UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
*******************
BẢN MÔ TẢ KINH NGHIỆM
“ Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn”
Môn: Ngữ văn
Năm học 2014 - 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Sáng kiến: Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn lớp 9
3. Tác giả: Phạm Thị Liễu - Nữ
Ngày/ tháng/năm sinh: 20/2/1972
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Khoa học xã hội
Đơn vị công tác: THCS Hoàng Tân
Điện thoại: 0975.691.795
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Đơn vị: Trường THCS Hoàng Tân
- Địa chỉ: Phường Hoàng Tân – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương
- Điện thoại: 0320.590.054
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu : Trường THCS Hoàng Tân.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Đối tượng học sinh lớp 9
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013 – 2014.
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh trường THCS, tập trung vào đối tượng lớp 9
- Phạm vi: Tập trung đi sâu tìm hiểu các ý nghĩa, tầm quan trọng và cách tích hợp
kiến thức liên môn trong dạy học các văn bản thuộc chương trình Ngữ văn 9.
3
2.3. Đối tượng áp dụng: Trong bài viết này, tôi trình bày vai trò, ý nghĩa, tầm
quan trọng của cách thức tích hợp kiến thức liên môn trong tiết học Ngữ văn lớp 9.
Bên cạnh đó, hình thức này còn áp dụng phương pháp này ở cả các tiết học văn
bản trong trường THCS.
3. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, tôi sử
dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Tìm hiểu, nghiên cứu đặc thù của bộ môn Ngữ văn 9, trọng tâm là các văn bản.
- Phương pháp trắc nghiệm hứng thú của học sinh đối với việc học môn Ngữ văn
và tích hợp kiến thức liên môn trong giờ học. Trong số em học sinh được phỏng
vấn và trả lời phiếu trắc nghiệm khách quan, tôi nhận thấy trên 70% số đối tượng
tham gia khảo sát đều cho rằng không thích học môn Ngữ văn do mệt mỏi, đơn
điệu, phải ghi chép nhiều. Và 100% các em rất hứng thú với việc tích hợp kiến
thức liên môn trong giờ học Ngữ văn.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu đã có về tích hợp kiến thức liên môn trong dạy
họ, quan sát học sinh trong các tiết học.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh, tổng kết kinh nghiệm.
4. Điểm mới của đề tài: Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn là
phương pháp không hoàn toàn mới mà đã được ứng dụng khá nhiều từ những năm
trước đây. Tuy nhiên hình thức hoạt động này chưa được vận dụng nhiều vì tâm lí
thầy cô sợ mất nhiều thời gian dẫn đến ảnh hưởng sang thời lượng của các đơn vị
kiến thức trong bài dạy, không đảm bảo thời gian hướng dẫn các em tìm hiểu kiến
thức trọng tâm. Hơn nữa, nếu tích hợp kiến thức lan man sẽ dễ gây nhàm chán làm
loãng không khí tiết học.Vì vậy, qua quá trình nghiên cứu, áp dụng, tôi thấy muốn
lớp 9. Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy rằng, các em không thích một phần do xu hướng
cho rằng môn Ngữ văn không có tính ứng dụng cao như các môn Toán, Lí, Hóa.
Nhưng nguyên nhân cơ bản là các tiết học Ngữ văn còn đơn điệu, tuy đã có sự đổi
mới nhưng chưa thoát ra khỏi tính lí thuyết khô khan, thiếu tính thực tế. Các tiết
học chưa có sự mở rộng phạm vi kiến thức ở nhiều lĩnh vực. Chính vì thế, khi học
5
môn Ngữ văn, các em thường chỉ tiếp cận kiến thức độc lập của riêng môn Ngữ
văn mà chưa có sự liên hệ với các môn khác. Đó cũng là nguyên nhân mà các em
chưa hứng thú với môn học dẫn đến nắm kiến thức chưa chắc, chưa sâu, chưa áp
dụng được kiến thức đã học vào cuộc sống.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy
học Ngữ văn ở trường THCS chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí
luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn
cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ
thuật... mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy
học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập
giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến
thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau
này. Nói khác đi, đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các
bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn và các môn học khác . Vận dụng quan
điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn chính là cách thức để khắc phục, hạn chế lối
dạy học độc lập từng môn học, nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức
và kĩ năng mà HS lĩnh hội được, bảo đảm cho mỗi HS khả năng huy động có hiệu
quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý
nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng
gặp... Mặt khác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng
thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn
riêng rẽ không có được.
