Luận văn nghiên cứu mô hình chaebol hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho tập đoàn kinh tế VN - Pdf 37

Mục lục
Phần I. Hàn Quốc
I.Giới thiệu về Hàn Quốc
1.1. Đất nước - con người
1.2.Chính trị
1.3.Kinh tế
II.Mô hình Chaebol Hàn Quốc
2.1.Khái niệm
2.2.Lịch sử hình thành và phát triển của Chaebol
2.3. Đặc điểm Chaebol
III. Ưu nhược điểm và tác động của Chaebol tới nền kinh tế Hàn Quốc
3.1.Chế độ tập trung hoá và tính hình thức cao trong việc ra quyết định
3.2.Vị trí độc quyền trong nước
3.3.Khuynh hướng đa dạng hoá của Chaebol
IV. Đánh giá hoạt động của mô hình Chaebol từ sau khủng hoảng năm 1997
4.1.Những thành tựu đạt được sau cải tổ
4.1.1.Về cơ cấu kinh doanh
4.1.2.Về cơ cấu vốn
4.1.3.Về quản lý công ty
4.2.Những tồn tại chủ yếu
4.2.1.Trên phương diện vĩ mô
4.2.2.Trên phương diện vi mô
4.3.Tình hình hiện nay
4.3.1.Nguy cơ tan rã
4.3.2.Cơ cấu sở hữu thay đổi
4.3.3.Chaebol thâm nhập vào các ngành, lĩnh vực kinh doanh khác

1


Phần II. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


OECD: Hợp tác kinh tế và phát triển



IMF: Quỹ tiền tệ thế giới



CEO: Lãnh đạo cấp cao



GDP: Tổng sản phẩm quốc dân



PPP: Sức mua tương đương



AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN



ACFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc



FTC: Uỷ ban thương mại Hàn Quốc

mạnh thì việc nên làm là nghiên cứu mô hình Chaebol H àn Quốc, tìm ra
những ưu điểm và nét tương đồng để vận dụng linh hoạt và tránh những nhược
điểm mà họ đã mắc phải.
Nhận thấy tính cấn thiết của vấn đề, chúng em đã nghiên cứu đề t ài "
Nghiên cứu mô hình Chaebol Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho các Tập
đoàn kinh tế Việt Nam" nhằm hiểu rõ hơn về các Chaebol H àn Qu ốc v à t ổng
công ty nước ta trong xu hướng toàn cầu hoá.

4


I.Giới thiệu về Hàn Quốc
1.1.Đất nước - con người
Sau hơn bốn thập kỷ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, H àn Quốc
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc và được cả thế gi ới biết đến nh ư
" Kỳ tích trên sông Hàn". Hơn 48 triệu người dân Hàn Qu ốc hoàn toàn có
quyền tự hào về những gì đất nước mình làm
được, từ một quốc gia nông nghiệp nghèo vươn
lên một tầm cao mới với vị thế một trong b ốn
con hổ Châu Á và một trong 24 nước OECD.
Hàn Quốc tên chính thức là Đại Hàn Dân
Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên - trải dài
1000km từ Bắc tới Nam ở phần Đông Bắc lục
địa Châu Á. Phía bắc Hàn Quốc giáp với cộng
hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, phía đông
giáp với biển Đông (biển Nhật Bản), phía nam và đông nam giáp v ới eo bi ển
Triều Tiên - ngăn cách Hàn Quốc với Nhật Bản, và phía tây giáp v ới Ho àng
Hải. Thủ đô Seoul là thành phố lớn nhất tập trung nhiều dân c ư, đồng th ời l à
trung tâm kinh tế của cả nước.
Diện tích 99.382km2, trong đó có vô số đảo nhỏ ngoài khơi phía Nam

