Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển không ngừng về mọi mặt của thế giới kể từ Đại hội
VI của Đảng ta đến nay nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Đây là sự đổi mới hết sức quan trọng có tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh
tế xã hội trong đó có vấn đề đào tạo và bồi dỡng lực lợng lao động.
Khi bớc sang cơ chế thị trờng thì nhiều điều kiện mới xuất hiện nh khu
công nghiệp, khu chế xuất và trong các doanh nghiệp cũng đầu t máy móc
thiết bị hiện đại vì vậy nhu cầu đào tạo bồi dỡng nâng cao trình độ tay nghề
cho các loại lao động là một đòi hỏi thờng xuyên.
Vấn đề đào tạo mới, bồi dỡng nâng cao trình độ cho ngời lao động là vấn
đề vừa mang tính trớc mắt vừa mang tính lâu dài cần đợc nhà nớc và các doanh
nghiệp cùng các cơ quan chức năng quan tâm.
Đợc sự giúp đỡ và hớng dẫn của Thầy em đã lựa chọn đề án: Một số
kiến nghị và giải pháp trong công tác đào tạo và bồi dỡng lực lợng lao động
trong nền kinh tế thị trờng
Do điều kiện thời gian và khả năng có hạn đề án trình bày ba nội dung
chính:
Phần I : Lý luận về lao động và việc làm
Phần II: Thực trạng lao động và đào tạo bồi dỡng lao động
Phần III: Những giải pháp và kiến nghị trong công tác đào tạo và bồi dỡng
lao động.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Văn Duệ đã hớng dẫn
em hoàn thành đề án này.
1
Phần I: Lý luận chung về lao động và việc làm
I/ Khái niệm nguồn lao động, việc làm và thất nghiệp:
2
nhân khẩu, nó thuộc loại những vấn đề chính yếu nhất của toàn bộ đời sống xã
hội. Khái niệm việc làm và khái niệm lao động liên quan chặt chẽ với nhau nhng không hoàn toàn giống nhau. Việc làm nó thể hiện mối quan hệ giữa con
ngời với những chỗ làm việc cụ thể là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó
lao động diễn ra đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu cầu xã
hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con ngời. Về giác độ kinh tế
việc làm thể hiện mối tơng quan giữa sức lao động và t liệu sản xuất giữa yếu
tố con ngời và quá trình sản xuất.
Theo thông t hớng dẫn về điều tra ngời cha có việc làm của liên bộ lao
động - Tổng cục thống kê năm 1996 thì khái niệm việc làm đợc nêu nh sau:
Việc làm là những lao động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm
nhằm đem lại thu nhập cho gia đình Khái niệm việc làm đầy đủ đợc hiểu là sự
thỏa mãn đầy đủ về nhu cầu việc làm của các thành viên có khả năng lao động
trong nền kinh tế quốc dân.
3. Thất nghiệp:
* Thất nghiệp là ngời không có việc làm và đang tìm việc làm (ngời)
* ở nớc ta hiện nay thất nghiệp đang gắn liền với các hiện tợng:
a) Thất nghiệp hữu hình, tức là ngời có sức lao động, muốn tìm việc làm
nhng không tìm đợc trên thị trờng.
b) Thất nghiệp trá hình dới nhiều dạng tức là làm việc nhng năng suất lao
động quá thấp, không góp phần ra sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân đáng
kể, mà chỉ cốt lấy thu nhập lấy từ tái phân phối để sống (dới mức sông tối
thiểu) hoặc ẩn náu trong biên chế, các cơ quan quản lý nhà nớc, các xí nghiệp
quốc doanh quá nhiều so với yêu cầu của công việc.
c) Thiếu việc làm ở nông thôn do nguồn nhân lực ngày càng đông nhng
diện tích canh tác chỉ có hạn, tính theo đầu ngời ngày càng ít đi.
d) Thất nghiệp diễn ra một cách phổ biến do tổng mức cầu về lao động
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thấp hơn mức đáng kể.
chuyên môn họ đang đảm nhận.
Đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Sự
đầu t của nhà nớc, trình độ văn hóa của nhân dân, trang bị cơ sở vật chất của
nhà trờng.
Để đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho nguồn nhân lực có hiệu
quả cần phân biệt sự khác nhau giữa nghề và chuyên môn.
Nghề là một hình thức phân công lao động. Nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết
tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định nh
nghề mộc, nghề cơ khí.
