BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------HUỲNH THỊ HƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62340201
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2016
Công trình được hoàn thành tại: Đại học kinh tế TP. HCM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Huy Hoàng
Phản biện 1: ..................................................................
Phản biện 2: ..................................................................
Phản biện 3: ..................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại
.............................................................................................
Vào hồi giờ
ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện khoa học tổng hợp TP. HCM
Thư viện Đại học kinh tế TP. HCM
ảnh hưởng của DVNHQT đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của các
NHTMVN trong những năm gần đây cũng như đưa ra các giải pháp
nhằm nâng cao HQHĐ và phát triển DVNHQT là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Việc nghiên cứu DVNHQT có tác động như thế nào đến
HQHĐ của các ngân hàng (NH) có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là
đối với các nhà quản trị NH để từ đó sẽ có những phân tích, đánh giá
cần thiết trong các quyết định chiến lược cho NH mình. Vì vậy, đề
tài nghiên cứu có những mục tiêu sau đây:
- Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá DVNHQT của các ngân
hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các
NHTMVN.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn đối tượng nghiên cứu là sự tác động của
DVNHQT đến HQHĐ của các NHTMVN. Dữ liệu nghiên cứu được
2
lấy từ báo cáo thường niên hoặc báo cáo tài chính đã kiểm toán từ 38
NHTMVN bao gồm các NHTM nhà nước và NHTM cổ phần trong
khoảng thời gian 2008-2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng.
Phương pháp định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp
các chuyên gia, cán bộ quản lý NHTM. Phương pháp định lượng để
nghiên cứu luận án bao gồm: phương pháp phân tích phi tham số tiếp
cận theo mô hình bao dữ liệu (DEA); phương pháp hồi quy theo mô
hình bình phương nhỏ nhất thông thường gộp (pooled ordinary least
squares - Pooled OLS), mô hình tác động cố định (fixed effect model
thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng HQHĐ của NH. Luận án đã
phân tích các nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực thuộc DVNHQT ảnh
hưởng đến HQHĐ của NH, từ đó đề xuất ra các giải pháp để phát
huy nhân tố tích cực, kiểm soát nhân tố tiêu cực, không ngừng nâng
cao HQHĐ và phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ của NH mình
đặc biệt là DVNHQT.
+ Ngoài ra, nghiên cứu là cơ sở khoa học để Chính phủ và
Ngân hàng nhà nước xác định được các yếu tố tác động đến HQHĐ
của các NHTMVN từ đó có thể đưa ra những chính sách kịp thời và
hợp lý nhằm xây dựng hệ thống NH vững chắc, đảm bảo việc kinh
doanh NH lành mạnh và hiệu quả.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Dịch vụ ngân hàng quốc tế của NHTM
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng quốc tế
Căn cứ vào Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 và Pháp lệnh
ngoại hối sửa đổi năm 2013, trên lãnh thổ Việt Nam, các giao dịch
bằng ngoại hối hạn chế sử dụng trừ một số trường hợp được phép kể
cả người cư trú và người không cư trú. Nghị định số 24/2012/NĐ-CP
ngày 03/04/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh
vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn
một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP đã được ban hành với
chủ trương chuyển quan hệ “huy động, cho vay vốn bằng vàng” sang
quan hệ “mua, bán vàng” nên phạm vi nghiên cứu của luận án về các
giao dịch ngoại hối tại NH là các giao dịch bằng ngoại tệ. Trên cơ sở
kế thừa các khái niệm về DVNHQT và các văn bản pháp lý tại Việt
qua các chỉ tiêu về tỷ lệ thu nhập cận biên.
1.2.2.2. Phương pháp phân tích hiệu quả biên
Nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA, kết quả của DEA
bao gồm: hiệu quả kỹ thuật (HQKT) hay HQKT toàn bộ, hiệu quả
kỹ thuật thuần (HQKTT) và hiệu quả quy mô (HQQM).
