skkn tổ chức hoạt động ngoại khóa về lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử 7 - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Tổ chức hoạt động ngoại khóa về Lịch sử địa phương
trong dạy học Lịch sử 7
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lịch sử khối 7
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Hải Yến

Nam (Nữ): Nữ

Ngày/tháng/năm sinh: 21/ 10/ 1979
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm chuyên ngành Lịch sử
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên – Tổ phó Tổ Khoa học Xã hội
Trường THCS Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương.
Điện thoại: 0984473432
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Cộng Hòa, Chí
Linh, Hải Dương; Điện thoại: 03203.882.669
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Môi trường giáo dục gồm: Giáo viên, học sinh và các cơ sở vật chất
của trường học.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2012 – 2013
HỌ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN

Nguyễn Thị Hải Yến

1


2


2. Đối tượng áp dụng sáng kiến
a. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy và học các vấn đề ngoại khoá lịch sử địa phương ở
trường THCS.
- Học sinh bậc THCS, cụ thể là học sinh khối 7
b. Phạm vi đề tài
- Hoạt động ngoại khoá vô cùng phong phú và đa dạng với những hình
thức khác nhau. Trong phạm vi đề tài này tôi xin đề cập đến một vấn đề nhỏ
đó là tổ chức một hoạt động nói chuyện lịch sử vể chủ đề:
“Anh hùng Trần Hưng Đạo với di tích lịch sử đền Kiếp Bạc”
3. Nội dung sáng kiến
- Tiến hành sưu tầm nghiên cứu về lịch sử địa phương với chủ đề:
“Anh hùng Trần Hưng Đạo với di tích lịch sử đền Kiếp Bạc” và thực hiện
hoạt động nói chuyện lịch sử về nội dung trên.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
- Qua đề tài này tôi mong muốn cung cấp nguồn tư liệu những sự kiện,
hiện tượng, di tích, những đánh giá…để góp phần vào việc hiểu biết về anh
hùng Trần Hưng Đạo với di tích lịch sử Kiếp Bạc – làm cho học sinh hiểu rõ
hơn về lịch sử địa phương, về những anh hùng dân tộc găn liền với những di
tích lịch sử trên quê hương mình, tự hào về truyền thống đấu tranh đánh giặc
giữ nước của cha ông, đồng thời giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức giữ gìn
và bảo vệ những di sản văn hoá do cha ông ta để lại.
5. Đề xuất
- Nhà trường tạo điều kiện cho học sinh được đi tham quan tìm hiểu
các di tích lịch sử có ở địa phương.

3

dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp.

4


Về mặt rèn luyện và phát triển: Ngoại khoá các vấn đề lịch sử địa
phương còn góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho các em, rèn
luyện cho các em thói quen học đi đôi với hành, hình thành cho các em các
kĩ năng về thực hành bộ môn như: Kĩ năng sưu tầm tư liệu, kĩ năng hệ thống
hoá tư liệu lịch sử địa phương…
Hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển học sinh. Nếu bài nội
khóa là hình thức bắt buộc của việc học tập, tuân thủ nghiêm ngặt chương
trình đã quy định về thời gian, nội dung…thì hoạt động ngoại khóa lại mở ra
một khả năng rộng lớn để hình thành các thói quen, kỹ năng về trí tuệ và
thực hành cho học sinh trong học tập lịch sử. Các em có thể tự chọn và tham
gia một công tác hợp với sở thích và trình độ của mình. Tính chất tự nguyện
trong việc tham gia hoạt động ngoại khóa đã phát huy năng lực nhận thức
độc lập, làm nảy sinh và phát triển hứng thú của học sinh
Tuy nhiên, vấn đề dạy và học lịch sử địa phương nhìn chung chưa
được người dạy và người học đầu tư và chú trọng nên kết quả của việc giáo
dục đạo đức tư tưởng cho học sinh đạt được kết quả chưa cao, chưa phát huy
được sức mạnh của bộ môn lịch sử trong việc giáo dục nhân cách, đạo đức tư
tưởng, truyền thống yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, dẫn tới
học sinh không biết về lịch sử địa phương.
Với những lí do trên nên tôi đã chọn đề tài là tổ chức một hoạt động
ngoại khoá lịch sử địa phương lớp 7 với chủ đề “Anh hùng Trần Hưng Đạo
với di tích lịch sử đền Kiếp Bạc” với mong muốn là góp thêm một số kinh
nghiệm để nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học lịch sử địa phương.
2. Thực trạng của vấn đề
Phát huy truyền thống yêu nước, giáo dục truyền thống cách mạng cho

