở trong đó có môn lịch sử theo hướng hiện đại, toàn diện,
phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh đó Sở giáo dục và đào tạo cũng có sự đổi
mới, căn bản chương trình lịch sử địa phương cho sát hợp với quá trình học tập
lịch sử của dân tộc. Cùng với việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa,
phương pháp dạy học cũng tiến hành đổi mới. Trong những năm gần đây toàn
ngành giáo dục đang tích cực tiến hành đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh. Đó là phương
pháp dạy và học theo hướng “lấy học sinh làm trung tâm”. Theo hướng đổi mới
đó, người thầy giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, bổ
sung kiến thức cho học sinh, còn học sinh chủ động tìm tòi, khám phá, khai thác
kiến thức và rèn kĩ năng tư duy.
Chương trình sách giáo khoa lịch sử hiện nay và chương trình lịch sử địa
phương Hải Dương đã chú ý đến tính toàn diện của lịch sử dân tộc. Chương trình
không chỉ chú trọng vào các bài có các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh giành độc lập

và bán nước bao giờ cũng gây cho học sinh lòng công phẫn chính đáng. Cảnh sống
lầm than và cuộc đấu tranh quật khởi của những người bị áp bức, của các dân tộc
bị thống trị luôn luôn khơi dậy cho học sinh sự thông cảm, đồng tình sâu sắc. Và
trong lịch sử, không phải chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghét trong đấu
tranh giai cấp, sự căm thù và chủ nghĩa anh hùng, mà còn bồi dưỡng cho các em
biết yêu quý lao động, yêu cái đẹp, có óc thẩm mĩ, biết cách ứng xử đúng đắn
trong cuộc sống … Bởi vì lịch sử chính là cuộc sống của nhân loại và dân tộc.
Không có gì đẹp hơn cuộc đời đấu tranh và lao động xây dựng. Khả năng giáo dục
tình cảm của sử học nói chung, của môn lịch sử ở trường phổ thông nói riêng “bắt
nguồn từ một sự thực là trong khoa học lịch sử rõ ràng, có những yếu tố nghệ


thuật”. Điều này đã được nhiều nhà sử học và nghiên cứu phương pháp dạy – học
lịch sử chứng minh. Song không phải vậy mà khẳng định lịch sử là nghệ thuật và
nhà sử học, giáo viên lịch sử làm nhiệm vụ giáo dục như các nhà văn, nhà nghệ sĩ,
giáo viên văn học… Lịch sử là một khoa học, mà cơ sở của nó được giảng dạy ở
trường phổ thông, việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ … cũng mang những
đặc trưng, do nội dung của nó quy định.
Tác dụng giáo dục quan trọng của sử học cũng như của bộ môn lịch sử ở
trường phổ thông là giáo dục trí tuệ, tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4. 1. Nội dung chương trình giảng dạy môn lịch sử có thể lồng ghép giáo
dục lòng yêu quê hương, đất nước.
Lòng yêu quê hương đất nước được hình thành qua một thời gian lâu dài
của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Việc giáo dục lòng yêu quê hương
đất nước cho học sinh cũng phải bắt đầu bằng những câu chuyện kể lịch sử đơn
giản từ thời tiểu học như: chuyện kể về cuộc đời Bác Hồ, về những tấm gương anh
hùng: Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Trần Quốc Toản...
Ở bậc trung học cơ sở, trong hầu hết các bài lịch sử dân tộc, giáo viên đều
có thể khai thác, lồng ghép việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước cho học

