LI M U
Sau hơn mời năm đổi mới, nớc ta đã trải qua một quá trình biến đổi mạnh mẽ
đầy ấn tợng trong lịch sử kinh tế. Nền kinh tế vĩ mô tăng trởng, tốc độ tăng GDP 8%
-10%/ năm.Trong đó, lĩnh vực dịch vụ thơng mại có mức tăng bình quân cao nhất
12%. Xuất khẩu tăng nhanh, đời sống nhân dân ngày một tăng cao. Trong quá trình
đó, các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc đã có những chuyển biến tích cực, không
ngừng hoàn thiện để vơn lên và tự khẳng định trên thơng trờng.
Song hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp
phải cạnh tranh quyết liệt. Các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc không còn đợc bao
cấp nh trớc nên phải dựa vào khả năng của chính mình, phải năng động sáng tạo
trong việc lựa chọn kinh doanh, trong tạo dựng các mối quan hệ làm ăn. Vì vậy
không ít doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng kinh doanh khó khăn, lúng túng và bị
động, cha tìm đợc những giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh và phát triển kinh doanh
hiệu quả. Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả kinh doanh còn cha đợc xem xét đúng mức, vì thế các giải pháp đẩy mạnh và
phát triển kinh doanh còn thiếu tính khả thi.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế Việt Nam và kinh tế khu vực ngày càng mở
rộng, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn lúng túng trớc hàng loạt vấn đề. Doanh
nghệp phải làm gì trên lộ trình Việt Nam tham gia AFTA và hiệp định u đãi thuế
quan có hiệu lực chung (CEPT)? Doanh nghiệp phải làm gì trong việc hợp tác và
phân công lao động quốc tế gữa các thành viên ASEAN? Doanh nghiệp phải làm gì
để không còn phải chấp nhận gia công mà tự mua nguyên liệu bán thành phẩm trên
thị trờng quốc tế? Doanh nghiệp phải làm gì để giảm phụ thuộc vào các thị trờng
trung gian chen chân vào các thị trờng cuối cùng? Rõ ràng, các doanh nghiệp đang
rất cần phía Nhà nớc, mà cụ thể trong lĩnh vực thuơng mại là các doanh nghiệp thơng
mại nhà nớc mở đờng, hớng dẫn và hỗ trợ để họ thích nghi dần với trào lu tự do hoá
thơng mại trong nền kinh tế thế giới.
Về phơng diện lý luận, vấn đề kinh doanh thơng mại nói chung và các phơng
hớng giải pháp mở rộng và phát triển kinh doanh ở các doanh nghiệp thơng mại nhà
nớc nói riêng còn nhiều ý kiến khác nhau và thiếu sự thống nhất trong đánh giá.
Vì tất cả những lý do trên, việc nghiên cứu các biện pháp mở rộng và phát
I. bản chất của kinh doanh thơng mại:
1.Bản chất kinh doanh thơng mại:
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá, quốc tế ngày càng phát triển mạnh cùng với sự
phát triển đa dạng của hàng hoá trên phạm vi toàn thế giới. Hoà nhận với xu thế ấy,
Việt Nam đã và đang xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hàh theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, ở đó cho tăng cả về chất và lợng, nhiều
loại hàng hoá thoả mãn nhu cầu vô cùng đa dạng và phong phú của con ngời.
Để tồn tại và phát triển con ngời cần nhiều nhu cầu khác nhau: ăn, ở, mặc đi
lại, học tập, giải trí... Muốn thoat mãn những nhu cầu ấy, con ngời phải thông qua
những hoạt động sản xuất và trao đổi các sản phẩm với nhau hay là thông qua hoạt
động kinh doanh.
Kinh doanh là việc tiến hành một, một số hoặc tấ cả công đoạn của quá trình
đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng nhằm
mục đích sinh lợi.
Với sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng phát
triển tất yếu dẫn đến nhu cầu để trao đổi sản phẩm giữa những ngời sản xuất chuyên
môn hoá với nhau. Nh vậy phân công lao động chuyên hoá sản xuất và tính chất sở
hữu khác nhau về t liệu sản xuất và sản phẩm làm ra là nguồn gốc phát triển thơng
mại.
Thơng mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng. Hoạt động
thợng mại gắn liền với lĩnh vực lu thông hàng hoá và lấy hàng hoá là đối tợng mua
bán.
Nh thế kinh doanh thơng mại là một dạng của lĩnh vực đầu t để thực hiện việc
mua bán lu thông hàng hoá trên thị trờng nhằm mục đích sinh lợi.
Kinh doanh thơng mại thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động không thể
thiếu trong nền kinh tế hàng hoá và nhất là trong nền kinh tế thị tr ờng và xu thế khu
vực hoá, toàn cầu hoá ngày nay.
2.Nội dung của kinh doanh thơng mại.
2.1.Mục tiêu:
2.2.Nội dung hoạt động kinh doanh thơng mại:
Đối với các dong nghiệp thơng mại, khi tiến hành công việc kinh donh nhằm
thu lợi nhuận, doanh nghiệp phải thực hiện các nội dung chủ yếu sau:
1.Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trờng về loại hàng hoá và dịch vụ
để làm cơ sở cho hoạt độgn kinh doanh.