Chuyên môn là hình thức phân công lao động sâu sắc hơn do sự chia nhỏ
của nghề. Do đó nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết và thói quen trong phạm vi hẹp,
sâu hơh. Một nghề thờng có nhiều chuyên môn nh nghề mộc có mộc mẫu, mộc
làm nhà; nghề cơ khí có tiện, phay, bào...
Việc đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho ngời lao động là sự cần
thiết, vì hàng năm nhiều thanh niên bớc vào tuổi lao động nhng cha đợc đào
tạo một nghề, một chuyên môn nào, ngoài trình độ văn hóa phổ thông, không
4
những vậy nền kinh tế mở cửa, nhiều thành phần kinh tế hoạt động, cơ cấu
công nghệ thay đổi, sản xuất càng phát triển trong điều kiện cách mạng, khoa
học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ, phân công lao động xã hội ngày càng
sâu sắc, nhiều nghề chuyên môn cũ thay đổi, nhiều nghề chuyên môn mới ra
đời. Từ đó, đòi hỏi trình độ lành nghề của nguồn nhân lực cần phải đợc đào
tạo, nâng cao thêm cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất, đào tạo và nang cao
lành nghề cho ngời lao động cần phải phối hợp chặt chẽ với giáo dục phổ
thông, trờng dạy nghề, trung học và đại học về các mặt. Đồng thời phải có
những cơ cấu thích hợp và những biện pháp khác nhau đối với việc đào tạo và
nâng cao trình độ lành nghề cho công nhân kỹ thuật cán bộ chuyên môn về xác
3,05
2,45
2,15
- Tốc độ tăng NLĐ (%)
3,2
3,37
3,05
Về mức tuyệt đối nếu 5 năm 1976-1980 bình quân mỗi năm tăng thêm
75-80 vạn ngời trong độ tuổi lao động; 5 năm từ 1981-1985 là 85-90 vạn ngời(1)
Năm 1975 tổng số lao động trong khu vực nhà nớc có 1761 ngàn ngời
chiếm 8,2% tổng số lực lợng lao động. Sang năm 1976 đã tăng lên 2475,3
nghìn ngời chiếm 11,05 tổng số lao động (so với 1975 tăng thêm 714,3 nghìn
ngời chiếm 12,5% tổng số lao động xã hội (so với 1976 đã tăng thêm 840,2
nghìn ngời và chiếm tỷ trọng 13% tổng số lực lợng lao động xã hội (so với
1980 tăng thêm 551,4 nghìn ngời).
(*)
Còn nớc ta ở tình trạng phân công lao động thấp nhất lao động nông
nghiệp không những tăng tuyệt đối từ 15,11 triệu ngời năm 1980 lên 18,81
triệu ngời năm 1985, mà tăng cả tỷ trọng từ 69,84% năm 1980 lên 72,26%
năm 1985. Lao động công nghiệp tỷ trọng tăng không đáng kể (từ 10,39% lên
10,76%), lao động các ngành khác tỷ trọng rất thấp và giảm (19,77% xuống
16,98%).
nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc sang đội ngũ cán bộ chủ yếu làm
nhiệm vụ quản lý.
- Thứ hai là chất lợng của lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề không
những không đợc nâng cao mà còn bị mai một đi do cơ chế quản lý tập trung
sản phẩm làm ra theo chỉ tiêu dù tốt hay xấu đều đợc phân công hết. Từ đó ta
thấy kỹ năng của công nhân không đợc phát huy, tay nghề bị mai một đi và
công nhân không có tính sáng tạo. Mặt khác chế độ đào tạo công nhân theo
chế độ tuyển dụng suốt đời sẽ không tạo ra động lực để công nhân tự nâng cao
trình độ tay nghề của mình. Công tác tuyển dụng và công tác đào tạo không
theo đúng yêu cầu. Chỉ cần học qua các trờng là đợc nhận vào công tác không
kể đó là nghề đào tạo là gì. Chính vì vậy chất lợng lao động không cao (do làm
không phù hợp với ngành nghề đào tạo).
Thêm vào đó là thông tin về mọi mặt phục vụ sản xuất kinh doanh quản
lý kinh tế không đợc mở rộng, không đáp ứng đợc nhu cầu mà chịu sự bng bít
của kế hoạch hóa tập trung. Do vậy không có sự học hỏi từ các nớc đi trớc.