3. Sơ lược cách hiểu về “ Tích hợp kiến thức liên môn”.
3.1. Quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung.
Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào
quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục
pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông...
7
Còn tích hợp liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến
hai hay nhiều môn học để dạy, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một
nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau.
Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành
các chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song
song với quá trình dạy học các bộ môn liên quan.
3.2. Sự khác nhau giữa chủ đề "đơn môn" và chủ đề "liên môn"?
Chủ đề đơn môn đề cập đến kiến thức thuộc về một môn học nào đó còn chủ
đề liên môn đề cập đến kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học.
Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thì không có gì khác biệt. Đối với
một chủ đề, dù đơn môn hay liên môn, thì chúng ta vẫn phải chú trọng việc ứng
dụng kiến thức của chủ đề ấy, bao gồm ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng
dụng trong các môn học khác. Do vậy, về mặt phương pháp dạy học thì không có
phân biệt giữa dạy học một chủ đề đơn môn hay dạy học một chủ đề tích hợp liên
môn. Điều quan trọng là dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh đòi hỏi phải
tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, mà các hoạt động
ấy phải được tổ chức ở trong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường, ở nhà và
cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào
giải quyết những vấn đề thực tiễn.
4. Vai trò, tác dụng của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ
văn.
việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác. Tuy nhiên
khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục bởi hai lý do:
- Thứ nhất, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường
xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã
có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó.
- Thứ hai, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên
không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định
hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học. Vì vậy, giáo viên
9
các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau
trong qua trình hoạt động dạy học. Đặc biệt giáo viên định hướng để cho chính các
em học sinh có thể tự tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học.
Như vậy, dạy học tích hợp kiến thức liên môn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao
kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên
bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên
môn, tích hợp.
5. Những môn học có thể khi tích hợp khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn
bản Ngữ văn 9.
- Trong quá trình học tập ở nhà trường, các em sẽ được học các môn học bao gồm
các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Khoa học tự nhiên gồm các môn:
Toán, Lí, Hóa, Sinh, Địa…, và khoa học xã hội gồm: Văn, Sử, Giáo dục công dân,
Âm nhạc, Mĩ thuật… Giữa các bộ môn trong nhóm có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong một giờ học văn bản lớp 9, chúng ta có thể tích hợp với nhiều môn học
khác nhau, trong đó một số môn được tích hợp nhiều ở tiết dạy văn bản là:
* Tích hợp với môn Lịch sử:
- Có thể nói, đây là bộ môn được tích hợp nhiều nhất khi dạy tác phẩm văn học.
Bởi các tác phẩm được học trong chương trình có quan hệ mật thiết với lịch sử.
Khi tìm hiểu một tác phẩm văn học, bao giờ ta cũng phải đặt tác phẩm vào hoàn
dung dạy học môn Giáo dục công dân. Khi ta tích hợp với môn học này, học sinh
sẽ biết vận dụng từ những kiến thức thành bài học để ứng dụng vào trong cuộc
sống.
Ví dụ: Tích hợp GDCD 8, bài “ Xây dựng tình bạn lành mạnh” với bài “ Đồng
chí” các em học tập được tình tri kỉ của những người lính. Hay tích hợp bài
“ Lí tưởng sống của thanh niên”, bài “ Năng động sáng tạo”, “ Làm việc có năng
xuất, chất lượng, hiệu quả” với truyện “ Lặng lẽ Sa Pa”, ta sẽ giúp học sinh nhận
thấy các em cần phải sống có lí tưởng và từ đó các em có có ý thức xây dựng và
sống theo lí tưởng cao đẹp. Hoặc khi ta tích hợp với GDCD 6, bài “ Công ước liên
11
hiệp quốc về quyền trẻ em” với bài “ Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền
được bảo vệ và phát triển của trẻ em”, học sinh sẽ có nhận thức đúng đắn, đầy đủ
hơn về quyền trẻ em, trách nhiệm của mọi người. Từ đó tích cực tham gia vào các
hoạt động bảo vệ trẻ em, góp phần giúp cho trẻ em có đươc cuộc sống tốt hơn.