Tân Hồng, huyện Cẩm Giàng. Hai bà lớn lên đều xinh đẹp, thông minh khác
thường, ham học binh thư, võ nghệ. Năm hai bà 17 tuổi, mẹ mất. Khi đoạn tang
mẹ, đúng vào lúc Tô Định mang quân xâm lược nước ta, gây bao tang tóc cho
trăm họ. Hai Bà Trưng nổi dậy khởi nghĩa, hai chị em đã tìm đến căn cứ của Hai
Bà Trưng xin được tham gia nghĩa quân đánh giặc giữ nước. Hai Bà Trưng mến
đức, yêu tài phong cho hai bà là Cẩm tả hữu nội nhập công chúa, đi các nơi chiêu
mộ hào kiệt. Khi trong tay có hàng vạn nghĩa quân, hai bà kéo về Hát Giang ra
mắt chủ tướng. Hai bà được phái về trấn giữ vùng Kinh Môn. Cuộc khởi nghĩa
thành công, giải phóng nhiều thành trì, Trưng Trắc xưng vua, hai chị em bà được
phong Đại tướng, thưởng công hậu và về trấn giữ vùng đất cũ, đóng bản doanh tại


làng Huề Trì (nay thuộc xã An Phụ - Kinh Môn). Ba năm sau Mã Viện - một viên
tướng già từng trải, mang quân xâm lược nước ta. Hai Bà Trưng lãnh đạo nghĩa
quân chống giặc nhưng không thành công. Thiện Nhân - Thiện Khánh về Huề Trì
và mất tại đây.
Hiện nay tại làng Huề Trì còn ngôi đình lớn thờ hai chị em Thiện Nhân Thiện Khánh làm Thành hoàng.
- Bài 26: "Cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương"
Nội dung cần giáo dục cho học sinh: tinh thần chiến đấu bền bỉ, quên mình
vì độc lập của Tổ quốc.
Để giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước cho các em học sinh, ở bài này
giáo viên dùng câu chuyện về Khúc Thừa Dụ để kể cho các em:
Cuối thế kỉ IX, triều đình nhà Đường đổ nát, loạn lạc khắp nơi, nội tình
Trung Quốc bị phân liệt thành cục diện "năm đời, mười nước", bọn đô hộ không
còn kiểm soát vùng đất Giao Châu xa xôi nữa. Nhân dân các địa phương nổi lên
chống lại, bọn Tiết độ sứ lần lượt bỏ chạy về nước. Độc Cô Tổn là viên Tiết độ sứ
ngoại tộc cuối cùng được mệnh danh là "ngục thượng thư" (thượng thư ác) rời
khỏi nước ta. Lợi dụng thời cơ đó, năm Bính Dần (906) Khúc Thừa Dụ, một hào
phú ở làng Cúc Bồ thuộc Hồng Châu (nay là thôn Cúc Bồ xã Kiến Quốc huyện
Ninh Giang), được dân chúng ủng hộ đã tiến quân ra chiếm đóng thành Tống Bình

Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282) vua Trần Nhân Tông đóng ở vụng Trần
Xá để họp vương hầu, trông thấy thuyền than, vua cho gọi đến thấy ông cực khổ,
vua Trần xuống chiếu tha tội và cho ngồi bàn việc quân, rất hợp ý vua, lại phong
cho ông làm Phó Đô tướng quân.
Năm Mâu Tý (1288) trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba
ông làm phó tướng chỉ huy đạo quân trấn giữ cửa biển Vân Đồn (Quảng Ninh).
Khi cánh quân thủy của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp tới, ông đánh không được. Thượng
hoàng được tin sai trung sứ đến bắt Khánh Dư về kinh xử tội. Khánh Dư nói với