2.Tổ chức công tác tạo nguồn hàng để đáp ứng nhu cầu thị trờng.
3.Tổ chức các mối quan hệ giao dịch thơng mại.
4.Lựa chọn kênh phân phối và tổ chức chuyển giao hàng hoá.
5.Quản lý hàng hoá, thực hiện các dịch vụ và phân tích đánh giá kết quả
kinh doanh.
2.2.1.Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị tr ờng về loại hàng hoá và dịch vụ để
4
làm cơ sở cho hoạt động kinh doanh:
Doanh nghiệp thơng mại là một tác nhân trên thị trờng nên phải nghiên cứu thị
triờng để phát triển kinh doanh thích ứng với thị trờng. Nghiên cứu thị trờng là xuất
phát điểm để đề ra các chiến lợc kinh doanh của các doanh nghiệp, từ các chiến lợc
đã xác định tiến hành thực hiện các kế hoạch trung gian, chính sách thị trờng. Bất kỳ
doanh nghiệp thơng mại nào cũng phải nghiên cứu thị trờng khi bắt đầu kinh doanh,
đang kinh doanh hay muốn mở rộng phát triển kinh doanh.
Đối tợng kinh doanh thơng mại là hàng hoá và dịch vụ. Mỗi doanh nghiệp có
thể kinh doanh một loại hàng hoá hoặc một nhóm hàng hoá. Doanh nghiệp phải
nghiên cứu xác định đợc nhu cầu của khách hàng, sự đáp ứng cho các nhu cầu đó
hiện có và khả năng nguồn cung ứng (sản xuất hoặc nhập khẩu) loại hàng đó. Cũng
có thể doanh nghiệp kinh doanh những loại hàng hoá mới và các cơ sở vật chất phù
hợp với mặt hàng đã lựa chọn để đi vào kinh doanh. Đấy là công việc mà doanh
nghiệp phải tiến hành thờng xuyên để có phơng án sản phẩm dịch vụ kinh doanh tốt
nhất.
kinh doanh của doanh nghiệp cả về bề rộng lẫn bề sâu.
Công tác tạo nguồn hàng là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra
nguồn hàng hoá đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng qui cách, cỡ loại,
mẫu mã... cho các nhu cầu khách hàng.
Đối với các doanh nghiệp thơng mại trong cơ chế thị trờng cần xác định đợc
các nguồn hàng chủ yếu sau:
-Nguồn hàng hoá sản xuất trong nớc.
-Nguồn hàng nhập khẩu.
-Nguồn hàng tồn kho đầu kỳ.
-Nguồn hàng tự sản xuất, tự khai thác.
-Nguồn hàng liên doanh, liên kết.
-Nguồn đặt hàng và thu mua.
-Nguồn hàng của đơn vị cấp trên, nhận đại lý hoặc ký gửi.
Các nguồn hàng trên có thể là nguồn hàng tập trung để phục vụ cho những
nhu cầu đặt hàng lớn theo đơn đặt hàng và hợp đồng ký kết trớc hoặc do nguồn phi
tập trung do doanh nghiệp tự khai thác trôi nổi trên thị trờng.
Để tổ chức tốt công tác tạo nguồn hàng, các doanh nghiệp thơng mại sử dụng
các biện pháp sau:
-Tổ chức mạng lới thu mua.
- áp dụng các biện pháp kinh tế trong hoạt động khai thác tạo nguồn hàng.
-Đầu t, liên doanh, liên kết giúp dỡ các đơn vị nguồn hàng.
-Tổ chức tốt hệ thống thông tin từ các nguồn hàng về doanh nghiệp.
-Tổ chức quản lý dự trữ, bảo quản hàng hoá ở doanh nghiệp thơng mại.
2.2.3.Tổ chức các mối quan hệ giao dịch thơng mại :
Nhằm ghép mối trong giao dịch mua bán đối với các đơn vị, doanh nghiệp
phải thực thi trên các nguyên tắc:
-Số lợng, chủng loại hàng hoá phải đáp ứng yêu cầu thị trờng mà donh
nghiệp có khả năng cung ứng.
-Tổng quãng đờng vận chuyển hàng trong kinh doanh là nhỏ nhất.
-Đơn giản hoá các mối quan hệ mua bán.
kênh phân phối, phơng thức, hình thức bán hàng sao cho phù hợp với đặc điểm, tính
chất hoạt động của doanh nghiệp và loại hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp cung
ứng. Doanh nghiệp có thể lựa chon kênh phân phối dài hoặc ngắn, áp dụng cho từng
khu vực thị trờng cụ thể.