những sự thật lịch sử dân tộc ta. Cho nên khi nghiên cứu lịch sử địa phương,
với sự tham gia của các lực lượng khác nhau dưới sự chỉ dẫn của người thực
hiện đề tài sẽ giúp học sinh tiếp cận với công tác nghiên cứu lịch sử, qua đó
giáo dục lòng yêu nước của thanh niên, học sinh ở địa phương quê hương,
những di sản văn hoá để lại. Đồng thời sẽ khơi dạy đạo lí “Uống nước nhớ
nguồn” nhắc nhở mỗi người khi sinh ra và lớn lên ở quê hương thì phải biết
cách sống, cách cư xử đúng mức. Ngày hôm nay, chúng ta được sống yên
ấm, là nhờ phần lớn vào công lao của các vị anh hùng đã xả thân vì nước, do
6


vậy chúng ta phải giữ gìn trân trọng những di sản của cha ông. Hơn nữa,
xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, nước ta mở rộng giao lưu văn hoá với
nước ngoài. Một số thanh thiếu niên đã quên đi nét văn hoá truyền thống của
quê hương mình hoặc hiểu biết rất sơ sài về lịch sử của địa phương mình.
Vậy để hiểu biết về truyền thống lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc
cần phải tìm hiểu quan tâm hơn nữa đến những di tích, danh lam thắng cảnh
ở địa phương mình. Từ đó biết trân trọng gìn giữ bảo tồn những di tích lịch
sử những danh lam thắng cảnh của quê hương, đặc biệt là giáo dục tư tưởng
đạo đức ý thức giữ gìn và bảo vệ những di sản văn hoá của cha ông để lại
cho các thế hệ trẻ. Căn cứ vào cơ sở đã trình bày, trong đề tài này tôi mạnh
dạn thực hiện sưu tầm nghiên cứu về lịch sử địa phương: “Anh hùng Trần
Hưng Đạo với di tích lịch sử đền Kiếp Bạc” và thực hiện hoạt động nói
chuyện lịch sử về nội dung trên.
Qua đề tài này tôi mong muốn cung cấp nguồn tư liệu những sự kiện,
hiện tượng, di tích, những đánh giá…để góp phần vào việc hiểu biết về anh
hùng Trần Hưng Đạo với di tích lịch sử Kiếp Bạc – Hiểu được truyền thống
cao đẹp của quê hương mình, góp phần làm tăng thêm lòng yêu quê hương
đất nước, niềm tự hào truyền thống tốt đẹp của Tổ tiên.
3. Các giải pháp, biện pháp thực hiện

dân tộc (Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo…). Các hồi kí, ký sự cách mạng.
Biện pháp thực hiện: Có hai hình thức đọc sách đem lại hiệu quả tốt:
Cá nhân tự đọc và đọc chung ở lớp, ở tổ. Hai hình thức này đều phải tiến
hành đối với mỗi học sinh, tùy theo kế hoạch, điều kiện tổ chức.
Đọc sách không phải để giải trí, mà cần biết ghi chép theo mẫu sau
đây:
- Tên sách.Tác giả .Thời gian đọc
- Nội dung của sách theo từng phần, từng chương, ghi chép những câu
thích thú…
- Những vấn đề rút ra sau khi đọc sách .
3.2. Kể chuyện lịch sử:
Đây là hình thức ngoại khóa hấp dẫn, dễ làm và có tác dụng giáo dục
cao. Nội dung kể chuyện lịch sử là việc phổ biến kiến thức lịch sử một cách
khoa học, chứ không phải những chuyện hư cấu. Do đó, nội dung câu chuyện
8


kể phải có chủ đề - một sự kiện, một nhân vật – dựa vào một tài liệu chính
xác. Có nhiều cách kể chuyện: kể lại nội dung một cuốn sách hay đã đọc, một
câu chuyện được ghi chép tài liệu, hay của chính người tham gia, chứng kiến
sự kiện thuật lại
Biện pháp thực hiện: Khi kể chuyện, nội dung câu chuyện phải liên
quan đến các sự kiện cơ bản trong bài học, chân xác, tránh li kì, không có giá
trị khoa học, không phù hợp với yêu cầu học tập. Kể chuyện phải làm cho
người nghe xúc động như được sống lại sự kiện ấy, như câu chuyện các
nhân chứng lịch sử hay việc trình bày của học sinh đã “nhập thân” với sự
kiện. Kể chuyện khác với thông báo. Nội dung bài kể chuyện không chỉ có
khối lượng sự kiện, tri thức được cung cấp, mà còn bao gồm cả việc phân
tích, nêu lên bản chất sự vật, hiện tượng. Nếu logíc của câu chuyện kể được
xây dựng trên cơ sở những sự kiện, tri thức chính xác thì nó có ý nghĩa giáo