* Tích hợp với môn Mĩ thuật:
Đây là một phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học Ngữ văn, giúp học
sinh phát triển toàn diện về mọi mặt. Ví dụ như bài “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính”, Giáo viên có thể đưa ra những tranh, ảnh về cuộc kháng chiến chống Mĩ,
đặc biệt là hình ảnh những đoàn xe vượt qua mưa bom bão đạn để miền Bắc kịp
thời tiếp tế sức người sức của cho miền Nam ruột thịt, đánh thắng giặc Mĩ. Hay
sau khi dạy xong bài “ Đoàn thuyền đánh cá” ta có thể nêu yêu cầu cho học sinh
vận dụng kiến thức của môn Mĩ thuật để vẽ bức tranh theo nội dung của bài hoặc
của đoạn thơ nào đó mà học sinh thấy tâm đắc nhất. Chính quá trình vẽ tranh sẽ
giúp cho học sinh củng cố và nắm kiến thức sâu chắc hơn.
* Tích hợp với môn Ậm nhạc:
Vận dụng kiến thức âm nhạc sẽ làm cho giờ học Văn không còn đơn
điệu, tẻ nhạt mà trở nên vô cùng sôi nổi, hứng thú, không còn nặng nề, nhàm chán.
Vì thế mà các em dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hiểu bài hơn. Khi học bài “ Đồng chí”, bài
động, hấp dẫn có thể gây sự chú ý và hứng thú học tập cho HS, tạo cho các em
tâm thế tích cực chuẩn bị tiếp nhận bài mới.
Sử dụng tích hợp ngay từ khâu vào bài sẽ giúp khởi động bộ máy tư duy của
HS, buộc các em phải ý thức rõ đối tượng mình đang nhận thức và xác định hướng
huy động kiến thức đã có để giải quyết bài học mới.
6.3. Tích hợp liên môn khi dạy bài mới:
GV cần phải tìm ra những kiến thức ở những môn học khác nhau có thể tích
hợp để tạo không khí sôi nổi, hứng thú, đồng thời tránh được những sự trùng lặp
không cần thiết. Có vận dụng phương hướng tích hợp thì GV mới có thể truyền
đạt đầy đủ những nội dung kiến thức đa dạng, phong phú trong nội dung của các
văn bản.
13
6.4 Tích hợp liên môn khi củng cố, hướng dẫn HS tự học: Có thể tích hợp ở
phần củng để học sinh rút ra bài học cho bản thân sau khi được tiếp cận văn bản.
Tích hợp ở khâu này sẽ giúp cho bài học mà các em rút ra sẽ sâu sắc hơn. Sau đó,
phần làm bài tập ở nhà các em cũng có ý thức vận dụng kiến thức liên môn để
hoàn thành bài tập mà thầy cô giao như: vẽ sơ đồ tư duy, vẽ tranh, sáng tác nhạc
7. Một số phương pháp được sử dụng khi dạy học tích hợp kiến thức liên
môn.
Để nâng cao hiệu quả của môn học tích hợp, tôi xin đưa ra một số phương
pháp dạy học được sử dụng nhiều như sau:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
Trong các phương pháp trên, chúng ta thường sử dụng nhiều nhất phương pháp
nêu và giải quyết vấn đề. Đây là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra những
tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực,
chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn
chung của giờ học. Giáo án dạy theo hướng tích hợp kiến thức liên môn cũng
không có gì thay đổi nhiều so với giáo án truyền thống mà trên cơ sở giáo án
truyền thống người giáo viên chú ý đến kiến thức của các môn học khác được tích
hợp trong bài dạy.. Khi thiết kế một giáo án để dạy tích hợp kiến thức liên môn
cần chú ý những nội dung sau:
+ Trước hết, giáo viên cần xác định được chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt được
của bài. Cần xác định đâu là kiến thức trọng tâm, khối lượng kiến thức, thời gian.
Từ đó giáo viên mới xác định những kiến thức các bộ môn có liên quan đến nội
dung bài dạy.
+ Nội dung của giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải làm rõ những tri
thức và kĩ năng cần hình thành theo đúng chuẩn kiến thức kĩ năng và những kiến
thức của bộ môn khác có thể tích hợp được trong tiết học.
15
- Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn theo quan điểm tích hợp phải chú
trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương ứng là các hoạt động tích cực để
học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng của các phân môn vào xử lí các
tình huống đặt ra, qua đó giúp học sinh không những lĩnh hội được những tri thức
và kĩ năng riêng của môn Ngữ văn mà còn chiếm lĩnh tri thức của các môn học
khác.
