PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề ở nước ta đã được hình thành từ rất lâu. Cùng với sự tồn tại hàng
nghìn năm của nền văn minh lúa nước thì nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các
vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban
đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.
Qua thời gian, các làng nghề từng bước khẳng định vai trò của mình trong việc tạo ra
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, cũng từ đó mà giúp người dân thoát
khỏi cảnh nghèo đói, giảm dần sự chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn,
đặc biệt là làm giảm áp lực lao động ở nông thôn di cư lên thành phố tìm việc làm
khiến nhiều vấn đề này sinh như nhà ở, môi trường, y tế, tệ nạn xã hội... Sự phát triển
làng nghề còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và
dịch vụ nông thôn, làm thay đổi bộ mặt ở nông thôn và thúc đẩy quá trình hình thành
kinh tế thị trường. Nhận thấy vai trò của việc phát triển làng nghề là rất to lớn và
không thể phủ nhận, chính vì vậy trong mục tiêu và chương trình phát triển năm 2006
của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có đưa ra: "Triển khai chương trình mỗi
làng một nghề, hỗ trợ tích cực để phát triển các làng nghề, khuyến khích các hộ gia
đình, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ đa dạng như chế biến nông - lâm sản, gốm sứ, rèn đúc, cơ khí,
may mặc... đáp ứng nhu cầu tại chỗ và tham gia xuất khẩu". [23]
Với chương trình "mỗi làng một nghề" Nhật Bản đã rất thành công, đem lại
nguồn thu đáng kể cho người dân Nhật Bản. Ở Việt Nam, sau khi có sự chuyển đổi từ
cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
đã có rất nhiều làng nghề được khôi phục và hình thành mới, góp phần cải thiện đời
sống cho người dân. Trong những thời gian gần đây, tốc độ phát triển làng nghề tương
đối cao, hiện nay cả nước đã có trên 2000 làng nghề, sản phẩm của nhiều làng nghề
đã trở lên nổi tiếng, có mặt ở nhiều nơi từ trong nước đến ngoài nước như gốm Bát
Tràng, tranh Đông Hồ, lụa Vạn Phúc, chiếu Nga Sơn... nhưng sự phát triển của các
làng nghề mới chỉ dừng lại ở loại hình kinh tế hộ gia đình với quy mô nhỏ là chủ yếu
1
lương thực, công cụ lao động...) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, tranh vẽ,
âm nhạc...) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
Trên thế giới hiện nay có trên dưới 200 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn.
Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ
con số đó lên tới 40000. Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy có
ở nước khác. Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự
phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội
dung cũng như về phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo
4
hướng đa dạng hoá. Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị
đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường
(dạy nghề, trung cấp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng
nghìn chuyên môn khác nhau.
* Làng nghề:
Làng nghề ở nước ta được hình thành từ rất lâu. Cùng với sự phát triển của nền
văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra
đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những
nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa
vụ chính. Theo thời gian, những nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó,
mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia
đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay
nhiều làng gần nhau.Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ
công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều
thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp
với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề
chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm
lụa, làng làm đồ đồng... [28]
Lâu nay khái niệm làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Có
ra đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, đã trở thành hàng hóa trên thị trường
và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu của người dân trong làng.