thảo luận không chỉ để ghi nhớ nội dung một vấn đề, mà chủ yếu là khơi dạy
những suy nghĩ độc lập cuẩ các em. Chủ đề nêu ra là những vấn đề cơ bản có
tính chất tổng hợp, khái quát, những vấn đề mà nhiều người quan tâm, có liên
quan đến cuộc sông hiện tại.
Trong quá trình trao đổi, giáo viên cần động viên các em đề xuất và
giải quyết vấn đề theo suy nghĩ độc lập của mình, đồng thời cũng khiêm tốn
học tập và tôn trọng ý kiến của bạn. Giáo viên theo dõi, kịp thời bổ sung
những thiếu sót, uốn nắn các lệch lạc, khi kết thúc thảo luận có nhận xét,
đánh giá, rút kinh nghiệm.
Biện pháp thực hiện: Trao đổi, thảo luận được tiến hành trên cơ sở
một số chủ đề quan trọng, có tác động đến việc bổ sung kiến thức đã học. Ví
dụ, trao đổi, thảo luận về “ý nghĩa bước ngoặt” của việc thành lập Đảng với
cách mạng Việt Nam.
Có những hình thức tổ chức trao đổi thảo luận với nội dung phong phú
hơn, như tổ chức các “hộp thư” trao đổi trên báo tường.
3.5. Dạ hội lịch sử:
Dạ hội lịch sử là một hoạt động ngoại khóa có tính chất tổng hợp, thu
hút tất cả học sinh trong lớp, trường tham dự.
Biện pháp thực hiện: Lực lượng tham gia dạ hội lịch sử thường có ít
nhất 2 nhóm học sinh tham gia biểu diễn và đông đảo học sinh khác là khán
10


giả. Đối với cả hai nhóm, dạ hội lịch sử có tác dụng củng cố, làm sâu sắc,
phong phú thêm nhiều tri thức khoa học và nghệ thuật, gợi dậy những xúc
cảm làm cơ sở để giáo dục tình cảm bồi dưỡng óc thẩm mĩ, gây hứng thú học
tập bộ môn.
3.6. Tham quan có một vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông. Những dấu vết của quá khứ, những hiện vật trưng bày
trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức, mà còn để lại một ấn tượng

học lịch sử.
Biện pháp thực hiện: tiến hành dưới các hình thức vui chơi. Hinh thức
này phải phù hợp với sự sôi nổi của tuổi trẻ và có ý nghĩa giáo dục. Phân biệt
trò chơi lịch sử với việc thi tìm hiểu lịch sử. Trò chơi lịch sử không đòi hỏi
học sinh phải hiểu biết sâu rộng, chuẩn bị lâu và kỹ, như trong khi tìm hiểu
lịch sử mà dựa vào vốn hiểu biết sẵn có của ngươi tham dự, sự thông minh
nhanh trí
b. Gặp gỡ những chiến sĩ cách mạng, những người có thành tích trong
công tác, sản xuất chiến đấu. Hình thức này rất có tác dụng trong việc giáo
dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh. Bời vì tiếp xúc trực tiếp với
những con người thật-nhân chứng lịch sử - có sức thuyết phục mạnh với học
sinh hơn bất cứ các phương tiện dạy học nào khác.
Biện pháp thực hiện: Có thể nhân dịp kỉ niệm chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ (Ngày 7-5), giáo viên tổ chức cho học sinh gặp gỡ những người ở
các địa phương trường đóng đã từng tham gia chiến đấu ở Điện Biên Phủ.
Đây là hinh thức giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ để các em biết ơn
những ngừơi có công với đất nước, noi gương trong học tập và lao động.
c. Công tác công ích xã hội không chỉ có tác dụng củng cố, hiểu sâu
sắc hơn kiến thức, mà còn là biện pháp gắn nhà trường với xã hội, rèn luyện
năng lực hành động cho học sinh.
Biện pháp thực hiện:
- Xây dựng nhà bảo tàng, nhà truyền thống cách mạng địa phương.
Công việc này do giáo viên lịch sử phụ trách, nhưng phải kết hợp chặt chẽ
với chính quyền xã, ban văn hóa xã và biến thanh một việc chung của nhân
dân địa phương.