Đấy chính là sự thể hiện mặt hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
3. Về chính sách bồi dỡng đào tạo các loại hình lao động:
7
Trớc đổi mới, nớc ta từ một nớc thuộc địa nửa phong kiến 90% dân số mù
chữ sau khi dành đợc chính quyền, Đảng và Bác Hồ đã ra quốc sách là diệt
giặc đói, giặc dốt. Các lớp bình dân học vụ và các lớp bồi dỡng văn hóa lần lợt
đợc mở và phổ cập trong dân, nâng cao trình độ dân trí nói chung, trình độ cán
bộ công nhân lao động nói riêng. Hình thức này đợc duy trì khá lâu cho mãi
tới những năm 1970. Đặc biệt trong những năm 50 hình thành trờng bổ túc
công nông, tuyển chọn những ngời đã có kinh nghiệm chiến đấu, bồi dỡng cấp
tốc trình độ văn hóa cần thiết cử đi đào tạo hoặc đào tạo lại nghề phục vụ cho
nhu cầu xây dựng và phát triển đất nớc. Hầu hết cán bộ, công nhân kỹ thuật
- Mặt khác cha có những chính sách chế độ phù hợp để khuyến khích ngời dậy, ngời học do đó việc bồi dỡng đào tạo lại kém hiệu quả.
4. Về việc tuyển dụng lao động qua đào tạo
Chính sách tuyển dụng dựa trên quan điểm là sử dụng hết nguồn lao
động đã qua đào tạo vào khu vực nhà nớc, đã đào tạo là đợc phân công công
tác, càng làm cho số lợng lao động kỹ thuật đợc tuyển dụng vào làm việc tại
các cơ quan xí nghiệp nhà nớc, nhà nớc tăng lên nhanh chóng.
Bảng 3: Số lợng lao động có đào tạo tuyển dụng vào khu vực nhà nớc từ
1975-1985
STT
Lao động kỹ thuật tuyển
1975
1985
2.179
5.000
1
Trên đại học
2
Đại học và tơng đơng
136.000
TT
1
2
Ngành
LĐ có trình độ TNCN sơ
học và nghiệp vụ
LĐ có trình độ đại học và
trên
Toàn bộ nền KTQD khu vực
697
254
Các ngành sản xuất vật chất
209
67
- Công nghiệp
69
187
- Nghiên cứu khoa học
22
13
- Giáo dục - đào tạo
316
117
- Quản lý nhà nớc
80
38
(Nguồn: từ niên giám thống kê 1982 và báo cáo của Bộ xây dựng)
Qua số liệu trên cho thấy mặc dù tỷ lệ giữa số lợng cán bộ khoa học kỹ
thuật nghiệp vụ có trình độ cao nhất là cán bộ nghiên cứu khoa học trên một
vạn dân nớc ta so với các nớc phát triển là quá thấp nhng về cơ cấu phân bố thì
bất hợp lý . Tỷ lệ loại cán bộ này ở khu vực nhà nớc còn quá cao so với ngành,
lĩnh vực khác . Mặt khác theo kết quả điều tra của chúng tôi thì tỷ lệ lao động
khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề sử dụng không phù hợp với đào tạo
là 14,2% đây là tỷ lệ khá lớn, nói lên việc sử dụng loại lao động này còn tùy
tiện, làm cho cán bộ công nhân viên không phát huy đợc năng lực, trình độ
kinh nghiệm công tác
Đòi hỏi của sản xuất kinh doanh trong những năm tới (đến năm 2000 và
2010) đối với đội ngũ lao động ở các doanh nghiệp nớc ta là: đạt tỷ lệ cân đối
hơn về số lợng giữa các loại lao động kỹ thuật và nâng cao chất lợng để có thể
vận hành sản xuất kinh doanh trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Nh vậy yêu cầu đối với đội ngũ công nhân kỹ thuật có hiểu biết kỹ thuật,
và kỹ năng cao, có sức khỏe để vận hành đợc các máy móc và phơng tiện tiên
tiến có đạo đức lao động tốt. Còn yêu cầu đối với đội ngũ lao động quản lý là:
có kiến thức chuyên môn, kỹ thuật và kiến thức quản lý hiện đại, có ngoại ngữ
đủ để giao tiếp bình thờng trong công việc, thành thạo các kỹ năng quản lý
hiện đại, có đạo đức lao động và đạo đức kinh doanh tốt.