2.1.1.2 Tiêu chí xác định làng nghề
Khi xem xét sự phát triển của làng nghề, chúng ta xem xét trên cả ba phưong
diện kinh tế - xã hội - môi trường. Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để xác định làng
nghề, Lê Vũ Tiên (2002) đã đưa ra các tiêu chí sau:
- Làng nghề đó phải là những làng quê nông nghiệp phát triển đến một mức độ
nhất định, nhưng do điều kiện ruộng đất có hạn, dân cư ngày càng đông đúc hơn nên
số lao động dư thừa ngày càng nhiều. Nhu cầu giải quyết việc làm để tạo thu nhập cho
người lao động là đòi hỏi cấp bách của làng;
- Làng nghề đó phải có ít nhất một người, một gia đình, một doanh nghiệp hay
một dòng tộc làm nghề đó, sản xuất kinh doanh phát triển nghề đó làm hạt nhân;
- Làng nghề đó phải tìm được nguồn nguyên vật liệu ổn định, đáp ứng được
nhu cầu sản xuất của làng nghề;
6
- Làng nghề phải có sản phẩm đã trở thành hàng hoá, giao lưu đáp ứng được
nhu cầu thị trường và công nghệ sản xuất của làng nghề;
- Làng nghề phải có thị trường tiêu thụ độc lập hoặc thị trường giao lưu qua
các doanh nghiệp thương mại;
- Làng nghề phải có vốn để dự trữ nguyên vật liệu sản xuất và chuẩn bị các
điều kiện cho sản xuất;
- Làng nghề phải có cơ sở hạ tầng, kỹ thuật tối thiểu thuận tiện như đường giao
thông, điện, nước, công cụ sản xuất...;
- Làng nghề phải có nguồn lao động trong làng ổn định và tạo ra công ăn việc
làm cho người lao động ở các địa phương lân cận để đáp ứng nhu cầu lao động khi
cần thiết;
- Làng nghề phải có sự quan tâm hỗ trợ về các mặt hàng của các cấp uỷ Đảng
và chính quyền địa phương. [7]
Tiêu chuẩn công nhận làng nghề của tỉnh hải Dương:
- Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
các quy định của chính quyền địa phương, có hình thức tổ chức phù hợp; phát triển
ngành nghề gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng làng văn hoá của
địa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường.
- Số gia đình hoặc lao động làm nghề công nghiệp và TTCN ở làng đạt từ 25%
trở lên so với tổng số hộ hoặc lao động của làng. Doanh thu từ sản xuất công nghiệp
và TTCN ở làng chiếm tỷ trọng từ 30% trở lên so với tổng doanh thu của làng trong
năm. Thu nhập bình quân một năm của một lao động ở làng nghề sản xuất công
nghiệp và TTCN phải cao hơn thu nhập bình quân của lao động trong xã từ 10% trở
lên.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh phải bảo đảm vệ sinh môi trường chung, nhất
là về hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý rác thải và nước thải.
Các tiêu chuẩn trên của làng đạt ổn định từ 3 năm trở lên sẽ được UBND tỉnh
xem xét công nhận làng nghề. [18]
2.1.1.3 Phân loại làng nghề
Sự phát triển đa dạng và phong phú của làng nghề đã hình thành lên rất nhiều
cách phân loại làng nghề khác nhau. Hiện nay, việc phân loại làng nghề thường được
tiến hành theo cách các sau:
8
* Theo lịch sử hình thành (tính chất nghề):
- Làng nghề truyền thống: là những làng nghề có lịch sử phát triển từ lâu đời
với những sản phẩm độc đáo riêng có của mình và còn tồn tại cho đến ngày nay. Sản
phẩm của làng nghề truyền thống rất nổi tiếng được nhiều người biết đến, tiêu thụ ở
các trung tâm kinh tế lớn của đất nước (Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh...) và
cả nước ngoài. Mẫu mã, chủng loại của các sản phẩm trong làng nghề truyền thống
thường được xuất hiện với quá trình hình thành làng nghề và được hoàn thiện qua các
- Làng nghề sản xuất ra công cụ thủ công và nguyên vật liệu cho ngành công
nghiệp: Công cụ thủ công được tạo ra chủ yếu từ nghề rèn và nghề này có ở hầu hết
các vùng nông thôn, các làng nghề chuyên sản xuất công cụ này có nguy cơ phải thu
hẹp quy mô sản xuất. Các loại nguyên vật liệu như vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vôi,
xi măng...), thép cán, thép thỏi... cũng được thực hiện ở nhiều làng nghề, ngay cả làng
nghề truyền thống.
- Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng dân dụng như hàng đồ đồng (đồ thờ cúng,
ấm, nồi...), hàng đồ mộc (giường, tủ, bàn, ghế...), hàng nhựa tái chế (nhựa thỏi, nhựa
xay, hạt nhựa...). Chất lượng các sản phẩm trong các làng nghề thuộc rất nhiều cấp độ
khác nhau từ cấp thấp dân dụng đến cao cấp mỹ nghệ. Những hàng này tiêu thụ cả
trong nước và ngoài nước.