số. Dân tộc thiểu số duy nhất là bộ phận nhỏ người Hoa.
Nhờ kinh tế phát triển nên chể độ ăn uống và chăm sóc y tế đều được
cải thiện. Trong những năm gần đây, ngân sách dành cho Bộ Y Tế và Phúc
lợi đã tăng lên. Năm 2005, ngân sách Chính phủ dành cho Bộ Y Tế lên tới
8906 tỷ won ( tương đương 9,2 tỷ USD). Tỷ lệ chi cho y t ế trong chi tiêu to àn
hộ gia đình cũng tăng theo. Năm 2003 chi tiêu cho y t ế bình quân đầu ng ười
là 840.133 won, tăng gần 10 lần so với chi năm 1985 chỉ là 85.000 won.
1.2.Chính Trị
Dù ngày nay là một nước cộng hoà nhưng suốt chiều dài lịch s ử, H àn
Quốc đã trải qua nhiều năm tháng dưới chế độ độc tài hay phi dân chủ. Chỉ
mãi đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, các nguyên tắc dân chủ m ới b ắt
đầu được tôn trọng. Người đứng đầu nước là tổng thống do dân trực tiếp bầu
ra năm năm một lần và chỉ được giữ một nhiệm kỳ duy nhất. Tổng thống là
người hoạch định chính sách và người làm luật chủ yếu. Tổng thống hiện nay
của Hàn Quốc là ông Roh Moo-hyun ( Lỗ Vũ Huyền).
1.3.Kinh tế
Nền kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế thị tr ường trong đó nhà
nước đóng một vai quan trọng.
Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của H àn Quốc chỉ
đứng ngang với với các nước nghèo ở Châu Phi và Châu Á thì hiện nay, t ổng
sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 10 trên thế giới. Năm 2005 GDP

6


danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng 789 tỷ USD, GDP tính theo s ức
mua tương đương (PPP) ước đạt khoảng 1.097 tỷ USD. Thu nhập bình quân
đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt l à
16.270 USD và 22.620 USD(xếp thứ 33 và 34 thế giới).
Có rất nhiều yếu tố đã tạo nên sự phú cường của H àn Qu ốc trong đó có

4,6
GDP
Năm 2005, mức tăng trưởng GDP của Hàn Quốc là 3,9% với tổng s ố
801,2 tỷ USD, mức thu nhập bình quân theo đầu người là 20.400 USD/năm.
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đóng góp 3,7% GDP, công nghiệp là 40,1% và
dịch vụ là 56,3%. Riêng lĩnh vực công nghiệp, t ốc độ tăng tr ưởng l à 7,3%
trong năm 2005.

7


10

.

8

Trung tâm6 Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia
II.Mô hình Chaebol Hàn Quốc
T?c đ? tăngGDP
4
2.1.Khái2 niệm :
Chaebol0 (hay Jaebol) là tên của các tổ hợp công nghiệp có quy mô l ớn
19801985199019952000thuộc sở hữu của 1984
gia đình
nhóm 1999
gia đình
1989hoặc1994
2005ở H àn Qu ốc. Đây l à m ột hình
thức khối kinh tế tư nhân của Hàn Quốc. Tiếng Hàn Quốc có nghĩa là “khối

Tổng thu
Lợi
Tổng tài
động sử
Chaebol
nhập(triệu nhuận(triệu
sản(triệu
dụng(người
USD)
USD)
USD)
)
Daewoo
65.160,2
468,3
73091,6
186.314
Sunkyong
44.031,0
313,0
30.170,0
33.299
Samsung
34.286,5
64,7
11.211,8
11.904
Hyundai
27.278,5
7,7

65,8
10.131,1
47.174
Motor
(Nguồn: theoUNSTAD,1998)
2.2.Lịch sử hình thành và phát triển của Chaebol
Giữa thế kỷ XX, nền kinh tế Hàn Quốc là nền kinh t ế nh ỏ v à d ựa
vào nông nghiệp là chủ yếu. Tuy nhiên, vào năm1961, các chính sách của
Tổng thống Park Chung Hee đã thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá mau lẹ
thông qua hoạt động kinh doanh quy mô lớn. Chính sách công nghiệp hoá
của chính phủ đề ra theo hướng đầu tư mới, nghĩa là chaebol được bảo đảm
vay vốn từ khu vực ngân hàng. Nhờ đó, chaebol đã đóng vai trò chủ đạo trong
việc phát triển các ngành công nghiệp, thị trường mới và sản xuất hàng xuất
khẩu, góp phần quan trọng đưa Hàn Quốc trở thành một trong những con hổ
Đông Á.
Mặc dù chương trình công nghiệp hoá chủ đạo của Hàn Quốc m ới bắt
đầu từ đầu những năm 1960 nhưng sự phân biệt đẳng cấp trong các doanh
nghiệp đã xuất hiện trong nền kinh tế- chính trị từ những năm 1950. Trong
suốt thời kỳ là thuộc địa của Nhật hiếm có người dân Hàn Quốc nào sở h ữu
hoặc điều hành doanh nghiệp quy mô lớn. Sau khi quân Nhật rút khỏi H àn
Quốc năm 1945, một số doanh nhân Hàn Quốc chiếm được tài sản t ừ các c ơ
9