Kênh phân phối ngắn là kênh phân phối hàng hoá từ doanh nghiệp thơng mại
trực tiếp đến ngời tiêu dùng cuối cùng hoặc nếu có chỉ thông qua mạng lới bán lẻ
trung gian. Loại kênh này đảm bảo đẩy nhanh tốc độ lu chuyển hàng hoá, chi phí lu
thông có thể thấp, quan hệ giao dịch mua bán đơn giản, thuận tiện. Tuy nhiên tổ
chức phát triển phức tạp, quan hệ thị trờng hẹp nên chỉ phù hợp với hàng hoá có tính
chất thơng phẩm.
Kênh phân phối dài là kênh mà hàng hoá đi từ doanh nghiệp thơng mại qua
các nhà bán lẻ, bán buôn, nhà môi giới trung gian mới đến tay ngời tiêu thụ cuối
cùng. ở kênh này quan hệ mua bán theo từng khâu chặt chẽ, lu thông có khối lợng
hàng hoá lớn, vòng quay vốn nhanh hơn, có điều kiện để doanh nghiệp mở rộng thị
trờng, phát triển kinh doanh. Kênh này tuy thời gian lu chuyển và chi phí lu thông
lớn nhng thích hợp khi kinh doanh nhiều loại hàng hoá phù hợp với quan hệ mua bán
của nhiều doanh nghiệp.
Tuỳ theo nhu cầu chuyển giao lớn tập trung ổn định hay nhu cầu nhỏ lẻ không
ổn định mà có thể sử dụng kênh dài hay kênh ngắn dể chuyển giao hàng hoá.
7
Ngoài sự lựa chọn kênh phân phối, doanh nghiệp cần thực hiện chính sách
phân phối hàng hoá hợp lý trên cơ sở các nguyên tắc:
- Nguyên tắc hiệu quả kinh tế.
- Nguyên tắc đồng bộ liên tục.
- Nguyên tắc u tiên.
Doanh nghiệp phải xác định các phơng thức, hình thức bán hàng hợp lý, có
hiệu quả. Tuỳ theo yêu cầu xác định khác nhau mà có các hình thức bán hàng sau:
tổng thu nhập, chi phí cũng nh các chỉ tiêu kinh doanh để xem xét đánh giá hiệu quả
8
kinh doanh đã đạt đợc. Từ những đánh giá về mặt tích cực cũng nh những điểm hạn
chế của kỳ kinh doanh trớc, doanh nghiệp tiếp tục xây dựng các kế hoạch cho kỳ
kinh doanh mới.
II. Doanh nghiệp thơng mại nhà nớc và vai trò, chức năng
của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc :
1. Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp thơng mại nhà nớc
1.1 Khái niệm:
Theo pháp luật của nhà nớc ta, doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh đợc thành
lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh và lấy hoạt động kinh
doanh làm nghề nghiệp chính. Có doanh nghiệp nhà nớc, có doanh nghiệp t nhân, doanh
nghiệp cổ phần, doanh nghiệp hợp tác xã, doanh nghiệp liên doanh...
Đặc điểm nhiều thành phần kinh tế của nền kinh tế nớc ta đã đợc khẳng định.
Các thành phần kinh tế ấy không chỉ có trong sản xuất mà tồn tại trong mọi giai
đoạn của quá trình sản xuất xã hội. Trong kinh doanh thơng mại cũng có sự góp mặt
của mọi thành phần kinh tế. Doanh nghiệp thơng mại nhà nớc là một phần tử của hệ
thống kinh doanh thơng mại trong nền kinh tế quốc dân chuyên kinh doanh mua bán
hàng hóa dịch vụ.
Doanh nghiệp thơng mại nhà nớc là một loại hình doanh nghiệp thành lập và
hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nớc đợc Quốc hội thông qua ngày 20 / 4 / 95.
Nhà nớc ra quyết định thành lập, đầu t từ 51% vốn chở lên và quản lý với t cách chủ
sở hữu phần vốn đầu t.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, doanh nghiệp thơng
mại nhà nớc kinh doanh sản phẩm gì, qui cách, chất lợng, giá bán ra sao, địa chủ tiêu
thụ... đều do nhà nớc quyết định từ trên xuống. Doanh nghiệp chỉ là một đơn vị kinh
doanh thụ động, không cần quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của từng vùng, từng vùng, từng địa phơng
(nh : Vùng núi trung du phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc trung bộ, Duyên hải
miền Trung, Tây nguyên, Đông nam bộ, Đồng bằng sông Cửu long, vùng biên giới
phía bắc, phía tây nam...).
- Ngoài ra tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, ngời ta còn có thể phân loại
doanh nghiệp căn cứ vào mức lu chuyển hàng hóa từng năm, phạm vi kinh doanh...
2. Vai trò của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc trong nền kinh tế :
2.1 Vai trò của kinh doanh thơng mại trong nền kinh tế thị trờng :
Là các doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực thơng mại, các doanh
nghiệp thơng mại nhà nớc góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, tạo ra
động lực kích thích đối với ngời sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, tổ
chức lại sản xuất, hình thành nên các vùng chuyên môn hoá sản xuất lớn. Phát triển
kinh doanh thơng mại cũng có nghĩa là phát triển các quan hệ hàng hóa tiền tệ. Đó là
con đờng lớn nhất để chuyển từ sản xuất tự nhiên thành sản xuất hàng hóa.
