THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - Pdf 63

THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2001-2010
2.1 Thực trạng Cân đối NSNN của VN trong giai đoạn 2001-2010
2.1.1 Thực trạng thu
Khai thác nguồn thu hợp lý là công việc quan trọng hàng đầu của cân đối NSNN. Chính
sách thu NSNN được coi là hợp lý khi đáp ứng được 4 yêu cầu: (i) giải quyết được nhu
cầu chi tiêu của Nhà nước, (ii) kích thích kinh tế tăng trưởng, (iii) điều tiết được thu
nhập và (iv) phù hợp thông lệ quốc tế. Để thõa mãn 4 điều kiện này, đầu tiên cần phải
thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể, tiếp theo là phải thực hiện cải cách thuế theo hướng
hoàn thiện chính sách thuế và cải tiến công tác quản lý hành thu. Cho nên, việc tiến
hành đánh giá thực trạng khai thác nguồn thu trong cân đối NSNN giai đoạn 2001-
2010 sẽ thông qua các nội dung trên
 Về thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể
Dựa vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm, kỷ luật tài khóa tổng thể đã được
chính phủ thiết lập cho từng thời kỳ bằng việc quyết định tỷ lệ động viên vào NSNN
trên GDP (giai đoạn 2001-2005 là 20-21%GDP, giai đoạn 2006-2010 là 21- 22%GDP);
từ đó đã gián tiếp qui định mức bội chi NSNN, mức vay nợ trong và ngoài nước để bù
đắp bội chi NSNN
 Về cải cách thuế
Hoàn thiện chính sách thuế:
+ Cải cách thuế bước hai: qua cải cách bước một 1990- 1995, bước đầu thuế đã phát
huy vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu cho NSNN. Đến giai đoạn 1996-
2002, cải cách hệ thống chính sách thuế bước hai được thực hiện theo chiều sâu, mở
rộng diện thu theo hướng bồi dưỡng và tạo nguồn thu mới, khắc phục tình trạng chồng
chéo, trùng lắp và phức tạp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng CNH-
HĐH, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội
nhập, hệ thống thuế phải đơn giản và minh bạch. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã đổi
mới căn bản hệ thống thuế bằng việc ban hành Luật thuế giá trị gia tăng thay cho Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế
xuất khẩu, bổ sung hoặc ban hành mới một số loại thuế phí có tác đông mạnh mẽ đến
các hoạt kinh tế như thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế đất, thuế tài sản.

cũng được bổ sung, sửa đổi
(ii) Đối với thuế tiêu dùng: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) áp dụng 3 mức thuế suất
0%, 5% và 10%. Bổ sung hàng hóa, dịch vụ và một số dịch vụ xuất khẩu vào diện
chịu thuế GTGT. Bãi bỏ qui định khấu trừ thuế GTGT đầu vào và theo tỷ lệ % qui
định, điều kiện khấu trừ đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được qui định
chặt chẽ hơn. Bãi bở các chế độ ưu đãi qua thuế GTGT để tăng tính trung lập và
năng cao tính hiệu quả, hiệu lực hành thu. Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cũng được
sửa đổi bổ sung theo hướng mở rộng diện chịu thuế (kinh doanh sổ xố, các hoạt động
kinh doanh giải trí có đặt cược); tăng thu đối với rượu trên 40 độ, bài lá, vàng mã,
kinh doanh vũ trường, mát-xa, karaoke. Ngoài ra, các quy định có tính chất phân biệt
đối xử áp dụng trước đây theo hướng có lợi hơn cho các doanh nghiệp trong nước
không phù hợp các quy định của thương mại quốc tế đã được xóa bỏ hoàn toàn. Một
bước tiến nữa là, với việc ban hành Luật thuế tài nguyên năm 2009, danh mục hàng
hóa chịu thuế tài nguyên đã được mở rộng hơn, đồng thời đã thực hiện điều chỉnh
tăng khung thuế suất áp dụng đối với nhiều nhóm tài nguyên
Những nội dung cải cách thuế qua 3 giai đoạn đã góp phần cải thiện tình trạng cân đối
NSNN, và theo ý kiến các chuyên gia, những cải cách thuế thời gian qua đang tiến gần
đến những chuẩn mực quốc tế
Về hoàn thiện công tác hành thu:
Từ năm 2000 đến nay đã thực hiện được một số nội dung quan trọng:
Luật quản lý thuế được ban hành tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan
thuế trong triển khai thực hiện công tác quản lý thuế. Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan
thuế tổ chức lại bộ máy quản lý, bảo đảm chế độ tự kê khai của người nộp, đồng thời
khuyến khích sự tuân thủ, tự nguyện trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, cụ thể, rõ ràng để tiết
kiệm thời gian và chi phí cho đối tượng nộp thuế như: Triển khai Luật Thuế TNCN, xây
dựng quy chế một cửa thống nhất, thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa
các thủ tục hành chính, đã cắt giảm được 30% số thủ tục hành chính thuế hiện có.
Ngoài ra, để đáp ứng được yêu cầu quản lý theo cơ chế mới và phù hợp với nguồn lực
hiện có, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin mới để phát huy hiệu quả tích cực cho