trung sứ rằng: "Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất lại, ba
ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn". Trung sứ theo lời
xin đó. Khánh Dư liệu quân giặc đã qua sẽ có đoàn thuyền lương theo sau, ông thu
quân đợi sẵn. Quả nhiên vài ngày sau thuyền lương của giặc đến. Trần Khánh Dư
đánh bại, bắt tù binh, quân lương khí giới nhiều không kể xiết. Tướng giặc là
Trương Văn Hổ chạy thoát thân một mình. Chiến công này làm cho quân giặc
kinh hoàng, thiếu hụt lương thực, nhụt chí xâm lăng và mở đường cho thủy quân
nhà Trần tạo nên chiến thắng Bạch Đằng sau đó.
Năm 1399 ông mất, thọ trên 60 tuổi, vua Trần thương tiếc sắc chỉ cho dân
làng Linh Giàng quê hương ông lập đền thờ. Ngày nay đến thờ Nhân Huệ vương
Trần Khánh Dư vẫn còn bên bến Linh Giàng.
- Ở tiết 4 của bài giáo viên dùng hai câu chuyện về Trần Quốc Tuấn để
giáo dục tinh thần yêu quê hương đất nước cho các em:
+ Trần Quốc Tuấn: Trần Quốc Tuấn là con An Sinh Vương Trần Liễu,
cháu gọi vua Trần Thái Tôn (Trần Cảnh) là chú ruột, quê ở làng Tức Mặc, huyện
Mỹ Lộc (Nam Định). Ông sinh năm 1226, mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý,
niên hiệu Hưng Long thứ 8 (tức ngày 3 tháng 9 năm 1300) tại Vạn Kiếp (Thị xã
Chí Linh)
Thuở nhỏ Trần Quốc Tuấn đã thông minh hơn người, được rèn luyện, giáo
dục toàn diện, sớm có chí và tài kiêm văn võ

Trần Quốc Tuấn) có hiềm khích với Trần Cảnh. Lúc sắp mất ông trăn trối lại với
Quốc Tuấn rằng: "Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì chết dưới suối vàng
cha cũng không nhắm mắt được".
Quốc Tuấn ghi nhớ điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải. Sau kháng
chiến chống quân Nguyến thắng lợi, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Yết
Kiêu và Dã Tượng. Hai người can ông: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời mà
để tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chắng đủ phú quý hay sao? Chúng tôi


xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu". Một
lần khác Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương
Trần Quốc Tảng, Quốc Tảng liền thưa: "Tống Thái tổ vốn là một ông lão làm
ruộng, đã thừa cơ dấy vận lên lấy được thiên hạ", Quốc Tuấn rút gươm kể tội:
"Tên loạn thần từ đứa con bất hiếu mà ra", định giết Quốc Tảng... Khi Quốc Tuấn
lâm bệnh, vua Anh Tông đến thăm và hỏi kế sách giữ nước, ông trả lời ... "Có
được đội quân một lòng như cháu con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức
dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".
Sau khi ông mất, vua Trần Anh Tông tặng phong là "Thái sư, Thượng phụ,
Thượng quốc công, Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương", và tự soạn văn bia ca ngợi
công đức của Trần Quốc Tuấn.
Đền Kiếp Bạc (thuộc xã Hưng Đạo, Chí Linh) ngày nay là khu tưởng niệm
lớn của cả nước là di tích lịch sử được xếp hạng đặc biệt quan trọng, hàng năm
nhân dân khắp nơi trong nước về hội đền từ ngày 15 đến 20 tháng 8 âm lịch.
Là nhà quân sự kiệt xuất, ông đã đúc rút kinh nghiệm của mình, kế thừa tinh
hoa quân sự của các triều đại trước, viết thành sách lưu lại cho đời sau như: Binh
Thư yếu lược, Vạn Kiếp Tông bí truyền thư, Hịch tướng sĩ.
* Bài 16: "Sự suy sụp của nhà Trần cuối thế kỉ XIV"
Nội dung của bài này giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tinh thần vượt
gian khổ, hi sinh để chóng lại áp bức, cường quyền. Ở bài này giáo viên dùng hình
ảnh của Ngô Bệ một nhân vật lịch sử ở địa phương Hải Dương để giáo dục lòng