sở sản xuất của Nhật, một số trong đó đã phát triển thành Chaebol v ào nh ững
năm 1990.
Khi quân đội lên nắm chính phủ năm 1961, các lãnh đạo quân đội
thông báo rằng họ sẽ nhổ tận gốc nạn tham nhũng từng gây r ắc r ối cho chính
quyền Rhee và loại bỏ những bất công trong xã hội. Nhiều nhà tư bản công
nghiệp lãnh đạo đã bị bắt và buộc tội tham nhũng song chính phủ m ới nhận


10


sản phẩm là nhân tố quyết định sự phát triển của Chaebol, các yếu t ố nh ư đổi
mới, sẵn sàng phát triển dòng sản phẩm mới giữ vai trò then chốt. Trong
những năm 1950-1960, Chaebol tập trung vào hàng dệt may; đến giữa thập
niên 70- 80, công nghiệp nặng, hoá chất và quốc phòng chiếm ưu thế, sang
thập niên 90, sự phát triển thực sự diễn ra trong công nghiệp điện t ử và công
nghiệp kỹ thuật cao. Chaebol cũng là nguyên nhân của sự thay đổi từ thâm
hụt thương mại năm 1985 thành thặng dư thương m ại năm 1986. Tuy nhiên,
cán cân tài khoản vãng lai đã giảm từ hơn 14 tỷ USD n ăm 1988 xu ống còn 5
tỷ USD năm 1989.Cuối thập niên 80, Chaebol đã độc lập và vững mạnh về tài
chính nên không cần sự hỗ trợ và bảo đảm tín dụng của chính phủ n ữa. Đến
thập niên 1990, Hàn Quốc là một trong các NICs lớn m ạnh nhất, tự hào về
mức sống có thể so sánh với các nước công nghiệp.
Tổng thống Kim Young-sam đã bắt đầu thử thách Chaebol nhưng cho
đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 thì nh ững h ạn ch ế c ủa h ệ
thống này mới bộc lộ rõ nét. Trong số 30 Chaebol lớn nhất thì 11 đã sụp đổ từ
giữa tháng 7 năm 1997 đến tháng 6 năm 1999. Chaebol được đầu t ư ch ủ y ếu
trong lĩnh vực sản xuất hướng tới xuất khẩu, bỏ qua thị trường trong nước và
đặt nền kinh tế trước mọi sự suy sụp của thị tr ường n ước ngoài. Trong quá
trình cạnh tranh lẫn nhau, các Chaebol đã tạo ra công suất vượt quá khả năng
chống chịu của mình: vào thời kỳ tiền khủng hoảng Hàn Quốc với số dân xếp
thứ 26 trên thế giới đã có 7 nhà máy sản xuất ô tô lớn.
Nhiều Chaebol đã mắc nợ chồng chất do rót vốn mở rộng hoạt động của
mình, không chỉ các ngân hàng công nghiệp nhà nước m à cả các ngân h àng
độc lập và các chi nhánh cung cấp dịch vụ tài chính thuộc sở hữu của các
ngân hàng đó. Hậu quả của khủng hoảng khi các Chaebol không tr ả được n ợ
làm cho các ngân hàng không thể thu lại nợ và xoá sổ nợ xấu mà không bị

-Về cơ cấu nhân sự trong Chaebol: phân cấp, phân tầng chặt chẽ, rõ rệt
theo kiểu hình tháp. Kiểu tổ chức này nhằm thúc đẩy, khuyến khích các
thành viên trong Chaebol luôn phấn đấu đạt kết quả cao trong vị trí của mình
và phấn đấu đạt địa vị nhất định trong cơ cấu đó, song cũng có hạn chế của
một thể chế quản lý truyền thống kiểu “kim tự tháp”.Cơ cấu các Chaebol Hàn
Quốc đều chịu sự chi phối của gia đình sáng lập và hậu duệ. M ức độ chi phối
tương đối chặt chẽ và chiếm vị trí quan trọng trong tập đoàn. Qua đó chúng ta
thấy trong các Chaebol phương thức quản lý theo quan hệ gia đình và đẳng
cấp cao. Mối quan hệ chặt chẽ và đẳng cấp này đã đưa Chaebol tr ở th ành m ột
“nền cộng hoà” riêng, chi phối và ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia.
-Về sở hữu, các Chaebol duy trì theo chế độ sở hữu “huyết thống”, t ức
là thường do các cá nhân sáng lập ra nó kiểm soát và tuân th ủ theo truy ền
thống cha truyền con nối. Các thành viên trong gia đình theo thứ t ự (th ường
là con trai cả của gia đình thay cha nắm quyền kiểm soát và quản lý tài s ản
để kế tục sự nghiệp của cha ông để lại). Theo “Uỷ ban buôn bán công bằng
Hàn Quốc” thì phần sở hữu của các gia đình trong 30 Chaebol l ớn nh ất t ăng
từ 43,8% (1995) lên 44,1 % (1996).
Cơ cấu sở hữu của các Chaebol Hàn Quốc được phân thành 3 loại:
+ Loại thứ nhất: Cơ cấu sở hữu trực tiếp (mô hình của Han Jin Group)
Chủ sở hữu (Công ty
mẹ)