1.3. Mối liên hệ giữa dịch vụ ngân hàng quốc tế và hiệu quả hoạt
động của NH
DVNHQT không thể đứng riêng lẻ mà chỉ có thể phát triển
tốt trong mối liên hệ ngang dọc với các dịch vụ khác của NH, cùng
hỗ trợ nhau vươn lên và cùng kiểm soát lẫn nhau. Xét về bản chất
cũng như lịch sử phát triển, DVNHQT luôn luôn là một bộ phận cơ
hữu, gắn chặt với dịch vụ ngân hàng (DVNH) nội địa và tạo ra toàn
bộ hoạt động kinh doanh của một NH. DVNHQT là một phần không
6
thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của NH và sự phát triển của
DVNHQT chắc chắn sẽ tác động không nhỏ đến HQHĐ của NH.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ
là thật sự có ý nghĩa và vô cùng cần thiết.
1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về HQHĐ
và DVNHQT, khoảng trống trong nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.1. Các nghiên cứu công bố ở trong nước
Với các nghiên cứu chuyên sâu về DVNHQT tại Việt Nam,
các tác giả chỉ mới dừng lại ở phương pháp thống kê mô tả hoặc quy
nạp, diễn dịch mà chưa áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính
và định lượng để nghiên cứu chuyên sâu về HQHĐ và DVNHQT.
Nhìn chung, qua các nghiên cứu về HQHĐ của NH có thể
đánh giá bằng các chỉ số tài chính như ROA, ROE hoặc bằng
phương pháp phi tham số DEA. Mô hình hồi quy OLS hoặc Topit
(iii) Thực tế cho thấy có nhiều công trình nghiên cứu về
các DVNH nói chung tác động đến HQHĐ tuy nhiên vẫn chưa có
công trình nào trong nước và trên thế giới nghiên cứu đưa ra một
mô hình định lượng về tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các
NHTM.
Vì vậy, luận án này sẽ có những điểm khác biệt so với các
nghiên cứu trước đây về nội dung nghiên cứu và cả mô hình
nghiên cứu khi sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM,
FGLS để đánh giá DVNHQT tác động đến HQHĐ của các
NHTMVN giai đoạn 2008-2014. Qua đó, đây cũng là cơ sở để
hoàn thiện được một khung chính sách hợp lý trong quá trình quản
lý hoạt động của các NH ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Hoạt động kinh doanh của các NHTMVN
2.1.1. Mạng lưới hoạt động của các NHTMVN
Đến hết năm 2014, hệ thống NHTM hoạt động tại Việt
Nam gồm có: 05 NHTM nhà nước bao gồm: Agribank, BIDV,
Vietcombank,
Vietinbank,
MHB
(BIDV,
cuối năm 2014, tổng vốn huy động đạt 4.507 nghìn tỷ đồng. Sự tăng
giảm vốn huy động của các tổ chức tín dụng (TCTD) là do đáp ứng
nhu cầu vốn của xã hội nên các TCTD phải điều chỉnh cho phù hợp
với nhu cầu vay vốn hoặc điều chỉnh bởi các chính sách, quy định
về huy động vốn của Ngân hàng nhà nước (NHNN) trong từng giai
đoạn.
2.1.5.2. Dịch vụ cấp tín dụng
Tổng dư nợ trong toàn hệ thống NH tăng đều qua các năm.
Tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2008-2014 cao nhất là 4,08% vào năm
2012, sau đó giảm xuống còn 3,61% năm 2013 và 3,25% năm 2014 .
2.1.5.3. Dịch vụ thanh toán
Với việc triển khai thành công nhiều dự án đầu tư hiện đại
hóa công nghệ NH đặc biệt là công nghệ phục vụ cho thanh toán,
chất lượng dịch vụ thanh toán của NH được cải thiện đáng kể.
Doanh số thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế đạt mức tăng
trưởng cao.
2.2. Hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
2.2.1. Quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu và thu nhập của NHTMVN
Quy mô tài sản của các NHTM tăng đều qua các năm cho
thấy các NHTMVN đã không ngừng nâng cao sức mạnh về tài chính
để gia tăng khả năng cạnh tranh của mình. Tại Việt Nam hiện nay, số
lượng các NH là khá lớn, tuy nhiên quy mô tổng tài sản của từng NH
10
lại không cao khi so sánh với các NH tại các quốc gia phát triển trong
khu vực.