Bản thân nhà sản xuất không phải lúc nào cũng có thể tiến hành tổ chức hậu
cần đầu vào và đầu ra và nếu có thì hiệu quả thờng thấp. Với sự hỗ trợ của các nhà
kinh doanh thơng mại, việc sản xuất của nhà sản xuất đợc tiến hành thuận lợi, sản
phẩm của nhà sản xuất đợc tiêu thụ, phân phối tới mọi nơi có nhu cầu, tăng nhanh
khối lợng và tốc độ lu chuyển hàng hóa, báo hiệu và kích thích nhà sản xuất.
10
Vì mục tiêu lợi nhuận, nhà sản xuất sẽ tìm mọi cách cải tiến công tác, áp dụng
khoa học kỹ thuật công nghệ mới, hạ chi phí. Đồng thời cạnh tranh trong thơng mại
buộc ngời sản xuất phải năng động, không ngừng nâng cao tay nghề, nâng cao năng
suất lao động, tiết kiệm các nguồn lực và tính toán thực chất hoạt động kinh doanh.
Cùng với các công ty nớc ngoài, các doanh nghiệp thơng mại tổ chức hội chợ triển
lãm giới thiệu sản phẩm mới và kỹ thuật tiên tiến cho các nhà sản xuất trong nớc. các
doanh nghiệp thơng mại làm cầu nối giữa các doanh nghiệp trong nớc với công ty nớc ngoài trong hợp tác sản xuất kinh doanh và chuyển giao công nghệ một cách có
kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp khác và phải cung cấp, đảm bảo các mặt hàng
thiết yếu chiến lợc cho nhân dân, ổn định đời sống xã hội.
Ngày nay, nhà nớc đang ngày càng phát triển, bất chấp sự xuất xứ đa dạng của
nhà nớc vẫn có những quan điểm chung khẳng định vai trò và tác dụng của doanh
nghiệp nhà nớc nói chung và doanh nghiệp thơng mại nhà nớc nói riêng. ở các nớc t
bản chủ nghĩa, dù rằng khu vực kinh tế nhà nớc hoạt động thiếu năng động và kém
hiệu quả hơn khu vực kinh tế t nhân những không phải vì thế mà chính phủ xoá bỏ
hoàn toàn kinh tế nhà nớc. ở các nớc đó, doanh nghiệp nhà nớc hoạt động trong
nhiều lĩnh vực, duy trì trong một phạm vi, quy mô phù hợp với trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất và sự quản lý của chính phủ. Vì vậy chính phủ ở các nớc dó chủ trơng không cần kinh tế nhà nớc ở những ngành lĩnh vực kinh doanh mà nhà nớc
không cần duy trì kinh tế quốc doanh và kinh tế t nhân có thể làm tốt hơn. Trong
những ngành, lĩnh vực cần thiết cho xã hội, do dân c nhng kinh tế t nhân không đủ
điều kiện đầu t thì dù có nhiều rủi ro, chính phủ cũng phải duy trì doanh nghiệp nhà
nớc ở mức độ cần thiết.
Xu thế chung của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc là tồn tại, phát triển nh là
một bộ phận hu cơ nằm trong hệ thống doanh nghiệp nhà nớc và gắn chặt với các
doanh nghiệp sản xuất nhà nớc. Sản xuất và thơng mại liên kết với nhau trong những
chủ thể kinh tế lớn và bù đắp cho nhau trong kinh doanh.
ở nớc ta, vai trò của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc phải đợc xét trên quan
điểm lịch sử và thực tiễn. Với quan điểm lịch sử cho thấy, khi xây dựng nền kinh tế
thị trờng theo định hỡng xã hội chủ nghĩa từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá thì số lợng doanh nghiệp thơng mại nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn, thơng nghiệp t nhân nhỏ bé
và bị hạn chế, vai trò quyết định trên thị trờng thuộc về doanh nghiệp thơng mại nhà
nớc. Xuất phát từ thực tế khách quan, nền kinh tế nớc ta còn lạc hậu thơng nghiệp t
nhân mới đợc phát triển, số lợng thơng nghiệp t nhân tăng nhanh nhng chỉ tập trung
phân bố ở các lĩnh vực ngành hàng đem lại lợi nhuận cao, khu vực đông dân c, quy
mô nhỏ lẻ là chủ yếu, cha đủ sức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nên hoạt động của
doanh nghiệp thơng mại nhà nớc vẫn cần thiết phải có. Thực tế hiện nay, doanh
nghiệp thơng mại nhà nớc vẫn là những doanh nghiệp chủ đạo trong kinh doanh một
thực hiện chức năng phục vụ nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng bằng các loại hàng
hoá, dịch vụ đa dạng. Nếu không phục vụ một cách hữu ích cho sản xuất và tiêu
dùng, các doanh nghiệp thơng mại không còn là trung gian cần thiết và không còn lý
do tồn tại trong nền kinh tế. Muốn phục vụ sản xuất và tiêu dùng có hiệu quả, các
doanh nghiệp thơng mại cần phải thờng xuyên nghiên cứu nhu cầu thị trờng để phát
hiện tìm ra những hàng hoá, dịch vụ thoả mãn nhu cầu và bằng mọi cách cung cấp
hàng hoá, dịch vụ đó để thoả mãn nhu cầu thị trờng. Có nh vậy doanh nghiệp mới
tìm kiếm đợc lợi nhuận và phát triển kinh doanh.