8.2. Những điểm cần tránh khi thiết kế giáo án tích hợp kiến thức liên môn
trong dạy văn bản lớp 9.
Chúng ta đều biết, khối lượng kiến thức của các văn bản được học trong
chương trình Ngữ văn 9 thường có dung lượng khá dài. Mặt khác, giáo viên lại
cần phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ, hiểu sâu để rèn cho các em khả năng cảm
thụ văn học, kĩ năng cơ bản chuẩn bị cho các em thi vào THPT. Trong một quỹ
thời gian hẹn hẹp như vậy, ta phải thiết kế giáo án như thế nào để vừa đảm bảo
kiến thức trọng tâm của bài, vừa tích hợp được với các kiến thức khác.
- Thứ nhất, chỉ nên tích hợp với kiến thức của các môn khác khi phù hợp, khi
văn” theo lối tái hiện, sao chép, làm thui chột dần năng lực tư duy, khả năng tự
đọc, tự tìm tòi, xử lí thông tin, tổ chức các kiến thức một cách sáng tạo.
10 . Giáo án minh họa.:
Sau đây, tôi xin phép được giới thiệu hai giáo án minh họa trong số các giáo án
mà tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy.
* Giáo án thứ nhất:
Tuần 2- tiết 7
ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH – Tiếp
- Gac-xi-a Mác-két -
A. Mục tiêu bài học
I . Kiến thức, kĩ năng, thái độ:
1.Kiến thức :
17
- Hiểu được nội dung vấn đề đặt ra trong văn bản : Nguy cơ chiến tranh hạt nhân
đang đe doạ toàn bộ sự sống trên trái đất, ảnh hưởng đến môi trường sống chiến
tranh hạt nhân là cực kì phi lí.
- Đoàn kết để ngăn chặn chiến tranh hạt nhân vì một thế giới hoà bình là nhiệm
vụ của mọi người.
- Thấy được nghệ thuật nghị luận của tác giả : Hệ thống luận điểm, luận cứ, cách
lập luận.
2. Kĩ năng.
- Đọc- hiểu văn bản nhật dụng bàn luận về một vấn đề liên quan đến nhiệm vụ đấu
tranh vì hoà bình của nhân loại.
3. Thái độ
- Học sinh nhận thức, hành động đúng: lên án chiến tranh để góp phần bảo vệ
hoà bình, bảo vệ môi trường sống trên Trái Đất.
2. Học sinh : Soạn bài theo câu hỏi SGK + Đọc kĩ đoạn trích và chú thích ().
C.Tiến trình hoạt động dạy-học .
I.Tổ chức lớp: ( 1’
II.Kiểm tra bài cũ : ( 5’)
- Những hiểu biết của em về nhà văn Mác-két và hoàn cảnh ra đời tác phẩm ?
- Tại sao nói nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ loài người và sự sống trên trái
đất ?
III. Bài mới: ( 35’)
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
II. Đọc – hiểu văn bản
1.Đọc - chú giải
2.Kiểu văn bản :
3. Bố cục :
4. Phân tích ( 30‘)
- HS đọc từ “ Năm 1981 -> thế giới ”. b. Chạy đua vũ khí hạt nhân làm mất khả
? Khái quát nội dung của đoạn văn.
năng con người được sống tốt đẹp hơn
? Em nhận xét gì về cách nói của tác
19
giả: dịch hạch hạt nhân, cái cảnh tận
thế tiềm tàng trong bệ phóng cái chết
( Vận dụng kiến thức môn Sinh học,
hóa học, vật lí để giải thích các từ
“ dịch hạch, hạt nhân, bệ phóng”
em
Cứu đói cho 575 triệu
người
27 tên lửa MX
Nông cụ ch nước nghèo
2 chiếc tàu ngầm
trong 4 năm
Xoá nạn mù chữ toàn
thế giới
? Nét độc đáo trong nghệ thuật nghị - So sánh bằng những con số biết nói
luận của tác giả
( HS vận dụngToán học, đối chiếu
so sánh để thấy được sự chi phí của
chiến tranh hạt nhân.)
? Hiệu quả của nghệ thuật nghị luận
=> Chiến tranh hạt nhân cực kì tốn kém và vô
nhân đạo, cướp đi cuộc sống tốt đẹp của con
đó?