Năm 2008, thu nhập ngoài lãi đạt giá trị trung bình là 542 tỷ
đồng. Năm 2009, với những nổ lực của NHNN nhằm đối phó với tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam
2.3.2.2. Dịch vụ thanh toán quốc tế
Các NHTMVN không ngừng phát triển mạng lưới ngân hàng
đại lý (NHĐL) thực hiện thanh toán quốc tế nhằm đáp ứng tối đa
nhu cầu của KH. Tuy nhiên, so với hệ thống NHĐL của một số NH
nước ngoài tại Việt Nam có thể nhận thấy lợi thế vượt trội của họ.
Trước thực tế trên, nhiều NHTMVN đã tìm kiếm địa bàn hoạt động
ở những nước phù hợp với tiêu chuẩn và nguồn lực của mình.
2.3.2.3. Dịch vụ bao thanh toán
Nhận thấy sự cần thiết của hoạt động bao thanh toán đối với
các doanh nghiệp Việt Nam, ngày 06/09/2004, thống đốc NHNN đã
ban hành quy chế hoạt động bao thanh toán của các TCTD theo quy
định 1096/2004/QĐ-NHNN. Sự ra đời của văn bản pháp lý này bước
đầu đã tạo động lực thúc đẩy các TCTD triển khai và phát triển dịch
vụ bao thanh toán. Và đến đầu năm 2005, dịch vụ bao thanh toán
chính thức được triển khai tại Việt Nam.
2.3.2.4. Dịch vụ ngân hàng đại lý
Đối với thị trường nước ngoài thì thương hiệu NH Việt
Nam chỉ mới được biết đến ở một số thị trường như: Lào,
Campuchia, Myanmar …. Vì vậy, phát triển các DVNHQT ra nước
ngoài hiện nay là một khó khăn cho các NHTMVN vì hệ thống
NHTMVN chưa thực sự có một thương hiệu mạnh, được thị trường
thế giới biết đến.
12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu định tính
3.1.1. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, 10 chuyên gia (cụ thể trong Phụ lục
1) đã thảo luận tay đôi với tác giả nhằm xem xét và đưa ra những
lương (X2), chi phí khác (X3).
Biến đầu ra: Đầu ra gồm thu nhập từ lãi (Y1) và thu nhập
khác (Y2).
3.2.2.2. Đối với nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng
quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
- Biến phụ thuộc: hiệu quả kỹ thuật (HQKT), hiệu quả kỹ
thuật thuần (HQKTT), hiệu quả quy mô (HQQM).
- Biến độc lập gồm: biến cho vay ngoại tệ trên tổng tài sản
có ngoại tệ (CVNT) và biến tài sản nợ ngoại tệ trên tổng nguồn vốn
(TSNNT).
- Biến kiểm soát gồm: biến tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên
tổng tài sản của ngân hàng (VCSH), biến quy mô tài sản ngân hàng
(QMTS), biến tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (CV), biến tỷ lệ
vốn huy động trên dư nợ cho vay (VHDCV), biến tốc độ tăng trưởng
kinh tế (TTKT), biến tỷ lệ lạm phát (LP).
3.2.3. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Mô hình 1: HQKT = ε + β1*CVNT + β2*TSNNT + β3*VCSH
+ β4*QMTS + β5*CV + β6*VHDCV + β7*TTKT + β8*LP
Mô hình 2: HQKTT = ε + β1*CVNT + β2*TSNNT +
β3*VCSH + β4*QMTS + β5*CV + β6*VHDCV + β7*TTKT + β8*LP
Mô hình 3: HQQM = ε + β1*CVNT + β2*TSNNT + β3*VCSH
+ β4*QMTS + β5*CV + β6*VHDCV + β7*TTKT + β8*LP
14
Bảng 3.4: Các giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết
Nội dung
3.2.4. Phương pháp nghiên cứu và kiểm định
Nghiên cứu chọn phương pháp DEA để phân tích HQHĐ
qua đó sẽ xác định được HQKT, HQKTT, HQQM của các
NHTMVN giai đoạn 2008-2014 bằng phần mềm DEAP 2.1. Tiếp
theo, nghiên cứu của luận án sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được
hồi quy theo 4 cách: Pooled OLS, FEM, REM, FGLS bằng phần
mềm Stata 11.1.
