ĐỊNH HƯỚNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ MỘT SỐ NHẬN
ĐỊNH VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CỦA VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
3.1 Định hướng cân đối ngân sách giai đoạn 2011-2015
3.1.1 Định hướng thu NSNN giai đoạn 2011 - 2015:
Thu NSNN được hình thành từ 2 nguồn thu chính là từ thuế, chi phí, lệ phí và thu từ tài sản.
Tuy nhiên, hiện nay chiếm 90% trong cơ cấu thu NSNN là từ thuế, do vậy để có được một
nguồn thu ổn định thì Việt Nam phải xây dựng cho mình một cơ cấu thuế hợp lý, phù hợp với
tiềm lực kinh tế xã hội của quốc gia. Và chính cơ cấu này cũng sẽ tác động ngược trở lại kinh
tế, xã hội của đất nước. Qua cải cách thuế bước 1, bước 2, bước 3 hệ thống thuế Việt Nam đã
dần tạo ra được nguồn thu hợp lý cho NSNN vừa đảm bảo nguồn thu vừa tạo điều kiện để các
doanh nghiệp phát triển.
Định hướng của Việt Nam trong thời gian tới và cụ thể là trong giai đoạn 2011 – 2015 xác
định thuế thu nhập cá nhân và các nguồn thu nội địa mới chính là nguồn thu chủ yếu của
NSNN. Do vậy, việc đầu tiên mà Việt Nam cần làm là làm như thế nào để từng công dân Việt
Nam đều biết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với công cuộc xây dựng đất nước. Từ
đó nâng tỷ lệ thu NSNN từ thuế Thu nhập cá nhân đến năm 2015 đạt 12% chứ không như
những năm trước đây, tỷ lệ này chỉ chiếm khoảng 5%. Đây cũng là nguồn thu hợp lý được
nhiều nước lựa chọn là một trong những nguồn chính của NSNN. Ngoài ra, Chính phủ và
quốc hội trong những phiên họp thường niên cũng đã xác định giảm thu NSNN từ các loại
thuế như:
+ Đối với thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt Việt Nam xác định đây không còn
là nguồn thu chủ yếu trong NSNN như những năm trước đây (nguồn thu này chiếm xấp xỉ
20% thu NSNN). Bởi sau gia nhập WTO chúng ta phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi
đối với các nước tham gia WTO nên một số mặt hàng xuất nhập khẩu sẽ được miễn giảm
thuế, dẫn đến giảm thu. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn để chúng ta không còn dựa vào
thu từ XNK, Thuế TTĐB để làm nguồn thu chính của NSNN là do nguồn thu này không ổn
định, nó phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới và hiện nay nhà nước Việt Nam vẫn còn bảo hộ
hàng hóa trong nước.
+ Thu từ dầu thô hàng năm chiếm khoảng 25% thu NSNN, tuy nhiên trong thời gian tới
khoản thu này sẽ giảm xuống do nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam không phải là vô
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
hàng nhập khẩu là 80,400 tỷ đồng, tăng 12%; dự toán thu từ thuế GTGT hàng nhập khẩu là
100,300 tỷ đồng, tăng 12.7% so với ước thực hiện năm 2010. Sau khi trừ đi số chi hoàn thuế
theo chế độ năm 2011 dự kiến là 42,000 tỷ đồng, thì dự toán thu cân đối NSNN từ hoạt động
xuất nhập khẩu năm 2011 là 138,700 tỷ đồng, tăng 14% so với ước thực hiện năm 2010.
+ Thu từ dầu thô: dự kiến đạt 69,300 tỷ đồng, trên cơ sở dự kiến sản lượng đạt 14.02 triệu
tấn, giá bình quân đạt 77 USD/thùng.