12


- Tổ chức triển lãm nói chuyện ở địa phương nhân ngày lễ lớn nhằm

Giỏi
SL
%
6
17,6
5
16,7
6
20,0

Kết quả
Khá
SL
%
20
58,9
16
53,3
13
43,3

Trung bình
SL
%
8
23,5
9
30,0
11
36,7

7C

34
30
30

Giỏi
SL
15
12
10

%
44,1
40,0
33,3

13


Qua bài thu hoạch của học sinh hầu hết các em đều trình bày được
những điểm cơ bản về anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo cũng như mối quan
hệ giữa Trần Hưng Đạo với di tích lịch sử Kiếp Bạc.
Như vậy qua việc giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động
ngoại khóa lịch sử địa phương đã giúp học sinh lĩnh hội được những kiến
thức lịch sử, làm cho các em hiểu rõ về lịch sử địa phương, về những anh
hùng dân tộc găn liền với những di tích lịch sử trên quê hương mình, tự hào
về truyền thống đấu tranh đánh giặc giữ nước của cha ông, đồng thời giáo
dục tư tưởng đạo đức, ý thức giữ gìn và bảo vệ những di sản văn hoá do cha
ông ta để lại.

như đánh giá còn có những vấn đề chưa đề cập tới, có những quan điểm còn
phải tranh luận, còn có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi. Tôi rất
mong muốn và biết ơn những đóng góp chân thành của các thày cô và đồng
nghiệp, để kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện và có hiệu quả thiết thực với
bộ môn trong những năm tới.

15


PHỤ LỤC: THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
HÌNH THỨC: NÓI CHUYỆN LỊCH SỬ
Đề tài "Anh hùng Trần Hưng Đạo với di tích lịch sử Kiếp Bạc"
Đối tượng: Học sinh khối 7
16


1.Giới thiệu: Thân thế, sự nghiệp anh hùng Trần Hưng Đạo.
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228?-1300) là con An Sinh
Vương Trần Liễu và bà Nguyệt phu nhân, cháu vua Trần Thái Tông. Quê
quán tại hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, trấn Nam Sơn hạ, nay là huyện
Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Thủơ nhỏ, ông có tư chất hơn người, thông minh tài
trí lại được giáo dục toàn diện nên sớm trở thành một trang tuấn kiệt, văn võ
song toàn. Ông luôn được ngồi bên Thái Tông hoàng đế để bàn luận nghĩa
lý, kinh sách, thường giảng dạy tôn tử binh pháp, bát trận đồ cho các tướng
sĩ. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo gắn liền với cuộc kháng chiến
chống xâm lược Nguyên Mông của nhân dân Đại Việt.
Thế kỷ XIII đế quốc Nguyên Mông tung vó ngựa xâm lược các quốc
gia từ bờ biển Thái Bình Dương đến bờ biển Hắc Hải. Các dân tộc từ Á sang
Âu phải chịu cảnh nô lệ hoặc bị xoá tên trên bản đồ thế giới, biết bao nhiêu

đánh giặc.
Tháng 2/1285 sau trận giao chiến quyết liệt ở ải Nội Bàng (Chũ - Bắc
Giang) với hàng vạn quân Mông cổ do Thoát Hoan chỉ huy, Trần Hưng Đạo
đã rút lui về Vạn Kiếp. Tại đây, ông tập trung hơn 20 vạn quân và hơn 1000
thuyền chiến, trong đó phần lớn là lực lượng của bốn vị con trai đóng ở các
xứ: Bằng Hà -Thanh Hà, Trà Hương - Kinh Môn, Na Sầm - Lục Ngạn, Kiến
Thuỵ -Hải Phòng...chuẩn bị cho cuộc chặn đánh chiến lược, hòng ngăn mũi
tấn công của kẻ thù, bảo vệ kinh thành Thăng Long. ý chí và tinh thần đấu
tranh kiên cường bất khuất của vua tôi nhà Trần càng được nâng lên khi Trần
Hưng Đạo khẳng khái rằng: "Hãy chém đầu thần trước rồi hãy hàng"…
Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần ba (1288) nhận thấy ưu thế
chiến lược của Vạn Kiếp, ngay từ buổi đầu quân Nguyên đã chiếm đóng nơi
đây thành căn cứ quân sự hùng hậu, phòng bố vững chắc. Vạn Kiếp trở
thành vùng đệm chiến lược. Tháng 3/1288, từ căn cứ Vạn Kiếp, Hưng Đạo
Vương cùng vua Trần Nhân Tông, Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông tổ
chức phản công, đánh trận quyết chiến Bạch Đằng, tiêu diệt và bắt sống 30 vạn
quân xâm lược, kết thúc thắng lợi 3 lần kháng chiến chống đế quốc Nguyên
Mông vĩ đại của dân tộc.
Trần Hưng Đạo với bản lĩnh, tinh thần, tài năng, trí tuệ của bậc thống
soái quân sự đã khéo léo sắp đặt, sử dụng, khai thác triệt để Vạn Kiếp với
18