Hà Nội). Mẹ là Trần Thị Thái con gái Trần Nguyên Đán, tể tướng nhà Trần.
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442. Lúc trẻ đã văn chương nổi
tiếng. Năm 20 tuổi đỗ Thái Học sinh, khoa Canh Thìn (1400). Hai cha con cùng
làm quan phục vụ nhà Hồ. Ông giữ chức chính chưởng đài ngự sử.
Năm 1407, nhà Minh mượn cớ "Phù Trần diệt Hồ", đem quân xâm lược
nước ta. Phi Khanh bị giặc bắt giải về Kim Lăng (Trung Quốc). Nguyễn Trãi theo
cha đến ải Nam Quan. Phi Khanh khuyên ông "Hãy trở về tìm kế cứu nước, trả


thù cho cha". Ông nghe lời cha trở về quyết tâm rửa hận, không may bị sa vào tay
giặc, suýt bị Trương Phụ giết. Hoàng Phúc thâm hiểm giam lỏng ông ở Đông
Quan (Hà Nội) hòng dần dần thuyết phục mà dùng sau này.
Mười năm trong tay giặc, thù nhà nợ nước canh cánh trong lòng. Năm 1418
Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa), ông trốn vào Thanh Hóa, yết kiến Lê
Lợi, dâng sách Bình Ngô và được Lê Lợi trọng dụng. Trong 10 năm kháng chiến
gian khổ chống giặc Minh, giải phóng đất nước. Nguyễn Trãi trở thành linh hồn
của cuộc khởi nghĩa. Ông là người giúp Lê Lợi rất đắc lực trong mưu kế quân sự
và ngoại giao. Ông đã thay Lê Lợi thảo những thư từ giao thiệp với quân Minh.
Năm 1428, kháng chiến thành công, ông lại thay Lê Lợi viết "Bình Ngô đại
cáo" nổi tiếng. Đó là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc. Vì có công lớn
với đất nước, Nguyễn Trãi được thăng chức Triều liệt đại phu, nhập nội hành
khiển, Thượng thư bộ lại, kiêm làm việc Viện khu mật. Lại được phong Quan
phục hầu và được Lê Thái Tổ cho đổi ra họ vua, là họ Lê, vì vậy có sách chép là
Lê Trãi.
Năm 1442 ông làm chính giám thị kỳ thi Tiến sĩ đầu tiên, đúng lúc đó bọn
gian thần tìm cách ám hại ông. Vụ biến Lệ Chi Viên là cớ để chúng buộc tội ông
chủ mưu giết vua và kết án Tru di tam tộc. Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (tức
ngày 19 tháng 9 năm 1442) Nguyễn Trãi cùng ba họ bị giết bởi lưỡi dao oan
nghiệt của triều đình hèn hạ, ngu muội, do chính ông đã "nếm mật năm gai" mười
năm gian khổ để xây dựng nên.

cờ "Đông Đạo tổng quốc bảo dân đại tướng quân" của ông được giương lên ở Đồ
Sơn (Hải Phòng) chẳng bao lâu tung bay khắp một vùng rộng lớn. Khẩu hiệu:
"Lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo" do ông đề ra đã cổ vũ hàng vạn nông dân
vùng lên đấu tranh. Dưới sự chỉ huy tài giỏi của ông, nghĩa quân chiếm lĩnh miền
Duyên Hải từ Hải Phòng, Quảng Ninh lên Kinh Bắc (Bắc Ninh) uy hiếp thành
Thăng Long rồi tiến xuống Sơn Nam (nam Hà, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Đông)
đánh vào tận Thanh Hóa.