? Đoạn văn gợi cho em suy nghĩ gì về người
chiến tranh hạt nhân
( GV tích hợp với môn Lịch sử Bài
12 « Nhật Bản giữa thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX » ; bài 21 « Chiến tranh thế
? Những con sô đó nói với em điều gì => Sự tiến hoá của sự sống trên trái đất vô
về sự sống trên trái đất
cùng vĩ đại, đáng trân trọng và bảo vệ
? Điều gì xảy ra nếu chiến tranh hạt - Bấm nút một cái là sự sống trở lại điểm xuất
nhân bùng nổ
phát – chẳng có gì đáng tự hào
? Tác giả bình luận gì về sự phát minh
vũ khí hạt nhân?
? Em có tán thành lời bình luận đó
không? Vì sao?
? Nhận xét nghệ thuật nghị luận của
-> Phân tích, so sánh cụ thể, ngôn ngữ giàu
hình ảnh và sắc thái biểu cảm
tác giả?
? Từ đó em có nhận thức gì về chiến => Chiến tranh hạt nhân là cực kì phí lí, dã
tranh hạt nhân?
man
? Từ việc phân tích những nguy cơ d. Đấu tranh ngăn chặn nguy cơ chiến tranh
khủng khiếp của thảm hoạ hạt nhân, hạt nhân, cho một thế giới hoà bình
tác giả gửi tới nhân loại thông điệp gì?
? Thông điệp đó được diễn đạt cụ thể - Tham gia vào bản đồng ca đòi hỏi một thế
ntn?
giới không có vũ khí,… hoà bình, công bằng
21
? Khái quát về nội dung văn bản?
b. Nội dung :
- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa toàn
nhân loại và sự phi lí của cuộc chạy đua vũ
trang
- Lời kêu gọi đấu tranh vì một thế giớ hòa bình
- HS đọc phần ghi nhớ
không có chiến tranh.
* Ghi nhớ. SGK/21
III. Luyện tập
? Hiện nay cuộc chạy đua vũ trang hạt - 17 quốc gia đang sở hữu vũ khí hạt nhân:
nhân đang diễn ra ntn? Quan điểm của Anh Quốc, Ấn Độ, Ba Lan, Brasil, Canada,
em về hiện tượng đó?
Đài Loan, Iran, Hà Lan, Hoa Kỳ, Iraq, Israel,
22
( HS bộc lộ)
Nam Phi, Nga, Pakistan, Pháp, Triều Tiên,
Trung Quốc.
? Em dự định tham gia vào bản đồng
ca của nhân loại bằng thái độ và hành
động cụ thể ntn? ( HS bộc lộ)
dân Pháp của dân tộc ta.
- Lí tưởng cao đẹp và tình cảm keo sơn gắn bó làm nên sức mạnh tinh thần của
những người chiến sĩ trong bài thơ.
- Đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: ngôn ngữ thơ bình dị, biểu cảm, hình ảnh tự
nhiên, chân thực.
2. Kĩ năng.
- Đọc diễn cảm một bài thơ hiện đại.
- Bao quát toàn bộ tác phẩm, thấy được mạch cảm xúc trong bài thơ.
- Tìm hiểu một số chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, từ đó thấy được giá trị nghệ thuật
của chúng trong bài thơ.
3. Thái độ
- Giáo dục học sinh niềm tự hào, lòng yêu nước, yêu mến anh bộ đội cụ Hồ.
II . Năng lực hình thành thông qua bài dạy:
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực giao tiếp Tiếng Việt
- Năng lực sáng tạo.
- Năng lực liên hệ, tích hợp.
- Năng lực hợp tác
- Năng lực cảm thụ văn học
B. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh.
1. Giáo viên : - Giáo án điện tử, bài giảng điện tử, tư liệu về bài dạy.
- Xá định các kiến thức của các bộ môn khác có thể tích hợp với
bài dạy:
+ Môn Lịch sử 9: Bài 25 « Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp »
những bài thơ như thế. Đây là bài thơ mở đầu cho đề tài viết về anh bộ đội Cụ Hồ.
Hôm nay, cô cùng các em sẽ khám phá vẻ đẹp của bài thơ này.
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung cần đạt
? Trình bày những hiểu biết của em về I . Giới thiệu bài: 3’
tác giả Chính Hữu ?
1. Tác giả (1926 - 2007).
25