2. Thực trạng nguồn nhân lực.
Hiện nay giữa thực trạng nguồn nhân lực so với yêu cầu đặt ra ở nớc ta
cồn một khoảng cách quá xa0, có thể nêu thực trạng nguồn lao động trong các
doanh nghiệp hiện nay nh sau:
Một là, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề còn rất thiếu so
với nhu cầu ( hiện nay chỉ có 13% so với tổng số lao động) và đang tồn tại mất
cân đối nghiêm trọng về tỷ lệ giữa các loại lao động kỹ thuật (tỷ lệ thực tế là
một kỹ s/1,6 trung cấp và 3 công nhân, trong đó ở các nớc phát triển, tỷ lệ này
11
là một kỹ s / 3 trung cấp và 10 công nhân. Việc hình thành các khu công
nghiệp khu chế xuất ngày càng tăng thêm tình trạng đó .
Về nguồn lao động theo kết quả điều tra của Bộ lao động - thơng binh và
xã hội năm 1996, số ngời trong độ tuổi lao động và là nhân khẩu thờng trú từ
15-60 tuổi có 48,4 triệu ngời trong đó nhóm tuổi từ 15-24 có 13,7 triệu và
nhóm từ 25-34 có 11.6 triệu . Xét về lực lợng lao động về chuyên môn kỹ thuật
và công nghệ trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, thì trong tổng số 35,8
triệu ngơì ( trong độ tuổi lao động) số có trình độ trên đại học là 11.561 ngời ,
Ba là,thái độ chấp hành kỷ luật lao động của công nhân còn kém, công
nhân cha quen với tác phong công nghiệp và đặc biệt, ở nhiều doanh nghiệp
công nhân có tâm lý không muốn nâng bậc( vì nếu nâng bậc phải làm công
việc bậc cao hơn sẽ không đảm bảo năng suất, thu nhập sẽ bị giảm)
Bốn là, đội ngũ lao động quản lý tuy không thấp về trình độ sản xuất nhng năng lực thực tế cũng cha tơng xứng, cha đáp ứng đợc nhu cầu của công
việc hiện tại; cha đợc trang bị kiến thức quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh
trong điều kiện kinh tế thị trờng; cha đợc đào tạo để có đợc những kỹ năng
quản lý hiện đại; tác phong làm việc về cơ bản là cha thay đổi.
Năm là, đội ngũ quản lý cấp cao của doanh nghiệp ( giám đốc) cha thực
sự hớng tới đổi mới, một phần rất lớn ( 49%) còn cha qua đào tạo về nghiệp vụ
quản lý.
Trong khi đó, công tác đào tạo và phát triển nhân lực ở các doanh nghiệp
trong những năm qua lại rất ít đợc quan tâm chỉ có một số ít doanh nghiệp
nhận thức đợc vai trò của đào tạo và phát triển, còn hầu hết các doanh nghiệp
bỏ lơi công tác này. Tình hình phổ biến ở nhiều nơi là cắt giảm chi phí đào tạo,
hình thức đào tạo nghèo nàn, công tác thì nâng bậc ít đợc thực hiện. Việc cử
ngời đi học ở các trờng lớp chính quy còn nặng nề hình thức, bằng cấp còn cha
thực sự có hiệu quả về sử dụng cán bộ cha tạo ra đợc động lực về vật chất để
thúc đẩy ngời lao động tham gia đào tạo.
3. Công tác đào tạo giáo dục .
Công tác đào tạo giáo dục ở các cơ sở giáo dục đào tạo cũng còn nhiều
tồn tại. Trớc hết là sự mất cân đối đào tạo (nguyên nhân của sự mất cân đối
trong tỷ lệ giữa các loại lao động kỹ thuật hiện nay). Trong những năm qua, số
trờng đại học (cả công lập và dân lập) đã gia tăng rất nhiều, trong khi các trờng
đào tạo và dạy nghề càng ít dần: sau 10 năm trong cả nớc số trờng dạy nghề đã
giảm từ 360 xuống còn 174 trờng (chủ yếu là giao thông vận tải, in, cơ khí xây
dựng hóa chất 244 trờng trung cấp chuyên nghiệp và hơn 500 trung tâm dạy
nghề ( may mặc , sửa chữa xe máy, ti vi, vi tính , nghiệp vụ văn phòng...)