Năm Giáp Tý (1744) trước thế lực nghĩa quân ngày càng mạnh, chúa Trịnh
sai hai tướng giỏi là: Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng đi
Đồ Sơn để đàn áp nghĩa quân. Vốn có tư thù từ trước, Phạm Đình Trọng dốc toàn
lực lượng bí mật đánh úp. Nghĩa quân bị bất ngờ thua to. Nguyễn Hữu Cầu phải
vượt biển vào Nghệ An. Ở đây ông tiếp tục chiêu tập nghĩa binh khởi nghĩa.
Nhưng lực lượng không đủ mạnh. Trước sức tấn công của quân Trịnh, nghĩa quân
phải rút vào núi Hoàng Mai - Nghệ An, cuối cùng ông bị bắt đóng cũi giải về kinh.
Trên đường đi, ông vẫn ung dung làm bài thơ "Chim trong lồng" để nói lên chí khí
lớn của mình.
4.2.1.3: Lịch sử lớp 8
Bài 26: "Phong trào kháng chiến chống Pháp trong những năm cuối thế
kỉ XIX"
Ở bài này giáo viên dùng hình ảnh của Đốc Tít một nhân vật ở địa phương
Hải Dương tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy để giáo dục cho các em
lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc.
Đốc Tít: Ông tên thật là Nguyễn Tất Thắng, còn gọi là Nguyễn Ngọc Tích,
Nguyễn Đức Thiệu thường gọi là Đốc Tít. Không rõ ông sinh và mất năm nào, quê
ở làng Yên Lưu thượng phủ Kinh Môn (nay thuộc làng An Lưu thượng Thị trấn
An Lưu huyện Kinh Môn)
Ông dáng người nhỏ bé, nhưng khỏe mạnh, lanh lợi, rất giỏi võ và lại có
nhiều tài lẻ. Tương truyền khi ông còn nhỏ, bố mẹ có tham gia một cuộc khởi

4 mặt. Suốt trong một tháng địch tấn công liên tiếp, nã đại bác vào căn cứ, nhưng
dựa vào địa thế hiểm trở nên nghĩa quân đã đánh bật địch ra ngoài, gây cho chúng
nhiều tổn thất. Sau đó địch vừa tăng cường lực lượng tấn công vừa dụ hàng. Trải
qua 7, 8 năm chống Pháp, lúc này phong trào Bãi Sậy đã bắt đầu thoái trào và lực
lượng nghĩa quân cũng đã giảm sút. Trong lúc địch bao vây ở vào thế đường cùng,
để bảo toàn sinh mạng cho số nghĩa quân còn lại, Đốc Tít phải ra hàng. Tháng 11890 Đốc Tít và gia quyến bị đày snag An-giê-ri. Ông mất ở đấy.


4.2.1.4: Lịch sử lớp 9
Bài 26: "Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp (1950-1953)"
Để giáo dục tinh thần dũng cảm quên mình cho nền độc lập của dân tộc giáo
viên dùng hình ảnh của Anh hùng lực lượng vũ trang Mạc Thị Bưởi, người con ưu
tú của nhân dân Nam Sách anh hùng để giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào
dân tộc.
Mạc Thị Bưởi: Mạc Thị Bưởi sinh năm 1927 trong một gia đình nông dân
nghèo ở làng Long Động, xã Tân Hưng (nay là xã Nam Tân huyện Nam Sách)
một xã nằm bên sông Kinh Thầy. Ông thân sinh mất sớm, bà mẹ phải vất vả đi
làm thuê, cấy rẽ lúa nuôi Bưởi và các em gái. Lớn lên sau Cách mạng Tháng Tám,
Mạc Thị Bưởi làm cán bộ phụ nữ kiêm nhiệm vụ giao thông liên lạc cho chi bộ và
du kích của xã. Chị đã kiên trì học bình dân để biết chữ, hoàn thành tốt nhiệm vụ,
được kết nạp Đảng năm 1948.
Thực dân Pháp và tay sai lập hệ thống đồn bốt bên sông Kinh Thầy để ngăn
chặn sự liên lạc của vùng Đông Bắc với căn cứ chiến khu Chí Linh - Đông Triều.
Mạc Thị Bưởi là người phụ nữ đầu tiên tham gia đội du kích của xã, quấy rối bốt
địch, phá hoại đường dây điện thoại, diệt bọn lính nghĩa dũng, phá tề, trừ gian.
Bọn địch tăng cường vây ráp, khủng bố, ban đêm bắt dân làng phải ngủ tập trung,
cán bộ cốt cán của xã phải ẩn nấp ngoài đồng. Mạc Thị Bưởi đã bất chấp hiểm
nguy, khôn khéo làm nhiệm vụ tiếp tế, liên lạc giữa tổ chức Đảng ở xã, với huyện,
nhiều lần ban đêm lội qua sông Kinh Thầy khi tàu địch đang tuần tiễu.