15
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
4.1. Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
4.1.1. Thống kê mô tả các biến số liệu mẫu nghiên cứu
Số lượng NH nghiên cứu qua các năm không bằng nhau,
năm 2008 là 35 NH, năm 2009 có 36 NH do Baovietbank được thành
lập trong năm này và năm 2010 cũng có 36 NH được nghiên cứu.
Năm 2011 có 35 NH được nghiên cứu vì không thu thập được dữ liệu
của Tienphongbank và cũng bằng số liệu NH nghiên cứu năm 2012.
Năm 2013 có 34 NH được nghiên cứu và năm 2014 chỉ có 31 NH
nghiên cứu.
4.1.2. Kết quả ước lượng HQHĐ của các NHTMVN bằng
phương pháp bao dữ liệu DEA
4.1.2.1. Kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật theo mô hình
DEACRS
Hiệu quả kỹ thuật bình quân của cả mẫu qua các năm 2008,
2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 lần lượt đạt 0,862; 0,917; 0,893;
0,946; 0,943; 0,931; 0,92 điều này cho thấy các NHTMVN có HQKT
4.2.1. Thống kê mô tả về các biến
Số liệu được trình bày dưới dạng thống kê mô tả, mỗi biến
được mô tả các nội dung như: tên biến, số quan sát, giá trị nhỏ nhất,
giá trị lớn nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn để từ đó tiến hành
phân tích một cách tổng quát nhất về các biến đưa vào mô hình.
4.2.2. Kết quả hệ số tương quan giữa các biến
Phân tích tương quan được sử dụng để xem xét mối quan hệ
giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Kết quả phân tích tương
quan có thể bước đầu đánh giá được các dự báo của mô hình. Ngoài
ra, trong trường hợp các biến độc lập có mối tương quan cao thì đây
17
là dấu hiệu của đa cộng tuyến, do đó đây là một cơ sở để tác giả thực
hiện kiểm định đa cộng tuyến và điều chỉnh mô hình.
4.2.3. Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến
Hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều nhỏ hơn 0,8
điều này cho ta thấy khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến thấp
khi phân tích hồi quy.
4.2.4. Kết quả nghiên cứu đối với biến phụ thuộc HQKT
4.2.4.1. Lựa chọn và kiểm định mô hình hồi quy đối với biến phụ
thuộc HQKT
Đối với mẫu nghiên cứu là toàn bộ các NH: Qua kiểm
định F-test (P-value=0,0000) và Hausman test (P-value=0,0782) thì
mô hình được lựa chọn là mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tuy
nhiên, khi kiểm định phương sai thay đổi (P-value=0,0000) và tự
tương quan (P-value=0,0016) thì mô hình có hiện tượng phương sai
thay đổi và tự tương quan. Để khắc phục hiện tượng phương sai
thay đổi và tự tương quan, mô hình hồi quy FGLS được lựa chọn
cho toàn bộ mẫu NH nghiên cứu.
mẫu và NH nhóm 2 lần lượt ở mức ý nghĩa 5% và 10%. TSNNT có
tương quan dương cho thấy nếu các NH sử dụng tốt nguồn vốn huy
động ngoại tệ thì sẽ làm gia tăng HQHĐ, tạo ra nhiều cơ hội đầu tư
hơn cho NH. Dựa vào kết quả trên ta bác bỏ giả thuyết 2 đối với
mẫu nghiên cứu là NH nhóm 1 do hệ số hồi quy không có ý nghĩa
thống kê, chấp nhận giả thuyết 2 đối với mẫu nghiên cứu là toàn bộ
các NH và NH nhóm 2.