Cũng tính đến năm 2010, hầu hết các địa phương điều hoàn thành nhiệm vụ thu, có
62/63 địa phương thu đạt và vượt so với dự toán pháp lệnh và tăng trưởng so với cùng
kỳ.
Quy mô thu NSNN cũng tăng khá đồng đều qua các năm. Các địa phương có quy mô
thu NSNN hơn 1.000 tỷ đồng/ năm tăng từ 21 tỉnh-thành phố (2006) lên tới 41 tỉnh –
thành phố năm 2010, trong đó có 5/63 địa phương có số thu hơn 10.000 tỷ đồng/ năm:
Hà Nội, TP. HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai.
Thứ hai, cơ cấu nguồn thu thay đổi theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng thu từ các
yếu tài nguyên như đất đai, dầu thô ngày càng giảm, tỷ trọng thu từ nội lực nền kinh tế
ngày càng tăng. Cụ thể, thu từ dầu thô trong tổng thu đã giảm từ 29.8% năm 2006
xuống còn 13.4% năm 2010. Nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanh (không tính
dầu thô) tăng từ 62.4% (giai đoạn 2001- 2005) lên 67.1% (giai đoạn 2006-2010), tốc độ
tăng trưởng bình quân là 22.5%/năm. Nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanh năm
2010 chiếm 72% trong tổng thu nội địa. Nguồn thu nội địa tăng cao và trở thành nguồn
thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, năm 2008 là 55.8%, năm 2009 là 61%, ước thực
hiện năm 2010 là 64% tổng thu, qua đó tăng tính ổn định và bền vững của NSNN (Xem
Bảng Cơ cấu Thu NSNN – phụ lục 1)
Tính theo tỷ lệ động viên so với GDP (tính theo giá hiện hành) thì mức độ động viên từ
những sắc thuế chủ đạo trong hệ thống thuế cũng đã có sự gia tăng đáng kể. Trong giai
đoạn 2001-2010, so với GDP thu từ thuế GTGT đã tăng từ mức 4.02% lên khoảng
7.51% và của thuế TTĐB (đối với hàng hóa sản xuất trong nước) tăng từ 1.29% lên
1.8%. Mức tăng tương ứng trong cùng kỳ của thuế TNDN (không kể dầu thô) là từ
3.1% GDP lên 4.63% và của thuế TNCN là từ 0.43% GDP lên 1.18% GDP. Điều này
cho thấy sự mở rộng đáng kể về cơ sở tính thuế trong các sắc thuế này. Hay nói cách
khác, việc giảm thuế suất trong nhiều sắc thuế mà Việt Nam đã thực hiện trong thời
gian qua đã không dẫn đến sự thu hẹp về nguồn thu.
Nhìn chung, có thể nói rằng, sự thành công của các lần cải cách chính sách thuế trong
thời gian qua đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng và tập trung kịp thời nguồn
thu cho NSNN. Qua các năm số thu từ thuế không ngừng tăng lên và chiếm tỷ lệ đáng
kể trong tổng thu NSNN, do vậy góp phần đưa ngân sách từ chỗ thu trong nước không

trưởng khá. Tỷ lệ này là rất thấp so với các nước khác như Thái Lan, Indonesia tỷ
trọng này là 10% trong tổng thu thuế, Parkistan và Ấn Độ là 20%
(ii) Thu từ thuế nhà, đất của Việt Nam so với GDP vẫn còn thấp. Năm 2010, thu từ
thuế nhà, đất của Việt Nam ước chỉ chiếm khoảng 0.26% tổng thu ngân sách từ thuế,
phí và bằng khoảng 0.065% GDP (giá hiện hành), thấp hơn nhiều lần so với mặt
bằng chung trên thế giới, chẳng hạn thu từ thuế tài sản ở Indonexia năm 2008 chiếm
3.85% tổng thu từ thuế (khoảng 0.51% GDP) và ở Trung Quốc, tỷ lệ này của năm
2008 là 1.51% (khoảng 0.26% GDP). Điều này có nghĩa, vai trò của chính sách thuế
nhà, đất trong việc điều tiết, đảm bảo việc sử dụng nhà, đất có hiệu quả còn hạn chế.
+ Nền tảng pháp luật nói chung và hệ thống luật thuế nói riêng còn nhiều bất cập, ý
thức chấp hành luật pháp chưa được coi là một tiêu chuẩn đo lường giá trị đạo đức của
xã hội, pháp luật kế toán đang trong quá trình hoàn thiện, do vậy chưa được chấp hành
nghiêm và thống nhất trong nền kinh tế, hình thức thanh toán các giao dịch trong nền
kinh tế vẫn sử dụng tiền mặt là phổ biến, do vậy cơ quan chức năng khó kiểm soát được
quá trình thanh toán và thu nhập của đối tượng nộp thuế
+ Một phần là do cơ cấu kinh tế, một phần là do nguồn lực cán bộ quản lý thuế vẫn còn
yếu kém so với các quốc gia tiên tiến, tiền lương thấp đã tạo ra rất nhiều khó khăn để
tiến đến thiết lập một hệ thống quản lý thu ngân sách tốt. Năng lực chuyên môn và
phẩm chất đạo đức của lực lượng cán bộ thuế còn nhiều hạn chế, kỹ thuật đánh thuế
mặc dầu có được cải tiến nhưng còn nhiều khiếm khuyết
+ Hệ thống thông tin yếu kém, nghèo nàn về cơ sở dữ liệu làm hạn chế hiệu quả công
tác quản lý thu NSNN nói chung và thuế nói riêng. Sự gia tăng của khu vực tư nhân
trong phát triển kinh tế là đáng ghi nhận, nhưng do quy mô hoạt động của khu vực này
còn nhỏ và phân tán cho nên những yêu cầu về báo cáo thống kê không được thiết lập
một cách có hệ thống. Hơn nữa do những hạn chế về tài chính, các cơ quan thuế và
thống kê có gặp phải nhiều khó khăn trong việc tổng hợp và đưa ra những số liệu thống
kê một cách chi tiết và đáng tin cậy. Thiếu số liệu tin cậy và cung cấp không kịp thời
làm cho những người ra quyết định chính sách gặp phải nhiều khó khăn trong việc đánh
giá sự ảnh hưởng tiềm năng của những thay đổi cơ bản đến hệ thống thuế hiện hành.
2.1.2 Thực trạng chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status