12


Các chi nhánh (Công ty chi
nhánh)

13


Sau hơn 30 năm tiến hành công nghiệp hoá, kinh t ế H àn Qu ốc phát
triển nhanh chóng. Hàn Quốc từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã
trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ 11 thế giới.
Trong sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc thì đóng góp của Chaebol l à
vô cùng to lớn. Hiện nay, Hàn Quốc có khoảng hơn 200 Chaebol được coi l à
14


đầu tàu kéo nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng GDP cao chưa từng th ấy.
Một số mặt hàng của Hàn Quốc có khả năng cạnh tranh cao trên thị tr ường
quốc tế. Chính các Chaebol đã tạo nên sự thần kỳ trong xuất khẩu của nước
này với tốc độ tăng 1000 lần trong vong 30 năm qua ( t ừ 100 tri ệu USD n ăm
1965 lên 100 tỷ USD năm 1995). Năm 1994, bốn Chaebol l ớn nhất H àn Qu ốc
là Samsung, Hyundai, Daewoo và LG tuy chỉ chiếm 3% số công nhân toàn
quốc nhưng lại chiếm 57% giá trị xuất khẩu của cả nước. Năm 1995, ba m ươi
Chaebol lớn nhất Hàn Quốc nắm giữ 44,9% tổng lượng hàng hoá tiêu th ụ,
41% trong tổng gía trị tăng và 18,5% tổng số lao động. Các Chaebol giữ vị trí
thống trị trên thị trường của nhiều loại sản phẩm và là nơi cung cấp công ăn
việc làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm 1997, ba m ươi Chaebol l ớn
nhất Hàn Quốc chiếm 2/3 GNP của Hàn Quốc trong đó 10 Chaebol h àng đầu
chiếm 1/2 GNP.
Sự thành công của Chaebol và những đóng góp của nó vào sự phát triển
nền kinh tế Hàn Quốc là không thể chối cãi. Bên cạnh những thành công
trong mô hình thì vẫn tồn tại những nhược điểm.
3.1.Chế độ tập trung hoá và tính hình thức cao trong việc ra quy ết
định.
Đây là một đặc trưng khác biệt của các Chaebol Hàn Quốc so với các tập
đoàn kinh tế ở một số nước khác như Đức, Nhật Bản, Mỹ. Ở phận lớn các
Chaebol Hàn Quốc, quyền sở hữu và quyền quản lý không được chia s ẻ gi ữa
các cổ đông mà tập trung trong tay người sáng lập hoặc các th ành viên trong