* Bài 15: "Sự phát triển kinh tế và văn hóa thời Trần"
- Tuệ Tĩnh: Tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, pháp hiệu là Tuệ Tĩnh Thiền Sư,
biệt hiệu là Hồng Nghĩa, người làng Nghĩa Phú - tổng Văn Thai - Cẩm Giàng (nay
là xã Cẩm Vũ - Cẩm Giàng)


Theo tư liệu thì Tuệ Tĩnh sinh năm 1330, húy là Phúc Trình, ông có tướng
mạo ngũ trường (người và chân tay dài). Thông minh, giỏi võ, mắt giống mắt
Phật. Cha mẹ mất sớm, Nguyễn Bá Tĩnh đi làm Thiền đồng ở chùa Hải Triều
(chùa Giám). Lớn lên ông theo học thầy Phạm Tử Di, do chăm chỉ, học giỏi được
thầy yêu quý gả con gái cho
Năm Tân Mão (1351) ông đỗ Hoàng giáp lúc 22 tuổi. Ông được triều đình
trọng dụng phong chức Bình Tây tướng quân, đi đánh Chiêm Thành. Nửa sau thế
kỉ XIV triều Trần suy yếu, chính sự rối ren, ông chán ghét thời cuộc, từ quân đi
chu du thiên hạ làm nghề thuốc cứu giúp dân lành. Từ đó nghề y là sự nghiệp của
cuộc đời ông. Quan điểm của ông là "Thuốc Nam trị bệnh người nam Việt". Ông
sử dụng các loài cây cỏ Việt Nam để chữa bệnh, dùng các bài thuốc và phương
pháp điều trị thông thường trong dân gian, ghi chép lại như: châm cứu, chườm,
xoa bóp ...
Tuệ Tĩnh thiền sư là người có công đặt nền móng xây dựng sự nghiệp y học
dân tộc từ buổi đầu. Tương truyền vì giỏi y học ông được vua Trần cử đi sứ nhà
Minh năm Giáp Tý (1384). Ở Trung Quốc ông chữa khỏi bệnh cho Hoàng hậu vua
Minh, được vua Minh phong là "Đại y thiền sư". Do giỏi y học vua Minh giữ lại
không cho về. Biệt xứ ở nước ngoài ông vẫn say mê nghiên cứu y học và viết
sách. Đến nay nhiều tài liệu y học của Tuệ Tĩnh còn lưu lạc ở Trung Quốc mà
chúng ta chưa khai thác được.
Thiền sư Tuệ Tĩnh được nhân dân và giới y học tôn là Y Thánh và được lập
miếu thờ ở Hà Nội, Hải Dương. Suốt đời cống hiến cho sự nghiệp y học, ông đã
để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Bộ sách "Nam dược thần hiệu" của ông giới thiệu
580 vị thuốc nam và 3873 phương thuốc điều trị 184 loại bệnh. Ngày nay di sản y

làm thơ, viết sách tiêu dao cùng năm tháng và đặt tên cho mình là Tiều Ẩn.
Tuy ở chốn lâm tuyền, ông vẫn không quên vận mệnh quốc gia và triều đình
cũng không quên một nhân tài mẫu mực. Khi triều đình có đại sự, mời ông vào
tham dự, bao giờ ông cũng tâu bầy thẳng thắn, hi vọng giữ vững kỉ cương làm cho



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status