Với hệ thống các trờng và cơ sở dạy nghề nh trên, ở đây cha đề cập tới
ngày càng cao của nền kinh tế. Mặc dù việc dạy nghề ở các Bộ, ngành vẫn
đang tiến hành nhng khi ra trờng vẫn có sự mất cân đối giữa nhu cầu và việc
làm. Về khía cạnh tự tạo việc làm một số cơ sở dạy nghề còn đáp ứng đợc , nhng khi nhu cầu đòi hỏi có kỹ thuật cao hơn phù hợp với dây chuyền công nghệ
hiện đại thì lại hoàn tòan không thỏa mãn hoặc phải đào tạo lại. Chính việc đào
tạo nh vậy vừa gây tốn kém cho ngời học, vừa tốn khoản thời gian của việc dạy
nghề mà hiệu quả cha cao và không thiết thực.
ở khu vực nông thôn: Những đòi hỏi của CNH-HĐH nông thôn cũng
đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đào tạo lực lợng công nhân
kỹ thuật và công nghệ. Hiện nay công nghệ và tiểu thủ công nghiệp nông thôn
đang có xu hớng phát triển, tuy nhiên quy mô và thiết bị sản xuất cũng nh chất
lợng sản phẩm còn nhiều mặt hạn chế , lựcu lợng lao đông , kỹ thuật và công
nghệ nông thôn rất cần đào tạo lại vì tổng số 31,8 triệu lao động ở khu vực này
hiện có tới 29,4 triệu cha qua đào tạo. Đa số thợ trong các cơ sở sản xuất là do
kèm cặp, tự học và tích lũy kinh nghiệm. Nếu đặt vấn đề là tới đây đổi mới
công nghệ quy mô sản xuất hoặc cải tiến các quy trình công nghệ quy mô sản
xuất hoặc cải tiến các quy trình công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hơn hiện đại
14
hơn thì số lao động cũ và mới sẽ đào tạo ở đâu học nghề nh thế nào và chơng
trình dạy nghề cho lao động trẻ nông thôn ra sao? Đây có thể xem là một vấn
đề bức xúc trong chơng trình dạy nghề cho thanh niên nông thôn trong thời
gian tới mà không thể không đề cập. Trong cơ chế thị trờng, việc đào tạo lực lợng công nhân kỹ thuật nếu chỉ tập trung vào khu vực kinh tế nhà nớc nh trớc
đây thì không thể bảo đảm đợc do hạn chế kinh phí. Từ thực tế đào tạo cán bộ
công nhân kỹ thuật trẻ hiện nay, ta thấy nổi lên một số tình hình sau đây:
Một là, hầu hết số thanh niên có khả năng ( cả về kinh tế lẫn học lực )
đều muốn vào đại học và tiếp tục học cao hơn. Tâm lý chung là không muốn
học trung học kỹ thuật. Hậu quả nh đã nói là nhiều nơi, nhiều lúc cán bộ có
trình độ đại học lại nhiều hơn cán bộ trung cấp và công nhân kỹ thuật bậc cao .
Một là, do tâm lý sính đại học của dân chúng (bắt nguồn từ t tởng lánh
nặng tìm nhẹ một t tởng phong kiến tham căn cố để ở nớc ta ) do các cơ sở dạy
nghề còn quá ít và chất lợng kém trên nhu cầu đại học rất lớn. Đồng thời do
thiếu sự điều tiết vĩ mô về cơ cấu và quy mô các ngành đào tạo nên có tình
trạng đào tạo ồ ạt, trùng lắp giữa các trờng, quá tải về giảng đờng, ký túc xá và
giáo viên cũng phải làm việc quá tải.
Hai là, việc đổi ới nội dung giảng dạy cha đợc đồng đều giữa các trờng.
ở khối kinh tế việc này đã đợc khá tốt , hầu hết các môn học đã đợc đổi mới,
phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trờng . Song ở khối kỹ thuật, quá trình
đổi mới chậm có những chuyên ngành giảng dạy những giáo trình quá lạc hậu.
Ba là, cơ sở vật chất ở các trờng có đợc bổ sung thêm, góp phần cải thiện
điều kiện sống và làm việc của giáo viên và sinh viên nhng các phơng tiện
giảng dạy thì hầu nh cha thay đổi.
Bốn là, công tác phục vụ cho giảng dạy và học tập cũng cha đợc đổi mới
- đặc biệt là hệ thống th viện - nên cha tạo đợc điều kiện để đổi mới phơng
pháp giảng dạy và nâng cao chất lợng đào tạo trong khi đội ngũ giáo viên đợc
quan tâm đào tạo và đổi mới kiến thức thì đội ngũ phục vụ giảng dạy còn đ ợc
ít quan tâm.