- Làng nghề chế biến nông lâm thuỷ sản và dược liệu: nguyên liệu của làng
nghề này là sản phẩm của hàng nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ - hải sản. Vai trò của
công nghệ chế biến đặc biệt quan trọng và đi liền với công nghệ bảo quản. Sản phẩm
chế biến cũng rất đa dạng, trên thực tế hình thành nên các làng nghề với cơ sở chế
biến là vấn đề tương đối khó khăn. Hiện nay, trong vấn đề chế biến nổi lên vấn đề
nguyên liệu sạch (rau, quả) và các chất phụ phẩm (trước hết là các chất hoá học bị sử
dụng tuỳ tiện trong việc chế biến và bảo quản các sản phẩm). [21]
* Theo số lượng nghề:
- Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề thủ
công duy nhất.
- Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số hoặc nhiều
nghề khác. [10]
10
2.1.1.4 Vai trò của phát triển làng nghề
* Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá
chuyên nghiệp và nông nhàn. Người ta đã tính toán rằng, cứ xuất khẩu một triệu USD
hàng thủ công thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 - 4000 lao động,
chủ yếu là lao động tại địa phương và các vùng lân cận. Nếu so sánh với mức thu
nhập của lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng
2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn
nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Bình quân thu nhập của một lao động chuyên
ngành nghề phi nông nghiệp là 430000 - 450000 đồng/tháng, ở hộ kiêm nghề từ
190000 - 240000 đồng/tháng, trong khi đó ở các hộ thuần nông chỉ khoảng 70000 100000 đồng/tháng [10]. Như vậy, thu nhập ở các làng nghề đã tạo ra sự thay đổi khá
lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của địa phương.
* Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá
Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng của
công nghiệp hoá nông thôn nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời
sống của người dân nông thôn. Sự phát triển của làng nghề đã phá vỡ thế độc canh
trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề trong một làng
nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, sự phát triển của làng nghề đã
đem lại hiểu quả cao trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực ở nông thôn như đất
đai, lao động, nguyên vật liệu, thị trường.
Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển, thường hình thành nên một
trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá. những trung tâm này ngày
càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn. Hơn nữa,
nguồn tích luỹ của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, nhà ở và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt. Dần dần
ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét hơn. Nông thôn
đổi thay và từng bước được đô thị hoá qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ.
* Cải thiện đời sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới
Ở những vùng có làng nghề phát triển đều thể hiện một sự văn minh, giàu có,
dân trí cao hơn hẳn những vùng mà chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp. Ở các làng
nghề, tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thấp và hầu như không có hộ
đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho
12
nhiên, đây là một thách đố lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Sự phát triển của làng nghề đã kéo theo sự hình thành và phát triển của các nghề khác,
đã tạo thêm nhiều việc làm nhờ đó thu nhập của họ được tăng cao, đời sống bớt khó
khăn hơn, mặt khác bản tính của người nông dân là tiết kiệm nên họ đã biết chi tiêu
hợp lý và bắt đầu có tích luỹ. Vì vậy, cuộc sống của người dân trong các làng nghề
thường có mức sống cao hơn so với các làng chỉ sản xuất thuần nông.
Khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nông thôn: vốn, lao động.
Một đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu
15
lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của
các hộ gia đình. Điều đó tạo điều kiện cho hộ tận dụng được vốn nhàn rỗi trong dân
vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Mặt khác, việc sản xuất ở các làng nghề chủ yếu là ở
hộ gia đình nên đã tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông
nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi, lực lượng lao động này chiếm một tỷ
lệ rất đáng kể trong tổng số lao động làng nghề.
2.1.2 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững
2.1.2.1 Một số khái niệm
Phát triển bền vững là khái niệm khá mới mẻ xuất hiện trên cơ sở đúc rút kinh
nghiệm phát triển của các quốc gia trên hành tinh từ trước đến nay. Nó phản ánh xu
thế của thời đại và định hướng tương lai của loài người. Khái niệm này hiện đang là
mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh
tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với
quốc gia đó.
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn
phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của
nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những
nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Vai trò của Nhà nước ở tầm vĩ mô có ảnh hưởng quan trọng đặc biệt, thông qua
các đường lối, chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội tác động đến môi
trường sống. Do vậy khi đề ra một chủ trương, đường lối, chính sách nào đó cần phải
có sự tính toán, cân nhắc về khía cạnh đảm bảo môi trường được ổn định và cải thiện.
Một quốc gia có nền kinh tế chính trị ổn định, có phương hướng phát triển
đúng đắn, hợp quy luật, thì thường có bộ máy điều hành mọi hoạt động của Nhà nước
mạnh, có năng lực giải quyết mọi vấn đề do đời sống kinh tế - xã hội và bảo vệ môi
trường đặt ra một cách thoả đáng và có hiệu quả.
* Xây dựng lối sống và sản xuất thích hợp
Xây dựng một lối sống thích hợp với phát triển bền vững: lối sống tiết kiệm
lành mạnh biết chăm lo cho môi trường sống... Xây dựng một lối sản xuất thích hợp,
tiết kiệm gắn liền với việc không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ và đổi
mới tổ chức quản lý kinh tế - cải tiến các hoạt động, phải kết hợp hợp lý, thống nhất,
17
cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm.
* Kế hoạch hoá và quản lý một cách tổng hợp quá trình phát triển
Mỗi thành tựu của sự phát triển đều phải là sự thừa kế của quá khứ một cách có
chọn lọc và là sự định hướng cho tương lai phát triển sau này. Phát triển bền vững chỉ
có thể đạt được khi mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều phải được quản lý chặt chẽ,
toàn diện, được lập kế hoạch thống nhất và khoa học, đảm bảo kết hợp tốt nhất giữa
môi trường và phát triển.
* Đưa hao tổn tài nguyên và môi trường vào hệ thống hạch toán quốc gia
Nguồn tài nguyên được sử dụng và sinh lợi cho ai thì người đó phải có trách
nhiệm góp phần bù đắp lại sự thiếu hụt, suy giảm trữ lượng và chất lượng nguồn tài
nguyên, môi trường đã khai thác. Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống
hạch toán để xác định đầy đủ mọi chi phí trong các hoạt động phát triển, trong đó có
các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về
quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì
và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao
trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần.
Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng
tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm
soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được các
vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng
sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.
2.1.2.4 Nguyên tắc về phát triển bền vững ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu nêu trên, trong quá trình phát triển chúng ta cần thực
hiện những nguyên tắc chính sau đây:
Thứ nhất: con người là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng
đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất
nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất
quán trong mọi giai đoạn phát triển.
Thứ hai: coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển
sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ
sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát
triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
19
trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước
thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi".
Thứ ba: bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn
chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra. Cần
áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì
phải bồi hoàn". Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo
nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Phát triển các quan hệ song
phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc
những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền
vững. Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh.
Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra.
Thứ tám: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ
môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. [24]
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới
Trên thế giới sự phát triển của các làng nghề thể hiện ở sự tăng lên cả về quy
mô và số lượng. Đặc biệt ở các nước có nền kinh tế phát triển, số lượng các làng nghề
tăng lên nhanh chóng như Trung Quốc, sự phát triển của các làng nghề thể hiện qua
các mô hình xí nghiệp hương trấn, ở Ấn Độ các làng nghề phát triển mạnh đã tạo ra
nhiều sản phẩm có chất lượng cao không chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước mà còn
xuất khẩu đến nhiều nơi trên thế giới như sản phẩm hàng tơ lụa, đồ trang sức, kim
cương, gốm mỹ nghệ..., đặc biệt hai mặt hàng tơ lụa và đồ trang sức là hai trong 14
mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu của ngoại thương Ấn Độ... Sự phát triển làng nghề ở
các nước đã giải quyết việc làm cho phần lớn lao động ở nông thôn, nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống của người dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội ở nông thôn.
Ngoài chú ý đến phát triển các làng nghề truyền thống, các nước còn mở rộng các
làng nghề mới. Nhật Bản là nước đi đầu trong việc mở rộng nghề thủ công, là cái nôi
của phong trào mang tên "mỗi làng một sản phẩm", và các nghề này đã tạo cho Nhật
Bản nguồn thu khá cao. Nhật Bản là một trong những nước có nền công nghiệp phát
triển vào loại bậc nhất trên thế giới, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên ở châu Á từ một
21
nước nông nghiệp lạc hậu thực hiện quá trình công nghiệp hoá đất nước. Thành công
của quá trình này đã giúp cho Nhật Bản trở thành một cường quốc kinh tế với nền
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế và cơ cấu thu nhập của hộ nông dân Nhật Bản từ
1950 - 1990
Đơn vị: %
Loại hộ và loại thu nhập
Tỷ lệ số hộ thuần nông
Tỷ lệ số hộ kiêm
Tỷ lệ thu nhập của hộ từ nông nghiệp
Tỷ lệ thu nhập của hộ từ phi nông nghịêp
1950 1960 1970 1980 1990
50,0 34,0 15,6 13,0 12,0
50,0 66,0 84,4 87,0 80,0
79,0 54,0 33,0 18,0 16,0
29,0 46,0 67,0 82,0 84,0
Nguồn: Nguyễn Điền, "công nghiệp hoá nông thôn Nhật Bản" [2]
loại và tái chế bao bì vào năm 1995. Thêm vào đó Luật về việc thải rác và vệ sinh
công cộng được tu chỉnh vào năm 1991 và được tu chỉnh lại vào năm 1997. Những
biện pháp này đã góp phần phát triển hệ thống tái chế vật dụng và rác thải của Nhật
Bản. Họ đã tìm ra trong đống phế thải những nguyên liệu quý giá có thể tái chế sử
dụng làm sợi polyeste và nhựa tổng hợp để chế tạo ra nhiều hàng hoá phong phú như
từ nhựa chế tạo thành thảm, làm túi xách, thú nhồi bông, mũ thể thao, khăn trải bàn,
bút bi...[22]. Đến đầu những năm 2000, Bộ Kinh tế - Thương mại - Công nghiệp Nhật
Bản (METI), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Tổ chức Xúc tiến ngoại
thương Nhật Bản (JETRO) phối hợp triển khai một kế hoạch chung về phát triển
phong trào “Mỗi làng Một sản phẩm”. Ba cơ quan này cũng là đầu mối tăng cường
hợp tác và quảng bá phong trào này ra nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát
triển. [30]
2.2.2 Tình hình phát triển làng nghề ở Việt Nam
được tăng cường. Đặc biệt đã hình thành nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, sản lượng
sản phẩm ngày càng lớn, giá trị kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, thu hút một số
lượng lớn lao động chuyên và không chuyên nghiệp vào quá trình sản xuất và dịch vụ
sản xuất... Trong giai đoạn này một số làng nghề điển hình có tốc độ khôi phục và
phát triển khá nhanh như gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), gốm sứ Đồng Nai, chạm khảm
điêu khắc ở Hà Tây...
Các sản phẩm truyền thống của các làng nghề Việt Nam đã có thị trường tiêu
thụ tương đối ổn định ở Đông Âu, Liên Xô cũ. Chính sự ổn định này đã cho phép các
làng nghề duy trì được sự phát triển và thu hoạch được những nguồn thu đáng kể từ
các sản phẩm xuất khẩu. Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt
giá trị cao trên 46 triệu rúp. Ở nhiều địa phương việc phát triển làng nghề đã thu hút
và giải quyết việc làm cho nhiều lao động, đồng thời làm tăng nhanh sản phẩm phục
vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Làng nghề Đồng Xâm (Thái Bình), chỉ riêng hợp tác
xã Việt Hồng năm 1987 giá trị tổng sản lượng đã đạt hơn 7 tỷ đồng, gấp 10 lần so với
24
năm 1981. Tỉnh Hà Tây, trong những năm 1988 - 1990 các làng nghề truyền thống đã
đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh lên mức 8,6 - 12,6 triệu rúp/năm. Tuy nhiên sự phát
triển trên không duy trì được lâu do bị ảnh hưởng trực tiếp của những biến động về
chính trị - xã hội trên thế giới. Sự sụp đổ của các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô
cũ vào đầu những năm 90 đã làm cho thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu chủ yếu gần
như không còn nữa. Trước những khó khăn lớn, sản xuất ở nhiều làng nghề bị đình
trệ, sa sút thậm chí bế tắc. Thu nhập và đời sống của người làm nghề giảm rất nhanh
do việc làm ít hoặc không có việc làm. Lực lượng lao động tại các làng nghề bị giảm
mạnh.
Giai đoạn 1993 đến nay: Khi thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ không còn,
sản xuất ở các làng nghề truyền thống thực sự lâm vào tình trạng khủng hoảng. Số
người lao động không có việc làm tăng lên rất nhanh, nhiều người quay lại với sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng này kéo dài không lâu. Một hướng đi mới cho