(Xem chi tiết các khoản thu NSNN tại phụ lục 01)
3.1.2 Định hướng Chi NSNN giai đoạn 2011 – 2015:
Đối với các khoản chi NSNN trong giai đoạn 2011 - 2015 Việt Nam cũng định hướng ưu
tiên các khoản chi cho Giáo dục đào tạo, hỗ trợ học sinh, sinh viên và phổ cập giáo dục,
chăm lo đời sống của bà con dân tộc là chủ yếu. Cân đối và có định hướng rõ ràng đối với
các khoản chi đầu tư phát triển, cắt giảm những đầu tư công không hiệu quả, bỏ những dự án
không cần thiết, chấm dứt hiện trạng đầu tư dàn trải, phân tán. Tuy nhiên, nhà nước phải quan
tâm đầu tư cho lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống,…và các công trình
kinh tế mũi nhọn nhằm xây dựng, cải tạo hệ thống hạ tầng đã xuống cấp, hoạt động kém hiệu
quả. Riêng đối với chi cho các đơn vị nhà nước có nguồn thu thì Chính phủ, Bộ tài chính cũng
đã ra các văn bản pháp lý khoán kinh phí cho những đơn vị này, lấy thu bù chi như nghị định
số 43/2006/NĐ/CP ngày 25/04/2006 của chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thự hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp công lập và Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về chế độ tài
chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu nhằm tạo tính chủ động để các đơn vị cân đối thu
chi của mình cho hợp lý.
Dự toán Chi NSNN năm 2011:
Bên cạnh kế hoạch thu NSNN năm 2011, Bộ tài chính cũng đã lên dự toán chi NSNN rõ ràng
và được công bố theo nghị định 3212/QĐ-BTC ngày 08/12/2010. Theo đó, năm nay dự kiến
chi NSNN khoảng 725,600 tỷ đồng. Cụ thể như sau:
+ Về chi thường xuyên , trong năm 2011 chi khoảng 442,100 tỷ đồng, tăng 18.1% so với dự
toán năm 2010, chiếm 60.9% tổng chi ngân sách Nhà nước.
3
4
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nhóm 5
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
+ Xây dựng chiến lược quản lý nợ công đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030, phối hợp đồng
bộ giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách khác đảm bảo các mục tiêu
kinh tế - xã hội đã đề ra trong năm 2011.
+ Tăng cường công tác thu ngân sách đảm bảo thu đúng, thu đủ theo luật đinh. Trong trường
hợp thu NSNN tăng hơn dự kiến ban đầu thì được sử dụng ít nhất 30% để giảm bội chi
NSNN.
+ Quản lý chặt chẽ chi NSNN, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, hạn chế chi ngoài dự toán, chi
vượt thẩm quyền, chi sai quy định của Luật NSNN và các nghị quyết của Quốc Hội.
+ Xác định rõ đối tượng ưu tiên đầu tư, tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, cấp bách
hoàn thành trong năm 2011 – 2012.
+ Thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu, thực hiện chế độ phụ cấp công vụ, phụ cấp thâm
niên ngành giáo dục nhằm đảm bảo đời sống cán bộ công nhân viên.
+ Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn
vị sự nghiệp công. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các loại
hình sự nghiệp và tăng cường quản lý đối với các dịch vụ công đã xã hội hóa.
+ Quốc hội chấp thuận phát hành thêm 45,000 tỷ đồng vốn trái phiếu chính phủ để tiếp tục
thực hiện các dự án giao thông, thuỷ lợi và kiên cố hoá kết hợp chuẩn hóa trường lớp học,
thực hiện đầu tư, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, đa khoa tỉnh thuộc vùng miền núi, khó
khăn và xây dựng ký túc xá sinh viên,... .
+ Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán các khoản chi được quản lý qua ngân
sách nhà nước, vay về cho vay lại, bảo lãnh vay của Chính phủ, các khoản chi từ các quỹ tài
chính Nhà nước, các khoản vay, tạm ứng của các Bộ, chính quyền địa phương. Khắc phục tình
trạng tạm ứng vốn quá lớn, thời gian tạm ứng vốn quá dài hoặc không quy định cụ thể thời
gian phải hoàn trả, nhất là đối với các khoản tạm ứng ngân sách năm sau. Quản lý chặt chẽ
việc huy động, sử dụng vốn của các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các Tập đoàn kinh tế,
Tổng công ty nhà nước, kể cả các khoản vay trong và ngoài nước, bảo đảm sử dụng vốn có
trường hợp khai thác trần lan, bất hợp pháp làm giảm nhanh chóng nguồn tài nguyên.
- Cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế cũng như giảm được chi
phí trong ngành thuế.
Về chi:
- Cần có những dự báo kinh tế chi tiết hơn về sự phát triển kinh tế trong tương lai nhằm đưa ra
một cơ cấu chi trong từng năm hợp lý nhất. Như nên đưa một số đầu tư công vào lĩnh vực tư
6
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nhóm 5
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
nhân để cả nhà nước và nhân dân cùng làm sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư cũng như góp phần
kích thích kinh tế phát triển.