Năm là, nói chung sinh viên ra trờng đều có kiến thức lý thuyết khá tốt
nhng yếu về kỹ năng và rất thiếu thực tế . Nguyên nhân của tình hình này có
hai phía : phía nhà trờng thì hầu nh cha có kinh phí cho việc thực tập hoặc kinh
phí không đáng là bao và cần giảm quỹ thời gian dành cho thực tập , phía
doanh nghiệp thì cha nhận thức đợc trách nhiệm chung đối với quá trình đào
tạo . Tất cả những điều trên làm giảm sút chất lợng sinh viên khi ra trờng, ảnh
hởng trực tiếp đến chất lợng đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp.
4. Vấn đề sử dụng đội ngũ lao động sau đào tạo và bồi dỡng .
Đây chính là biểu hiện hiệu quả của đào tạo bồi dỡng cán bộ. Với cấp độ
khác nhau, sử dụng số lao động này có khác nhau.
Việc sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đợc biểu hiện
thông qua việc làm và không có việc làm của họ hoặc việc sử dụng không
638418
1. Công việc ổn đinh
2774283
675086
535552
995390
568225
2. Công việc tạm thời
20495
5944
7005
5335
2211
3. Cha có việc làm
69598
8520
6, Mất khả năng LĐ
80801
214269
12473
53253
13160
7. Tình trạng khác
142557
34269
26039
53128
29121
220
3,08
Đây chính là chịu ảnh hởng sự bng bít của cơ chế kế hoạch hóa tập trung và sự
17
cấm vận của Mỹ.
Sau thời kỳ đổi mới đến nay qua chuyển giao công nghệ nhiều máy móc
thiết bị và các công cụ lao động tiên tiến khác cũng đợc thay đổi vì vậy năng
suất lao động phần nào đợc nâng cao. Tuy nhiên bên cạnh sự đổi mới này lại
có những khó khăn mới đó là công nhân phần lớn với tay nghề thấp kém đã
không đủ trình độ để sử dụng máy móc, công cụ lao động hiện đại vì vậy cha
phát huy hết đợc công suất máy móc. Hai là, khi máy móc và các công cụ tiên
tiến hơn có một khó khăn nữa là việc d thừa lao động trong các doanh nghiệp.
Nh vậy khi bớc sang điều kiện mới này, sự thay đổi về công cụ lao động
đã tác động đến công việc đào tạo và sử dụng lao động trong các doanh nghiệp
ở nớc ta.
III- Kết quả đạt đợc và những tồn tại của hệ thống đào tạo,
dạy nghề trong những năm qua.
1. Những kết quả đạt đợc
Khi nền kinh tế bớc sang cơ chế thị trởng điều này đã tác động đến
công tác đào tạo bồi dỡng lao động chu phù hợp . Và việc thay đổi hoàn thiện
cơ quan quản lý nhà nớc cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội là đòi hỏi
khách quan. Thành lập lại tổng cục dạy nghề trực thuộc Bộ lao động - Thơng
binh và xã hội là yêu cầu quản lý nhà nớc về nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa hiện đại hóa .
Thành lập lại Tổng cục dạy nghề trực thuộc Bộ lao đông- Thơng binh và
xã hội là phù hợp với thực tế khách quan đáp ứng yêu cầu cấp bách của xã hội,
tạo ra khả năng đào tạo, đào tạo lại nghề nghiệp cho ngời lao động, nhằm góp
phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp
những tồn tại cần phải khắc phục.
2. Những tồn tại:
Về tổ chức cơ quan quản lý sự nghiệp dạy nghề từ trung ơng đến địa phơng trong mấy chục năm qua nhiều lần nhập tách, chuyển bộ chủ quản (hiện
nay Tổng cục dạy nghề trực thuộc bộ lao đông- thơng binh và xã hội). Đây là
một khó khăn trong công tác này. Nó ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng và số lợng lao động đợc đào tào ra. Điều này do khi tách và khi sát nhập vấn đề đào
tạo sẽ phần nào không đợc quan tâm nắm tình hình một cách có hệ thống.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc theo định hớng XHCN, công tác dạy nghề mất định hớng, lúng
túng phó mặc cho thị trờng. Có lẽ đây là nguyên nhân cơ bản nhất sự tụt hậu
(về quy mô và chất lợng dạy nghề), khó khăn nhiều mặt của công tác này chỉ
nói riêng về số lợng trờng dạy nghề chính quy, có lúc cả nớc có tới 366 trờng,
năng lực chiêu sinh mỗi năm 20 vạn học sinh. Vậy mà chỉd hơn 10 năm số cơ
sở và khả năng chiêu sinh đã giảm quá một nửa. Muốn khôi phục lại năng lực
cũ cha kể tốn kém rất lớn về tiền của, mà còn phải có thời gian.