4.2.5. Kết quả nghiên cứu đối với biến phụ thuộc HQKTT
4.2.5.1. Lựa chọn và kiểm định mô hình hồi quy đối với biến phụ
thuộc HQKTT
Đối với mẫu nghiên cứu là toàn bộ các NH: Qua kiểm
định F-test (P-value=0,0000) và Hausman test (P-value=0,2888) thì
19
mô hình được lựa chọn là mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tuy
nhiên, khi kiểm định phương sai thay đổi (P-value=0,0000) và tự
tương quan (P-value=0,0023) thì mô hình có hiện tượng phương sai
thay đổi và tự tương quan. Để khắc phục hiện tượng phương sai thay
đổi và tự tương quan, mô hình hồi quy FGLS được lựa chọn cho
toàn bộ mẫu NH nghiên cứu.
Đối với mẫu nghiên cứu là các NH nhóm 1: Qua kiểm
định F-test (P-value=0,0010) và Hausman test (P-value=0,0683) thì
mô hình được lựa chọn là mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tuy
nhiên, khi kiểm định phương sai thay đổi (P-value=0,0173) và tự
tương quan (P-value=0,0555) thì mô hình có hiện tượng phương
sai thay đổi. Để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi, mô
hình hồi quy FGLS được lựa chọn cho các NH nhóm 1.
Đối với mẫu nghiên cứu là các NH nhóm 2: Qua kiểm
định F-test (P-value=0,0000) và Hausman test (P-value=0,4242) thì
định F-test (P-value=0,0000) và Hausman test (P-value=0,0002) thì
mô hình được lựa chọn là mô hình tác động cố định FEM. Tuy
nhiên, khi kiểm định phương sai thay đổi (P-value=0,0000) và tự
tương quan (P-value=0,0377) thì mô hình có hiện tượng phương sai
thay đổi và tự tương quan. Để khắc phục hiện tượng phương sai thay
đổi và tự tương quan, mô hình hồi quy FGLS được lựa chọn cho
toàn bộ mẫu NH nghiên cứu.
Đối với mẫu nghiên cứu là các NH nhóm 1: Qua kiểm
định F-test (P-value=0,0010) và Hausman test (P-value=0,2865) thì
mô hình được lựa chọn là mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tuy
nhiên, khi kiểm định phương sai thay đổi (P-value=0,3333) và tự
tương quan (P-value=0,0709) thì mô hình không có hiện tượng
phương sai thay đổi và tự tương quan. Vậy mô hình hồi quy REM
được lựa chọn cho các NH nhóm 1.
21
Đối với mẫu nghiên cứu là các NH nhóm 2: Qua kiểm
định F-test (P-value=0,0020) và Hausman test (P-value=0,8692) thì
mô hình được lựa chọn là mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tuy
nhiên, khi kiểm định phương sai thay đổi (P-value=0,0046) và tự
tương quan (P-value=0,1910) thì mô hình có hiện tượng phương
sai thay đổi. Để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi, mô
hình hồi quy FGLS được lựa chọn cho các NH nhóm 2.
4.2.6.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu và kiểm định giả thuyết đối
với biến phụ thuộc HQQM
Biến CVNT có tác động ngược chiều đối với toàn bộ mẫu
NH và các NH nhóm 1 chứng tỏ khi gia tăng hoạt động cho vay
ngoại tệ không làm tăng HQQM. Ngược lại, đối với NH nhóm 2 khi
gia tăng cho vay ngoại tệ sẽ tăng HQQM. Tuy nhiên, kết quả này
lý, các NHTMVN cần cân nhắc việc mở rộng quy mô hoạt động
thông qua các mạng lưới, chi nhánh được phân bổ phù hợp theo khu
vực địa lý trên toàn quốc cũng như các quốc gia trong khu vực.
5.2.2. Hạn chế tín dụng ngoại tệ
Theo kết quả nghiên cứu, biến CVNT có quan hệ ngược
chiều với HQKT đối với các NH nhóm 1 là các NH có doanh số cho
vay ngoại tệ lớn. Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn đúng đắn theo