3.2. Vị trí độc quyền trong nước
Chính phủ không ngừng bảo trợ cho các Chaebol vì tính hữu dụng của
chúng trong quá trình công nghiệp hoá. Các Chaebol được hưởng quyền ưu
đãi đặc biệt trong huy động vốn. Các công ty thuộc Chaebol được vay v ốn v ới
mức lãi suất thấp hơn nhiều so với các công ty không thuộc Chaebol và các
công ty vừa và nhỏ. Ví dụ: Năm 1970 lãi suất vay v ốn v ới các công ty thu ộc
Chaebol là 7,2 % trong khi mức lãi suất trên thị tr ường l à 35,2%. Kho ảng
50% tổng các khoản cho vay của ngân hàng nằm dưới sự kiểm soát của chính
phủ là ưu tiên giành cho các Chaebol lớn. Với m ức lãi suất vay v ốn th ấp h ơn
so với các công ty không thuộc Chaebol, các công ty thu ộc Chaebol có l ợi th ế
không công bằng về chi phí, từ đó có thể đưa ra mức giá cạnh tranh m à các
công ty khác không thể theo đuổi. Chính phủ cũng thực hiện bi ện b ảo v ệ s ản
phẩm của các Chaebol bằng kiểm soát hàng nhập khẩu. S ự thành công của
các Chaebol trong các thập kỷ 70, 80, 90 chính l à do chính sách t ạo ra v ị trí
độc quyền cho các Chaebol của chính phủ với mục đích giảm thiểu r ủi ro
bằng việc giảm cạnh tranh trong nước đối với các Chaebol.
Nhờ lợi nhuận độc quyền nên các Chaebol có thể tích luỹ vốn một
cách nhanh chóng với mức độ cao. Do đó, nguồn lực của các Chaebol ngày
càng lớn. Nhưng điều này cũng làm giảm sức cạnh tranh của th ị tr ường trong
nước khi chính phủ chỉ chú trọng bảo hộ cho các Chaebol l ớn. Thêm v ào đó,
việc vay vốn với lãi suất thấp làm cho các Chaebol vay v ốn tr àn lan v à ph ụ
thuộc vào chính phủ về mặt tài chính. Nếu chính phủ cắt giảm các khoản
cho vay hoặc giảm việc bảo hộ về vốn thì các Chaebol sẽ khó có khả năng
thanh toán các khoản nợ và thậm chí là không thể tr ả được n ợ Chaebol d ễ b ị

16


tổn thương nếu có một sự biến động kinh tế hoặc chính tr ị.Chaebol Dawoo l à
một ví dụ tiêu biểu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 thì


18


Nguồn Kim Joon Kyung, 1998
Để giảm sự phụ thuộc về vốn vào chính phủ, các Chaebol lớn đã thực
hiện đa dạng hoá vào các ngành như tài chính phi ngân hàng, thương m ại là
những ngành không phải là lĩnh vực công nghiệp trọng điểm trong quá trình
công nghiệp hoá. Ởthời để
i m đầu năm 1980, mỗi Chaebol trong số 10 Chaebol
lớn nhất đều sở hữu ít nhất một công ty trong lĩnh vực tài chính ngân h àng.
Đầu năm 1994, mỗi Chaebol đã có trung bình 4 công ty ho ạt động trong l ĩnh
vực này với số vốn ngày càng tăng. Chaebol LG đầu những năm 70 chỉ có một
công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nhưng đến năm 1994 con số này l à
13 trong đó có 5 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính phi ngân hàng.
Sam Sung cũng là một Chaebol đã đầu tư lớn vào lĩnh vực này. Nếu năm
1980, Sam Sung đã đầu tư 22% tổng số tài sản của mình nh ưng đến n ăm
19


1988 con số này là 44,9%. Đến năm 2002, 30 Chaebol hàng đầu đã sở hữu 18
trong số 30 công ty bảo hiểm và 13 trong số 38 ngân hàng th ương m ại. Nhi ều
Chaebol đã đạt được mức độ tăng trưởng cao nhờ đầu tư vào lĩnh vực tài chính
phi ngân hàng, nhờ đó sức mạnh kinh tế của chúng ngày càng lớn. Do vậy,
các Chaebol có thể gây áp lực đối với chính phủ cả trên ph ương di ện kinh t ế
lẫn chính trị.
3.3.Khuynh hướng đa dạng hoá của các Chaebol
Khuynh hướng đa dạng hoá của các Chaebol xuất hiện khi chính sách
công nghiệp hoá chú trọng vào công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất
của tổng thống Park Chung Hee được thực hiện. Để khuyến khích các

tính và thiết bị văn phòng tự động. Gần đây, LG đã bỏ ra 351 triệu USD để
mua lại 58% cổ phần của công ty sản xuất máy tính truyền hình Zenith
Electronics. Trên thị trường được bảo hộ ở quê hương, LG vẫn thương hi ệu s ố
một về máy truyền hình, tủ lạnh và máy giặt nhưng trên thị trường qu ốc tế
các giòng sản phẩm mở rộng của họ đang nằm trong tình trạng bất lợi nặng
nề.