Những năm qua, nguồn tài chính, nguồn từ ngân sách bố trí cho ngành
giáo dục - đào tạo tuy có tăng nhng vẫn chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt ngân sách
19
cấp cho dạy nghề trong tổng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo rất hạn hẹp,
lại luôn có chiều hớng giảm (từ 8.7% năm 1991 xuống 4.87% tức 33.49 tỷ
đồng năm 1996). Với mức tiền ít ỏi trên nhiều trờng dạy nghề năng động tìm
nguồn bổ sung (kể cả thu học phí của học sinh, và tổ chức sản xuất dịch vụ)
nhng cũng chỉ đủ duy trì hoạt động tối thiểu trớc mắt, không có điều kiện trang
bị lại máy móc công nghệ mới, đào tạo lại đội ngũ giáo viên, công tác dạy
nghề bị tụt hậu.
Các chính sách nhà nớc liên quan tới công tác dạy nghề còn cha đồng
bộ thiếu tính chặt chẽ, hấp dẫn, cũng gây tác động không nhỏ đến sự suy giảm
chung. Đơn cử chất lợng lao đông có vai trò quyết định tới hiệu quả sản xuất
đạt đợc mục tiêu do đại hội 8 của Đảng đề ra (tăng quy mô học nghề bằng mọi
hình thức để đạt đợc 22-25% đội ngũ lao động qua đào tạo năm 2000) , cũng
nh không đáp ứng đợc yêu cầu học nghề ngày càng lớn của toàn xã hội ( hàng
năm cả nớc có 90 vạn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học và phổ thông cơ
sở, không vòa các trờng đại học, trung học chuyên nghiệp... cần đợc dạy nghề
trớc khi bớc vào cuộc đời lao đông, cha kể nhu cầu bồi dỡng đào tạo lại, lực lợng lao đông hiện có.
- Các cơ sở dạy nghề khó đáp ứng đợc nhu cầu vê công nhân kỹ thuật
cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các công ty xuất khẩu lao động và các
doanh nghiệp, đặc biệt là ở một số ngành nghề mới kỹ thuật cao.
- Với quy mô và năng lực dạy nghề hiện nay, nếu không kịp thời nâng
cao về đào tạo - gắn với thị trờng lao đông - thì vẫn không có ngời học, hoặc
có nhng chất lợng thí sinh không bảo đảm, và vẫn tiếp tục tình trạng vừa thừa
vừa thiếu - học sinh tốt nghiệp các truờng khó tìm việc làm.
21
Phần III: Giải pháp và kiến nghị
I. Một số giải pháp
Công tác dạy nghề thời kỳ 1998-2000 , đã đợc đại hội 8 của Đảng chỉ rõ
mục tiêu. Đó cũng là xuất phát từ yêu cầu đợc học nghề của nhân dân- trớc hết
là lớp trẻ, bớc vào tuổi lao động, đông thời từ yêu cầu nâng cao chất lợng
nguồn lao đông phục vụ CNH,HĐH đất nớc. Vấn đề là tổng cục dạy nghề vừa
đợc tái lập trực thuộc Bộ lao động - thơng binh xã hội phải làm gì và làm thế
nào để cùng các cấp các ngành nhanh chóng khắc phục đợc sự yếu kém, bất
cập trong công tác hiện nay, hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao?
1. Tổng cục dạy nghề đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 1998, cần
bắt tay ngay vào cung các cấp các ngành nghiên cứu, xây dựng chính phủ, quy
hoach, kế hoạch về công tác dạy nghề cho giai đoạn 1998-2000 và những bớc
khác nh: giao cho các địa phơng dành quỹ đất cho việc xây dựng cơ sở dạy
nghề, huy động đóng góp của ngời học, của ngời sử dụng lao động, lồng ghép
công tác dạy nghề với các chơng trình kinh tế xã hội khác, cho phép sử dụng
nguồn vốn vay hoặc tài trợ của các tổ chức quốc tế cho công tác dạy nghề.