3.2.Phải không ngừng nâng cao trình độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng để
nâng cao hiệu quả kinh doanh :
Trong môi trơng kinh doanh có sự cạnh tranh gay gắt - giữa các doanh nghiệp
trong cùng ngành; giữa trong ngành và ngoài ngành; trong nớc và quốc tế, để tồn tại
và phát triển, các doanh nghiệp thơng mại trớc hết phải là ngời "hậu cần tốt"cho sản
xuất và tiêu dùng, đem dến cho khách hàng những hàng hoá đủ về chất lợng và tốt về
chất lợng, đồng bộ về cơ cấu, hợp lý về thời gian và giá cả.
Hơn nữa, doanh nghiệp thơng mại còn tác động vào ngời sản xuất để tạo ra
hàng hoá theo nhu cầu. Đồng thời tiếp tục sản xuất trong khâu lu thông, tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho sản phẩm sẵn sàng bớc vào tiêu dùng. Đây là một chức năng quan
trọng trong kinh doanh thơng mại.
13
Để nâng cao trình độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng, cũng nh là để tìm
kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp thơng mại phải nghiên cứu thực hiện hoạt động
dịch vụ khách hàng.
Doanh nghiệp thơng mại phải định hớng khách hàng trong mọi hoạt động kinh
doanh, đặt khách hàng vào vị trí trung tâm trong hoạt động của mình, không ngừng
nâng cao trình độ thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
3.3.Giải quyết tốt các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp và quan hệ giữa
doanh nghiệp với bên ngoài:
cũng nh vai trò của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế hay do vai trò kinh tế vi
mô cũng nh vi mô của nó.
Nếu mở rộng kinh doanh là sự biến đổi, tăng lên về mặt lợng thì phát triển
kinh doanh là sự tăng lên về mặt chất của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Mở rộng kinh doanh có thể là sự mở rộng danh mục mặt hàng kinh doanh , mở rộng
ngành hàng kinh doanh , kinh doanh tổng hợp, đa dạng hoá, liên kết mở rộng các
mối quan hệ trong kinh doanh, mở rộng thị trờng, mở rộng các hình thức mua bán ở
phạm vi trong và ngoài nớc. Phát triển phải gắn liền với mở rộng, biểu hiện bằng sự
tăng lên về thu nhập, nâng cao mức độ hoàn thành kế hoạch, doanh nghiệp tăng đợc
cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình, nâng cao thu nhập cho ngời lao động.
Cụ thể, doanh nghiệp có thể tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng đã
chiếm lĩnh đợc hay phát triển ra thị trờng mới. Doanh nghiệp đa ra thị trờng các hàng
hoá mới, hàng hoá cải tiến với nhiều điều kiện hấp dẫn về giá cả, chất lợng, chủng
loại, dịch vụ, thời gian, địa điểm, phơng thức thanh toán...Doanh nghiệp có thể phát
triển theo hớng đa dạng hoá sản phẩm (kinh doanh những mặt hàng mới trên thị trờng mới, thuộc những lĩnh vực ngành hàng kinh doanh truyền thống của doanh
nghiệp), hay đa dạng hoá kinh doanh (là kinh doanh hàng hoá mới trên những thị tr ờng mới thuộc lĩnh vực ngành nghề doanh nghiệp cha từng kinh doanh). Những hình
thức phát triển này ngợc lại đòi hỏi doanh nghiệp phải có một tiềm lực khá tơng
xứng và vững chắc về nhiều mặt.
Kết quả cuối cùng của quả trình này chính là nâng cao đợc hiệu quả kinh
doanh và thực hiện đợc các mục tiêu lợi nhuận, vị thế và sự an toàn mà doanh nghiệp
đã đặt ra.
Thực tế trong hơn 10 năm đổi mới, hệ thống các doanh nghiệp thơng mại nhà
nớc có nhiều biến đổi, các chỉ tiêu kinh tế quan trong của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc trong thời kỳ 1991-1995 đạt mức cao nhng gần đây lại có dấu hiệu chững lại.
Có thể giải thích rằng, thành tựu cao của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc
trong giai đoạn 1991-1995 là kết quả của sự chuyển đổi cơ chế, nhng nguyên nhân
sâu xa là do d địa thành công đối với doanh nghiệp lớn hơn. Bởi vì nhu cầu thị trờng
đối với tất cả hàng hoá còn lớn. Do nhiều năm bao cấp quan hệ cung cầu luôn luôn
rơi vào trạng thái "đói hàng", khi cơ chế thay đổi doanh nghiệp thơng mại nhà nớc đợc tự do phát triển hơn, đồng thời cầu thị trờng còn lớn. Vì vậy doanh nghiệp không
gặp trở ngại đáng kể trong kinh doanh hàng hoá.