- Vẫn ưu tiên những khoản chi đầu tư phát triển và chi phát triển con người, an sinh xã hội. Tuy
nhiên, cần xem xét lại những dự án đầu tư chặt chẽ nhằm phát hiện sớm nhất những dự án
không khả thi, không hiệu quả tránh tình trạng chiếm dụng vốn của NSNN.
- Cần minh bạch hơn nữa trong vấn đề thu chi cũng như quản lý NSNN trong thời gian tới.
Đồng thời có những biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm tránh thất thoát nguồn
thu.
- Nên đưa những khoản giảm thu từ thuế TNCN về chi tiêu thường xuyên trong cơ cấu chi để
giảm tình trạng gian lận nhằm tăng thu cũng như số chi được chính xác hơn.
3.3 Hoàn thiện cân đối NSNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
3.3.1 Trong điều kiện bình thường
3.3.1.1 Về phía thu
Để đảm bảo tính bền vững của nguồn thu nhằm tạo sự chủ động trong cân đối NSNN, thời
gian tới cần tiếp tục chuyển dịch cơ cấu thu NSNN theo hướng giảm mức độ phụ thuộc vào
các nguồn thu có liên quan đến hoạt động ngoại thương và dầu khí, tăng tỷ trọng các nguồn
thu từ hoạt động kinh tế trong nước, đồng thời nâng tỷ trọng thu từ khu vực kinh tế tư
nhân/GDP. Sự chuyển dịch trên cần thực hiện các biện pháp sau:
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và cải cách công tác thu thuế
Hệ thống chính sách thuế cần được hoàn thiện theo hướng mở rộng diện chịu thuế đồng thời
khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
Hoàn thiện hệ thống các định mức phân bổ chi tiêu.
Hệ thống định mức cần mang tính định hướng (hướng dẫn) để cho các đơn vị sử dụng ngân
sách có thể tự quyết định trong phân bổ chi tiêu, miễn là đạt được hiệu quả, hiệu lực trong
phân bổ và sử dụng nguồn lực. Hạn chế sử dụng các định mức bắt buộc và chỉ sử dụng trong
trường hợp có thể giám sát việc thực hiện. NSNN thực chất là tổng số nguồn lực phân bổ cho
đơn vị thụ hưởng ngân sách để trang trải cho các hoạt động theo yêu cầu, từ đó, đơn vị thụ
hưởng có quyền tự chủ trong phân bổ và chi tiêu ngân sách của mình.
Hệ thống các định mức cần cập nhật thường xuyên cho phù hợp với thực tiễn và linh hoạt cho
phụ hợp với sự khác biệt giữa các vùng, địa phương. Đồng thời hệ thống định mức cũng nên
được xây dựng trên nguồn lực tài chính toàn diện, không phân biệt nguồn trong ngân sách và
ngoài ngân sách.
8
Tiểu luận Cân đối Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nhóm 5
Cao học Tài chính Ngân hàng K10
Xã hội hóa các khoản đầu tư công
Cần hoàn thiện và đẩy mạnh cơ chế tạo cơ hội để các DNTN tham gia các dự án đầu tư công,
được sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để đầu tư các dự án theo mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
Nhìn ở góc độ doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam bao gồm cả DNNN, DNTN
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với nền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp
đang ở trên cùng một “con thuyền”. Nếu con thuyền đó vững vàng, thì doanh nghiệp, cũng
như nền kinh tế được hưởng lợi. Điều này cũng có nghĩa là, hiệu quả đầu tư nguồn vốn nhà
nước sẽ không chỉ cho DNNN hưởng lợi, mà là toàn bộ nền kinh tế, trong đó các doanh
nghiệp thuộc khu vực tư nhân được hưởng lợi.
Cũng phải khẳng định rằng, có những lĩnh vực, ngành nghề DNNN thực hiện tốt hơn, có
những lĩnh vực thuộc về thế mạnh của DNTN, hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính vì vậy, việc phân bổ nguồn vốn đầu tư, xây dựng các dự án đầu tư không phải là phân
cho DNNN hay chia sẻ cho khu vực tư nhân, mà là dựa trên lợi ích cao nhất là hiệu quả kinh