5. Giải pháp có ý nghĩa cơ bản, lâu dài là cần sớm thiết lập đợc một hệ
thống, cơ chế chính sách gắn dạy nghề với sử dụng, với việc làm, theo các quy
định trong bộ luật lao động, chính sách khuyến khích giáo viên dạy nghề,
chính sách khuyến khích các cơ sở dạy nghề ở nông thôn, miền núi phân cấp
trách nhiệm quyền hạn giữa trung ơng và địa phơng trong công tác dạy nghề.
6. Đối với các doanh nghiệp: doanh nghiệp cần nhận thức đúng vai trò
của yếu tố con ngời đối với các hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Và sự tồn
tại lâu dài và thắng lợi của doanh nghiệp trên thơng trờng. Từ nhận thức đó,
mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lợc về nguồn nhân lực là
cốt lõi, chiến lợc phát triển nguồn nhân lực đợc biểu hiện ở kế hoạch dài hạn
về đào tạo và phát triển các loại lao động hiện có và cần có trong doanh
nghiệp. Chiến lợc đó phải gắn liền và đợc đặt ngang tầm với chiến lợc sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn thực hiện đợc việc đó các doanh nghiệp
cần nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của công tác quản lý lao động và vị
trí then chốt của bộ phận chuyên trách về lao động. Bộ phận chuyên trách về
lao động phải đợc đặt ngang hàng với các phòng ban chức năng khác trong
doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần chi phí thích đáng cho công tác đào tạo, phát
triển công tác này phải đợc thực hiện một cách thực chất và trọng điểm, tức là
xác định đúng nhu cầu đào tạo và bảo đảm có hiệu quả. Đối với công nhân sản
xuất, hình thức kèm cặp, bồi dỡng nâng bậc tại chỗ. Đối với lao động quản lý,
cần có kế hoạch đào tạo lại tất cả các nhân viên về kiến thức quản trị kinh
doanh trong điều kiện kinh tế thị trờng. Riêng đối với lao động lãnh đạo các
cấp, các phòng ban cần đợc đào tạo để nắm đợc và tiến tới lãnh đạo các kỹ
năng quản lý hiện đại nh: xác định, mục tiêu và truyền đạt mục tiêu các nhân
viên, phân phối công việc và sử dụng ngời dới quyền kế hoạch hóa công việc
và sử dụng thời gian của bản thân; quan hệ con ngời và làm việc tổ nhóm, điều
sử dụng lao động do nhà nớc đào tạo chia sẻ trách nhiệm với nhà nớc trong
việc đầu t giáo dục - đào tạo giải quyết thỏa đáng lợi ích kinh tế giữa các thành
phần kinh tế. Nguồn thu này tơng đối ổn định và có ý nghĩa ngày càng lớn đối
với giáo dục đào tạo.
8. Mở rộng hợp tác quốc tế tranh thủ nguồn vốn vay và viện trợ của các nớc và các tổ chức quốc tế cho giáo dục và đào tạo. Tiếp tục khuyến khích học
sinh đi học nớc ngoài bằng kinh phí tự lo nhằm tạo thêm nguồn vốn cho giáo
dục - đào tạo và tạo điều kiện để lao động nớc ta tiếp cận đợc khoa học kỹthuật
và khoa học quản lý tiên tiến của các nớc phát triển. Dĩ nhiên nhà nớc phải
định hớng theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc và hỗ trợ một
phần kinh phí cho một số ngành nghề nhất định. Đất nớc ta bớc vào thế kỷ 21
với t thế nh thế nào phụ thuộc rất nhiều vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Để
24
con rồng Việt Nam đang cựa mình để có thể cất cánh hội nhập quốc tế, chắc
chắn còn nhiều việc phải làm trong đó vấn đề tạo vốn là một trong những vấn
đề bức xúc để phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
II/ Một số kiến nghị:
1. Tiếp tục tăng cờng đào tạo cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật cao
đáp ứng cho các ngành kinh tế xã hội theo hớng chuyên sâu và giỏi trong lĩnh
vực sản xuất, công nghệ nâng dần tổng số cán bộ đại học tính trên một vạn dân
đang còn thấp nh hiện nay.
2. Phát huy và vận dụng chơng trình đào tạo do nớc ngoài tài trợ gồm đào
tạo trong nớc và đào tạo ngoài nớc, kinh phí do phía nớc ngoài chịu, giúp ta
vừa nắm bắt đợc kỹ thuật và công nghệ mới nhất, vừa có thể bắt tay ngay vào
sản xuất và điều hành sản xuất sau khi ra trờng.
3. Cần có sự đào tạo đối với công nhân có tay nghề cao, giảm mạnh sự