đầy đủ tiềm năng và giá trị vốn có, ứng phó kịp thời, phù hợp trong từng kế
sách tiến, lui, phòng, phản chiến lược. Chính vì vậy, trong hai cuộc kháng
chiến lần hai, lần ba, tại Vạn Kiếp đã diễn ra hơn 6 lần giao chiến quyết liệt
giữa quân ta và quân Nguyên, đã không ít tướng sĩ của ta phải tử trận, và
thây xác của kẻ thù phải bỏ mạng nơi đây.
Kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Trần Hưng Đạo cùng
phu nhân về sống những năm tháng thanh bình tại tư dinh Vạn Kiếp - mảnh

đình bãi triều 10 ngày, các quan mặc áo tang. Vua thân đi xe mộc, ngựa
trắng đến lo tang lễ.
Trần Hưng Đạo Đại Vương mất đi là tổn thất lớn cho nhân dân Đại
Việt
Trước khi qua đời, Trần Hưng Đạo căn dặn con cháu rằng: "Ta chết
tất phải hoả táng cho xương vào ống tròn, chôn ở vườn An Lạc sau trồng
cây như cũ, người đời sau không biết đâu mà tìm" .
Là bậc kỳ tài, tinh thông nho, y, lý, số Trần Hưng Đạo chọn vật hình
tròn tượng trưng cho vũ trụ - Trời (càn) thuộc về dương, hợp với mình (nam
giới) để về yên nghỉ trong lòng Đất (khôn) thuộc về âm để được hài hoà, hợp
với lẽ tự nhiên của trời đất. (Trích Đại Việt Sử Ký toàn thư, tr78.)
Sau khi mất Trần Hưng Đạo được Triều đình phong: Thái Sự
Thượng Phụ, Thượng Quốc Công, Bình Bắc Đại Nguyên Suý, Vĩ Liệt
Hồng Huân Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương, sắc chỉ cho nhân dân Vạn
Kiếp lập đền thờ tại thái ấp của Người, nay gọi là Đền Kiếp Bạc.
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất đi, để lại cho dân tộc di
sản là những trước tác tư tưởng chính trị, khoa học, quân sự, văn hoá vượt
thời đại.
* Về quân sự:
Ông soạn “Binh Thư yếu lược”, viết “ Vạn Kiếp Tông Bí Truyền
Thư”, thảo “Hịch Tướng Sĩ” khích lệ tinh thần, ý chí đấu tranh của quân sĩ.
Đây là những tác phẩm quân sự xuất sắc, là bản anh hùng ca bất hủ của dân
tộc, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển của binh pháp Việt Nam.
Đương thời, ông luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân,
chăm lo vun đắp, mối đoàn kết đồng tộc, dạy quân lính tướng sĩ phải hoà
thuận, trên dưới một lòng
20


Ông dạy người làm tướng: "Trong quân có người ốm thì tướng phải

giá, tiếng đàn sao vi vu ngoài phủ đệ. Thánh Vương liền hoá"(. Sự tích Đức
Thánh Trần/ Hoàng Giáp, Nguyễn Khăc Minh, trang 26, 27)
21