21


IV.Đánh giá hoạt động của mô hình Cheabol từ sau khủng ho ảng
1997
Trong số những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh t ế H àn
Quốc năm 1997, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng là do tỷ lệ nợ trên tổng
tài sản quá cao và các kết quả hoạt động kinh doanh không lành m ạnh của
nhiều công ty lớn. Điều này đòi hỏi phải thực hiện tái cơ cấu Chaebol. Dưới
sự giám sát chặt chẽ của IMF, chương trình cải tổ nền kinh tế bước đầu đã
đạt được những thành tựu đáng kể.
4.1.Những thành tựu đạt được sau cải tổ
Công cuộc cải tổ một số Chaebol đã đạt được những thành tựu nhất định,
thể hiện ở những khía cạnh sau:
4.1.1.Về cơ cấu kinh doanh
Vài năm đầu tiên sau khi công cuộc cải tổ được bắt đầu, số lượng các chi
nhánh bình quân của các Chaebol đã giảm 22,9%. Năm 2000 Daewoo ch ỉ
còn lại hai chi nhánh so với năm 1999 có 34 chi nhánh, còn Hyundai đã giảm
chi nhánh của mình từ 62 xuống còn 35.
4.1.2.Về cơ cấu vốn
Nhờ thay đổi đáng kể của môi trường kinh tế vĩ mô từ sau khủng hoảng,
tác động hỗ trợ của Chính Phủ cũng như những cố gắng của các t ập đo àn.
Chương trình tái cơ cấu nợ đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Đến

4.2.1.Trên phương diện vĩ mô
-Sự bảo trợ của Chính phủ đối với các tập đoàn trong những hoàn cảnh
nhất định là cần thiết nhưng sự bảo trợ quá mức sẽ làm yếu đi sức cạnh tranh
của các tập đoàn. Thêm vào đó việc quy định giới hạn trần đầu tư vào các
kinh doanh mới và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản như nhau (200%) đối v ới các
Chaebol bất kể chúng hoạt động ở lĩnh vực nào và khả năng tài chính của
công ty như thế nào là không cần thiết. Mỗi công ty có đặc đi ểm riêng v ề
hoạt động kinh doanh và năng lực quản lý của mình nên không thể có m ột cơ
cấu vốn tối ưu duy nhất cho tất cả các công ty. Yêu cầu này có thể làm hạn
chế khả năng đầu tư của các Chaebol nhằm khai thác cơ hội kinh doanh ở
những ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn.
-Sự phân biệt chính sách đối với các Chaebol theo quy mô của chúng
tạo nên sự không công bằng. Những yêu cầu đầu tư đối với các Chaebol có
quy mô lớn có thể làm các Chaebol khác đứng ở thứ hạng thấp h ơn không
muốn trở thành một trong số 50 Chaebol hàng đầu vì để giảm thiểu những
điều khoản ngăn cấm mà chính phủ áp dụng đối với 50 Chaebol hàng đầu.
-Cải tổ khu vực công ty chậm chạp trong đó bao gồm cả các công ty
thuộc Chaebol. Mặc dù Hàn Quốc thực hiện cải tổ công ty với tiến triển nhanh
hơn so với một số quốc gia khác do một số nguyên nhân như quyết tâm c ải t ổ
cao, nhưng nhìn chung, công cuộc cải tổ khu vực công ty nói chung và các
Chaebol nói riêng tiến triển một cách chậm chạp. Có nhiều nguyên nhân d ẫn
đến tình trạng này như yếu kém về nghiệp vụ ngân hàng trong việc đánh giá
các khoản nợ, những phản ứng của giới Chaebol, hệ th ống giám sát vi ệc th ực
thi Luật phá sản...
-Mối quan hệ giữa chính phủ - ngân hàng - Chaebol về cơ bản v ẫn

23


chưa thay đổi. Trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá, khi mới ra đời và quy mô

khởi đầu khả quan nhưng cũng đã tỏ ra không có hiệu quả. Ngoài nhiệm vụ
giảm tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, các nhiệm vụ khác như cải tiến quản lý tập
đoàn cũng chưa thực hiện được mục tiêu đề ra.
-Cung cách quản lý của các Chaebol không có mấy thay đổi. Các giám
đốc điều hành là những người được thuê từ bên ngoài thường nắm rất ít cổ
phần nên mục tiêu của họ rất khác so với mục tiêu của các cổ đông. Họ
thường chỉ chú trọng đến những lợi ích không phải bằng tiền như sự tín
nhiệm, chức vụ. Họ có khuynh hướng ưu tiên cho những thành công của công
ty trong ngắn hạn để chứng tỏ khả năng của mình, trong khi đó quy ền l ợi c ủa
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status