Trong những năm gần đây, cung có chiều hớng vợt cầu về mặt số lợng do các
đợc đẩy mạnh (theo một tầm cao) hơn nữa bằng không chỉ các chính sách kinh tế
của nhà nớc mà quan trọng hơn là phaỉ bằng chính nội lực và ý chí của các doanh
nghiệp. Trong thời gian tới, doanh nghiệp thơng mại nhà nớc vẫn phải tiếp tục mở
rộng và phát triển kinh doanh theo hớng tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi cho các
loại hình doanh nghiệp khác nhằm động viên mọi nguồn lực thúc đẩy tăng trởng
kinh tế đồng thời phải lấy tiêu chuẩn hiệu quả làm thớc đo cho sự tồn tại và phát
triển của mình.
Chơng II:thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp
ơng mại nhà nớc trong giai đoạn hiện nay.
th-
I.Thực trạng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
thơng mại nhà nớc :
1.Tổng quan về hoạt động thơng mại nớc ta hiện nay:
Công tác đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội nớc ta mở đầu từ Đại hội VI trải
qua gần 10 năm. Từ đó đến nay, nớc ta đã có những thay đổi to lớn và sắc trên mọi
16
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Để chuyển nền kinh tế theo hớng mới, Đảng đã đề ra hớng chuyển: Từ một
thành phần kinh tế , phát triển nền kinh tế với 5 thành phần kinh tế , xoá bỏ phân
phối hiện vật sang kinh tế hàng hoá, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
chuyển sang cơ chế thị trờng, bảo đảm quyền độc lập tự chủ, tự trang trải của các
đơn vị sản xuất kinh doanh và từ nền kinh tế đóng chuyển sang nền kinh tế mở cửa,
kêu gọi các nớc đầu t vào nớc ta.
Nhìn chung, chúng ta đã hình thành đợc thị trờng thông suốt. Cục diện chung
của thơng mại từ sau đổi mới đến nay hoạt động khá nhộn nhịp. Tổng mức lu chuyển
hàng hoá bán lẻ xã hội tăng nhanhhàng năm từ 10-12%, năm 1997 đạt khoảng 160
17
Đóng góp vào thành tựu chung của hoạt động thơng mại cả nớc, các doanh
nghiệp thơng mại nhà nớc đang tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả kinh doanh,
thể hiện là một hợp phần quan trọng, tất yếu đối với nền kinh tế.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng địnhtiếp tục đổi mới đờng lối kinh
tế. Trong đó, củng cố đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để kinh tế nhà nớc thực
sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trờng có định hớng XHCN có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Chính phủ đã đề ra nhiều Nghị định, chủ trơng, biện pháp nhằm
tổ chức, sắp xếp lại, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế doanh nghiệp nhà nớc nh: Nghị
định 388/HĐBT, Quyết định 90/TTg, Quyết định 91/TTg, Chỉ thị 500/TTg, Nghị
định 44/CP là những văn bản mang tính pháp luật quy địnhviệc thành lập, gỉai thể và
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc . Luật doanh nghiệp nhà nớc năm 1995 đợc Quốc
hội khoá IX thông qua là sự khẳng định tồn tại khách quan và sự cần thiết của doanh
nghiệp nhà nớc trong cơ chế thị trờng.
Đối với ngành thơng mại, Nghị quyết số 12 của BCT khoá VII ngày 3/1/1996
về "tiếp tục đổi mởi tổ chức và hoạt động thơng nghiệp , phát triển thị trờng theo
định hớng XHCN ", Luật thơng mại đợc Quốc hội khoá IX thông qua là những văn
bản lớn để khẳng định sự đóng góp tích cực của ngành thơng mại và phơng hớng
cũng nh giải pháp của ngành, của doanh nghiệp trong sự phát triển sản xuất, tăng trởng kinh tế và mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài. Những chủ trơng biện pháp
của Đảng, Chính phủ trong đổi mới doanh nghiệp nhà nớc nói chung và các doanh
nghiệp nhà nớc thơng mại nói riêng đã đợc triển khai và đạt đợc những kết quả nhất
định, đồng thời cũng đang gặp nhiều vấn đề cần giải quyết.
Để đánh giá đúng thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh, đề ra các biện
pháp mở rộng và phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc trớc
hết chúng ta phải nghiên cứu thực trạng doanh nghiệp thơng mại nhà nớc trong thời
gian qua.
2.1.Về số lợng doanh nghiệp thơng mại nhà nớc :
14872
14625
*D.N có vốn đầu t trong nớc
5444
7953
10689
14741
14505
1.D.N nhà nớc
1799
1922
1805
1778
1566
- D.N nhà nớc trung ơng
268
186
3.D.N t nhân
1835
3894
6298
8123
9135
19
33
23
40
48
1580
1907
1995
1996
1997
1998
tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội khu
vực kinh tế nhà nớc
3730
3965
4219
4598
tỷ trọng tổng số(%)
29,4
27
27,1
26,9
thành phần kinh tế khác hoạt động trong lĩnh vực ngoại thơng.