Sự huyền diệu, siêu trần về nguồn gốc của Đức Thánh Trần cùng với
quá trình lịch sử hoá nhân vật lịch sử đã "bảo lãnh " cho sự ra đời của dòng
nội đạo mang đậm màu sắc đạo giáo Việt Nam, đứng đầu là giáo chủ : Đức
thánh Trần.
Đức thánh Trần ngự trị trong tâm thức của tín đồ Đạo nội, có mặt ở
hầu hết các thần điện, đình đền, miếu mạo của làng quê Việt Nam, đặc biệt
"Đạo nội ở Bắc Việt phát triển nhất ở đền Kiếp Bạc huyện Chí Linh Tỉnh
Hải Dương - nơi thánh địa của anh hùng". Mặc nhiên, Vạn Kiếp/ đền Kiếp
Bạc trở thành trung tâm văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng lớn của đất nước.
2. Giới thiệu: Lễ hội truyền thống tại đền Kiếp Bạc- Chí Linh Hải Dương
Gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hoá và cảnh quan thiên nhiên
Kiếp Bạc là kho tàng văn hoá phi vật thể phong phú về loại hình, đa dạng về
chức năng, chứa đựng trong đó là dấu ấn, tình cảm của bao lớp người lao
động bình dân đến tư tưởng tri thức của các bậc hiền tài, các vị quân vương,
thánh thần tiêu biểu của các triều đại phong kiến, bao gồm: Phong tục tập
quán, Lễ hội truyền thống, Nghề cổ truyền, Văn hoá ẩm thực, Nghệ thật dân
gian, Tri thức dân gian. Các giá trị văn hoá này được bồi tích theo thời gian có
sức lan toả và ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống tâm linh mỗi người. Đặc biệt
trong đó, Lễ hội truyền thống đền Kiếp Bạc chiếm một vị trí quan trọng, là
điểm hẹn thiêng liêng của đồng bào cả nước.
Dù ai buôn bán gần xa
Hai mươi tháng tám giỗ Cha thì về
"Tháng tám giỗ Cha" từ lâu đã đi sâu vào tâm thức thiêng liêng của
mỗi người dân Việt Nam, trở thành tập tục văn hoá truyền thống uống nước
nhớ nguồn của dân tộc. Hàng năm, lễ hội Kiếp Bạc tổ chức từ 15 - 20/8 âm

khúc chuối cắm hương, đốt nến, vàng mã trôi trên mặt nước cầu siêu, thả đèn
trời lung linh huyền ảo, bừng sáng mây trời Vạn Kiếp.
Hội Kiếp Bạc còn hấp dẫn bởi những trò chơi dân gian đặc sắc, thể
hiện tinh thần thượng võ, biểu dương tài năng, sức mạnh của quân dân nhà
Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, khoe tài đọ sức trước cửa
thánh nhằm cầu phúc, cầu mùa, cầu quốc thái dân an, như đua thuyền, đấu
vật, bắt vịt dưới nước, đập niêu, đi cầu thùm, múa rối...
23


Trong tín ngưỡng dân gian, Đức Thánh Trần được tôn vinh là giáo chủ
của Đạo nội Việt Nam, đã hình thành và quy tụ hệ thống tín đồ lớn, đứng
đầu là thanh đồng( xuất phát từ linh danh thanh y đồng tử của Đức Thánh),
hành đạo ở trung tâm - đền Kiếp Bạc và các đền, phủ thờ Đức Thánh như
đền Trần, Đền Cố Trạch (Nam Định), đền A Sào (Thái Bình)...
Nghi thức đặc trưng của Đạo nội diễn ra ở Kiếp Bạc là: Cầu duyên,
cầu tự, bắt ma, trừ tà, chữa bệnh Phạm Nhan... “Trong những ngày hội nhiều
phụ nữ sinh con không nuôi được thường qùy niềm thần chú trước sân đền.
Ông đồng quần áo loè loẹt dắt cờ xanh đỏ quanh người, nhẩy múa gõ trống
khua thanh la, đánh đuổi ta ma đang ẩn nấp trong người phụ nữ. Khi người
phụ nữ bị thôi miên thường có những động tác sợ sệt, lăn lộn, đập đầu
xuống đất, đầu óc ruc rượi, thậm trí còn lao xuống sông… thì đó là ta ma đã
bị trừ”( Việt Nam phong tục/ Phan Kế Bính, năm 1990). Đặc biệt ở đây phổ
biến hình thức bùa ngải để diệt trừ tà ma: phía trước cửa đền có giếng nước
cổ, mọi người coi đó như nước thần, mong muốn được uống để diệt trừ tà
ma, giúp sinh con đẻ cái theo nguyện ước, phía sau hậu cung có gò đất cao,
người ta cho rằng lấy những mẫu đất, ăn vào có thể giúp người phụ nữ sinh
con dễ dàng và mang lại điều lành cho trẻ sơ sinh. Đáng chú ý nữa ở đền
Kiếp Bạc còn có phong tục “ vào cửa Cha, ra cửa Mẹ” cầu sức khoẻ, bình an
và nghi lễ hầu bóng được xem là nét văn hoá tâm linh đặc sắc, lôi cuốn, hấp

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status