Về mạng lới kinh doanh , năm 1998 thị trờng cả nớc đã có gần 1,1 triệu điểm
hoạt động kinh doanh trong đó 21727 điểm thuộc doanh nghiệp thơng mại nhà nớc,
trong đó có 7562 điểm ở nông thôn chỉ chiếm 35% (với dân số chiếm khoảng 80%
dân số cả nứơc) và 1705 diểm biên giới hải đảo chiếm 8%. Nh vậy, sự phân bố điểm
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc mới chỉ tập trung ở các
thành phố lớn nh Tp Hồ Chí Minh, Hà nội.
Trong 21727 điểm kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc năm 1998
có 18187 điểm kinh doanh thơng nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu (83,7%) còn lại là
798 điểm kinh doanh nhà hàng, 651 điểm kinh doanh khách sạn, 167 điểm kinh
doanh dịch vụ . Tính bình quân mỗi tỉnh thành phố có 27 doanh nghiệp , khách sạn,
nhà hàng du lịch, dịch vụ. Với hệ thống các điểm kinh doanh , khách sạn nhà hàng
đã mang lại một khoản lợi nhuận lớn cho ngân sách nhà nớc và làm thay đổi bộ mặt
của đất nớc.
2.2.Về vốn kinh doanh và quản lý tài chính:
Do tính chất của hoạt động thơng mại, các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc
luôn cần một lợng vốn lớn, nhất là vốn lu động. Tuy nhiên trong những năm qua, các
doanh nghiệp bị thiếu vốn nghiêm trọng. Do thiếu vốn, nhiều doanh nghiệp làm ăn
kém hiệu quả, không phát huy đợc quyền tự chủ kinh doanh theo những ngành hàng
đợc phân công hoặc tự lựa chọn trong cơ chế thị trờng. Vấn đề đặt ra là: Muốn tham
gia thị trờng nhiều hơn, muốn đầu t cho sản xuất chế biến, muốn vơn tới thị trờng
các nớcphải có vốn lớn. Và quan trọng hơn là việc sử dụng, bảo toàn và phát triển
nguồn vốn có vai tró quyết định đến sự hoạt động, phát triển hay giải thể của doanh
nghiệp.
Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, số lợng doanh nghiệp thơng mại nhà nớc
theo qui mô tổng nguồn vốn các năm vừa qua nh sau:
20
cơ
cấu(%)
354
567
244
250
98
53
22,5
36,2
15,6
16
6,3
3,4
167
484
246
445
103
121
10,7
30,9
15,7
28,4
6,6
7,7
14,3%, 6 tháng đầu năm 1998 có 229 doanh nghiệp chiếm 14,6%. Điều này chứng tỏ
số doanh nghiệp có quy mô tơng đối lớn có xu hớng tăng.Trong đó số các doanh
nghiệp có mức vốn từ 100 tỷ trở lên đã tăng lên nhanh chóng và có thể thực hiện
nhiệm vụ nhà nớc giao về cân đối ổn định hàng trong nớc và là đối trọng khi kinh
doanh với các công ty nớc ngoài. Tuy nhiên vẫn cha đáng kể so với các tập đoàn lớn
trên thế giới.
Số lợng doanh nghiệp thơng mại nhà nớc đông nhng cha mạnh, vẫn chủ yếu là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy đã đợc nâng lên một bớc về vốn đầu t của nhà nớc, giảm bớt những doanh nghiệp quá nhỏ qua giải thể hay cổ phần hoá nhng tốc độ
21
cải thiện còn chậm. Nguồn vồn phân bổ còn phân tán. Ngay cả những doanh nghiệp
trọng điểm của nhà nớc tình trạng thiếu vốn vẫn là phổ biến. ở Tp Hồ Chí Minh một địa bàn hoạt động sôi nổi nhất về thơng mại thì các doanh nghiệp thơng mại nhà
nớc vẫn có 70% trong tình trạng thiếu vốn.
Cơ cấu vốn kinh doanh còn nhiều hạn chế. Vốn cố định hầu hết nằm ở tài sản
cố định và ít nằm trong đầu mối giao thông quan trọng nên cha phát huy đợc tác
dụng. Vốn lu động còn mỏng làm hạn chế tính chủ động về nguồn hàng dự trữ khi
cần, giảm sức cạnh tranh và hạn chế hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Thực tế
lợng vốn huy động vào quá trình kinh doanh chỉ đạt 80%. Riêng vốn lu động mới chỉ
đạt khoảng 50% trong tổng số vốn lu động hiện có, số còn lại nằm trong hàng hoá
vật t, ở các khoản nợ phải thu, phải trả khác. Mỗi năm các doanh nghiệp thơng mại
do Bộ thơng mại quản lý mới đợc bổ sung thêm 10 tỷ đồng. Lợng vốn đó cha đáp
ứng đợc yêu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp mà mới chỉ mang tính trợ giúp
nhỏ lẻ.
Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải vay đợc vốn từ ngân hàng hay huy động
vốn cổ phần, liên doanh, liên kết... Song việc vay vốn ngân hàng cha thực sự thích
ứng cho hoạt động kinh doanh loại hình doanh nghiệp thơng mại cũng nh đặc điểm
chu chuyển thực tế từng mặt hàng và ngành hàng. Nhất là đối với doanh nghiệp kinh
doanh nông sản xuất khẩu phải thu mua sản phẩm theo mùa vụ nh gạo, mía, hạt
điều... Mặt khác lãi suất ngân hàng quá cao (1,75%/tháng), thời hạn ngắn, doanh
có hiệu quả.
2.4.Về lao động :
Lao động là một yếu tố hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, mỗi doanh nghiệp để nâng cai hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phải biết
khuyến khích lợi ích cả vật chất lẫn tinh thần và trách nhiệm đối với ngời lao động.
Doanh nghiệp cũng cần có những chính sách thu hút lao động có chất lợng hớng vào
doanh nghiệp để tuyển chọn khi mở rộng kinh doanh.
Về số lợng lao động, các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc có số lao động bình
quân hàng năm tăng không đáng kể, xu hớng lao động chuyển sang và tăng nhanh ở
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tuy nhiên lợng lao động trong các doanh nghiệp
thơng mại nhà nớc là không nhỏ. Tình hình phân bổ lao động ở các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc những năm gần đây:
Qui mô lao động
1 -10
lao động
11 - 30 lao động
31 - 100 lao động
101 - 500 lao động
500 - 1000 lao động
1000 lao động trở lên
1997
1998
số doanh
nghiệp
số lao
5591
36088
121313
47410
57970
23
Có thể thấy tổng số doanh nghiệp thơng mại nhà nớc, số các doanh nghiệp có
lao động dới 100 lao động và từ 101 - 500 lao động chiếm đa số. Điều đó cho ta thấy
qui mô lao động của doanh nghiệp thơng mại nhà nớc chủ yếu là doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Các doanh nghiệp có trên 500 lao động chỉ chiếm 6,3% (năm 1997).
Lực lợng lao động ở các doanh nghiệp đợc thay thế và bổ sung bằng đội ngũ
lao động trẻ khoẻ, có nghiệp vụ , thay dần đội ngũ lao động cũ. Chất lợng lao động
cha cao về trình độ nghiệp vụ chuyên môn, chủ yếu vẫn là lao động phổ thông thực
hiện các hoạt động dịch vụ , bán hàng, vận chyển... lao động cha thể hiện đợc sự
chuyên sâu trong hoạt động thơng mại và còn thua kém về sự năng động, tính linh
hoạt sáng tạo và tinh thần trách nhiệm đối với doanh nghiệp nếu so sánh với các
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nh doanh nghiệp t nhân, doanh nghiệp
cổ phần... Điều này ảnh hởng đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp thơng mại
nhà nớc cha phản ánh đúng tiềm năng thực sự của doanh nghiệp, và cũng ảnh hởng
tới thu nhập của doanh nghiệp và bản thân ngời lao động. Đa số các doanh nghiệp
thơng mại nhà nớc hiên nay có mức thu nhập tháng bình quân trên đầu ngời ở mức
400.000 đồng trở xuống và có tới 33 doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân đầu
ngời 150.00 đồng (năm 1997). Số doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân đầu ngời
trên 1 triệu đồng/ tháng chỉ chiếm khoảng 15% trên tổng số doanh nghiệp thơng mại
nhà nớc.
Một vấn đề đang đặt ra cho các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc cũng nh cho
các doanh nghiệp nhà nớc nói chung là năng lực trình độ của đội ngũ nhà quản lý,
đủ chi
thua lỗ
68
74
71
71
64
25
19
20
22
33
7
7
9
7
3
54
65
67
65
63
39
27
- Có bằng đại học
- Có bằng thạc sĩ trở lên
76,7
80,6
23,1
19,4
0,2
73,5
70
24,5
20
2,0
10
Có thể thấy dù là ở doanh nghiệp trung ơng hay địa phơng, cán bộ quản trị có
bằng cấp càng cao thì khả năng doanh nghiệp có lãi càng nhiều và thâm niên làm
việc càng nhiều thì khả năng bị thua lỗ giảm đi. Những yếu kém thiếu hụt về học vấn
và bề dầy kinh nghiệm của giám đốc, tổng giám đốc doanh nghiệp sé dẫ đến thất bại
trong đàm phán, bị động, thậm chí, bị lờng gạt trong kinh doanh . Đó sé là nguy cơ
dẫn đến sự thua thiệt, thậm chí phá sản doanh nghiệp mà trong những năm gần đây
chúng ta vẫn bắt gặp. Cần phải coi đây là một trong những vấn đề trọng tâm bức xúc
phải giải quyết để nâng cao nội lực cho các doanh nghiệp.
2.5.Về thị trờng: