Luận văn đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật lao động đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước - Pdf 37

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

1

Lời mở đầu
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Với chính sách của Đảng và Nhà nước khuyến khích và đẩy mạnh phát
triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp
ngoài nhà nước đã từng bước phát triển mạnh mẽ, có những đóng góp ngày
càng to lớn vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển các DN NNN nói riêng, luôn có vai
trò tích cực của những người lao động nữ, mặc dù họ còn phải thực hiện chức
năng làm vợ, làm mẹ.
Sau hơn 10 năm thực hiện Bộ Luật Lao động và Nghị định số 23/CP
ngày 18/4/1996 của Chính phủ về những quy định riêng đối với lao động nữ
cho thấy nhiều doanh nghiệp, tổ chức đã thực hiện tốt các quy định pháp luật,
tạo điều kiện để lao động nữ có công việc phù hợp, thu nhập ổn định trong
các điều kiện lao động đầy đủ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để lao động
nữ thực hiện chức năng làm vợ, làm mẹ. Tuy nhiên trong quá trình triển khai
thực hiện, không ít các DN, mà đặc biệt là các DN NNN, không thực hiện
nghiêm túc các chính sách, pháp luật lao động đối với lao động nữ. Tình trạng
vi phạm pháp luật về lao động trong các DN NNN diễn ra khá phổ biến.
Nguyên nhân của những vi phạm trên trước hết là do các doanh nghiệp vì
chạy theo lợi nhuận và lợi dụng sự kém hiểu biết về pháp luật của lao động nữ
đã cố tình vi phạm. Vẫn có sự phân biệt đối xử với lao động nữ trong quan hệ
lao động. Mặt khác, trong quá trình triển khai thực hiện có nhiều quy định
pháp luật lao động và chính sách đối với lao động nữ không phù hợp với thực
tế đặt ra, có quy định rất khó thực hiện, có quy định không thực hiện được,
thậm chí có quy định không tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích người lao
động nữ làm việc..Bên cạnh đó việc đôn đốc kiểm tra, giám sát việc thực hiện
các quy định riêng đối với lao động nữ còn hạn chế. Chính vì vậy, cần thiết

- Đối tượng nghiên cứu:
+ Chính sách, pháp luật lao động của Nhà nước đối với lao động nữ.
+ Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật lao động đối với lao động nữ
trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

3

4. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và hệ
thống.
5. Kết cấu của đề tài: Gồm 3 phần:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về lao động nữ trong các Doanh
nghiệp ngoài Nhà nước.
- Chương 2: Tình hình thực hiên chính sách, pháp luật lao động đối với
lao động nữ trong các Doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện, tăng cường thực hiện
chính sách, pháp luật lao động đối với lao động nữ làm việc trong các Doanh
nghiệp ngoài Nhà nước.

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47

hợp tác xã, DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (100% vốn đầu tư nước
ngoài hoặc DN liên doanh).

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

5

1.1.2/ Các loại hình DN ngoài nhà nước
Quan niệm về doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2005, là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh.


Doanh nghiệp tư nhân: Điều 141, Luật DN 2005 quy định: DN tư

nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN.


Công ty TNHH gồm công ty TNHH hai thành viên trở lên và công

ty TNHH một thành viên.Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình
DN trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng
chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp.Trong đó phần góp của các thành viên

6

DN có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, theo Điều 3, Luật Đầu

tư 2006, bao gồm DN do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt
động đầu tư tại Việt Nam; DN Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ
phần, sát nhập, mua lại.
1.2. Vai trò của các Doanh nghiệp ngoài Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, các DN NNN đã ngày càng phát triển
mạnh mẽ và trở thành một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân, đóng một
vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước. Đối với
các nước đang phát triển thì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh
tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, các DNNNN
còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công
nghiệp hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội. Ở
Việt Nam từ khi đổi mới, các DN NNN ngày càng phát triển mạnh mẽ gắn
với sự lớn mạnh của đất nước, đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm trong cơ cấu tổng
sản phẩm quốc nội (GDP), số công ăn việc làm mang lại,những đóng góp vào
quá trình phân phối thu nhập, giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa
thành thị và nông thôn…Sự phát triển của các DN NNN đã thực sự góp phần
quan trong trong giải quyết các mục tiêu KT-XH. Vai trò của các DN NNN
thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Thu hút một lượng lớn vốn đầu tư của tư nhân và nước ngoài và sản
xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế di dân tự do vào
đô thị.
- Góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu cho ngân sách, phảt triển các
DN NNN góp phần CHH-HĐH đất nước.


tay mềm nên không thích hợp với những công việc nặng nhọc, độc hại ảnh
hưởng đến sức khoẻ. Bên cạnh đó phụ nữ thường nhẹ nhàng, khéo tay,chịu
khó thích hợp với các nghề thủ công đòi hỏi sự tỷ mỉ, công việc giản đơn,
điều này cũng ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập của người phụ nữ.
- Đặc điểm xã hội: Do định kiến về giới còn tồn tại mà lao động nữ
thường có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn nam giới.

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

8

Nhận thức, hiểu biết về pháp luật, chính sách của nhà nước của lao động cũng
còn hạn chế. Do đó cơ hội về việc làm, thu nhập cũng như những quyền lợi
chính đáng của mình vì thế mà bị hạn chế.
Do nhận thức rõ những đặc điểm trên của lao động nữ, chính sách pháp
luật lao động của nhà nước đối với lao động nữ đã có nhiều sự khuyến khích,
ưu đãi nhằm tạo điều kiện cho lao động nữ có việc làm, được lao động, phát
huy khả năng của mình.
1.3.2/ Các yếu tố ảnh hưởng và tác động đến lao động nữ trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước
Đối với lao động nữ, tham gia thị trường lao động, có quyền lao động
cũng như được đảm bảo các lợi ích lao động là một trong những quyền cơ bản
của con người, song việc thực hiện các quyền này trên thực tế ở các doanh
nghiệp ngoài nhà nước có những hạn chế nhất định, do ảnh hưởng của nhiều
yếu tố điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội chung ( giai đoạn chuyển đổi


doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thường áp dụng các nguyên tắc tuyển dụng,
thuê mướn linh hoạt. Những vị trí có thu nhập khá, ổn định, có cơ hội thăng
tiến thường có tay nghề cao được đào tạo kỹ thuật cao thường là nam giới,
người trong gia đình hoặc có mối quan hệ thân quen với người sử dụng lao
động. Lao động nữ nói chung thường được sắp xếp ở vị trí thấp hơn, ở các
khâu lao động sản xuất trực tiếp, có trình độ kỹ năng thấp, lao động giản đơn
hoặc kém ổn định. Trong nhiều trường hợp, đây được coi là nguồn lao động
có tính chất dự phòng, tuyển dưới hình thức hợp đồng lao động ngắn hạn, thời
vụ và linh hoạt, dễ dàng cho thôi việc khi sản xuất và thị trường biến động.
Trường hợp phổ biến nhất là doanh nghiệp thường sử dụng đội ngũ lao động
trẻ tự do ở nông thôn, ký kết các hợp đồng ngắn hạn, thời vụ để giảm các chi
phí, trốn tránh nộp BHXH, hạn chế đầu tư, chi phí bảo hộ xã hội.


Về phân bổ và sử dụng lao động: Do ảnh hưởng đặc điểm văn hoá

truyền thống, phân công lao động theo giới vẫn là phổ biến. Lao động nữ
thường được phân công vào các công việc ở vị trí thấp, lao động giản đơn,
thiếu vắng lao động nữ ở các vị trí quản lý. Cơ hội tiếp cận vị trí việc làm của
lao động nữ còn bị hạn chế do các nguyên nhân như: thiếu thông tin về tuyển
dụng, khó khăn khi tham gia hoặc tham gia ở vị trí thấp, không được khuyến
vào các vị trí, công việc thu nhập cao. Vị thế của lao động nữ nói chung trong
doanh nghiệp là thấp, chưa tương xứng với lực lượng và đóng góp lao động
trong DN. Do đó đã tạo ra sự bất bình đẳng trong vị thế và trả lương giữa hai
giới.


Nhận thức về các quyền và lợi ích lao động cơ bản của lao động nữ:


động có thể dễ sa thải. Do đó, nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm sử dụng lao
động nữ bố trí, sắp xếp ở những công việc giản đơn, coi nhẹ phát triển chất
lượng, đào tạo nâng cao tay nghề, sử dụng nguồn lao động này dài hạn.
1.4/ Chính sách, pháp luật lao động đối với lao động nữ ở một số nước
trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, mọi chiến lược phát triển đều hướng vào con
người, lấy con người làm trung tâm, làm mục đích phát triển. Phụ nữ là một
trong những nguồn lực chính để phát triển con người và đã có những đóng
góp rất to lớn vào sự phát triển của mỗi quốc gia.Ở các nước, chính sách đối
với lao động nữ được thực hiện trong các hình thức luật và những quy chế
dưới luật, trong các quy chuẩn…Phần lớn ở các nước những quy định về lao

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

11

động nữ thường được xếp thành một chương riêng biệt hoặc ghép với lao
động chưa thành niên thành một chương trong luật hoặc bộ luật lao động như
luật lao động của Trung Quốc (1995), luật tiêu chuẩn lao động của Nhật
(1976), Bộ luật lao động của BaLan (1974)…Cũng như Việt Nam, luật lao
động của các nước đều có những quy định về sự bình đẳng trong lao động, về
điều kiện làm việc của lao động nữ, những quy định về thai sản, nuôi con
nhỏ,ngày nghỉ, giờ nghỉ…
Luật bảo đảm quyền lợi phụ nữ của nước CHND Trung hoa (năm 1992)
ngoài một số điều nằm trong nguyên tắc chung ở chương I như “ phụ nữ có

Bên cạnh luật Tiêu chuẩn lao động, ở Nhật bản còn có luật về Cải thiên
phúc lợi cho lao động nữ. Mục đích của các quy định trong đạo luật này nhằm
xúc tiến đảm bảo cơ hội đồng đều và đãi ngộ bình đẳng giữa nam và nữ trong
việc làm, mà những mục tiêu cơ bản nhằm cải thiện phúc lợi cho lao động nữ
để họ có thể có cuộc sống đầy đủ bằng cách sử dụng có hiệu quả năng lực của
mình đồng thời coi trọng đúng mức chức năng thai sản của họ mà không phân
biệt đối xử vì lí do giới và để đạt tới hài hoà giữa cuộc sống lao động và cuộc
sống gia đình họ. Theo điều luật này, Nhà nước Nhật bản quy định Bộ trưởng
Bộ Lao động phải xây dựng chính sách về các biện pháp phúc lợi cho lao
động nữ . Chương IV của đạo luật này đề ra các biện pháp về việc làm cho lao
động nữ bao gồm 10 điều. Tại các điều này, lao động nữ ở Nhật bản được
khuyến khích, phát huy, cải thiện năng lực nghề nghiệp như cung cấp các
thong tin về việc làm, kết quả ngiên cứu về các loại công việc, hướng dẫn,
giới thiệu các nghề thích hợp, cung cấp các phương tiện đào tạo, tạo cơ hội
cho các lao động nữ đã nghỉ việc do có thai, nghỉ thai sản, nghỉ chăm sóc con
có cơ hội trở lại làm việc khi họ muốn( Điều 24) và khuyến khích chế độ nghỉ
chăm sóc con “ lao động nữ có con nếu có yêu cầu được tự nghỉ trong thời
gian nhất định chăm sóc con cái” (Điều 28).
1.5/ Hệ thống các văn bản và chính sách, pháp luật lao động đối với lao
động nữ:
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách, pháp luật lao
động đối với lao động nữ bao gồm:
- Bộ Luật Lao động năm 1994, đã được sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006, trong đó dành hẳn chương X những quy định riêng đối với lao
động nữ, gồm 10 Điều.

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


1.5.2. Quy định về tuyển dụng, sử dụng lao động nữ

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

14

- K1, Đ111, BLLĐ: Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi
phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ. Người
sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng,
sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.
- K2, Đ111, BLLĐ: Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ
vào làm việc khi người đó đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp
với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần.
- Điều 9, NĐ 23/CP: Các quy định cấm đối với người sử dụng lao động
theo Điều 111 của Bộ Luật Lao động được quy định như sau:
+ Cấm ban hành quy định không có lợi hơn những quy định của pháp
luật cho người lao động nữ.
+ Cấm những hành vi làm hạn chế khả năng được tiếp nhận lao động nữ
vào làm việc.
+ Cấm mạt sát, đánh đập…xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của
người lao động nữ trong khi làm việc.
1.5.3. Về tiền lương, thu nhập
- K1, Đ111, BLLĐ: Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc
bình đẳng nam nữ về nâng bậc lương và trả công lao động
- Đ18, NĐ114/2002/NĐ-CP ngay 21/12/2002: Lao động nữ nếu cùng

- K3, Đ111, BLLĐ: Trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ
dưới 12 tháng tuổi, được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh
nghiệp chấm dứt hoạt động.
- Điều 8, NĐ 23/CP quy định doanh nghiệp không đủ điều kiện là doanh
nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của
mình phải nghiên cứu các chính sách của Nhà nước đã ban hành đối với lao
động nữ để bàn với công đoàn tìm biện pháp thực hiện. Những điểm thoả
thuận được phải ghi vào thoả ước lao động tập thể. Theo mục II và III của TT
03/LĐTBXH-TT quy định về chế độ làm việc linh hoạt và nghề dự phòng,
DN chủ động bàn với Công đoàn, những điều nhất trí thì ghi vào thoả ước lao
động tập thể.
1.5.5. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi:
- K3, Đ3, NĐ 195/CP ngày 31/12/1994: Thời giờ được tính vào thời giờ
làm việc có hưởng lương bao gồm:

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

16

+ Thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với người lao động nữ trong thời
gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
+ Thời giờ nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với người lao động nữ trong thời
gian hành kinh.
- Đ13, NĐ 195/CP: Không được sử dụng lao động nữ làm những công

17

+ Hết thời hạn nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, người lao động nữ có thể
nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử
dụng lao động. Hoặc có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ thai sản, nếu đã
nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận
việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử
dụng lao động biết trước. Trường hợp này người lao động nữ vẫn tiếp tục
được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc.
- K1, Đ37, Luật Bảo hiểm xã hội: Quy định lao động nữ sauthời gian
hưởng chế độ thai sản tại Điều 30, 31 của Luật BHXH mà sức khoẻ còn yếu
thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 5- 10 ngày trong một năm.
1.5.6.2.Chế độ bảo hiểm xã hội:
- K1, Đ144, BLLĐ: Trong thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại Điều
114 của Bộ Luật này, người lao động nữ đã đóng bảo hiểm xã hội được trợ
cấp bảo hiểm xã hội bằng 100% tiền lương và được trợ cấp them một tháng
lương.
- K1, Đ35, LBHXH: Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy
định tại các điều 29, 30, 31, 32 và 33 của Luật này thì mức hưởng bằng 100%
mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của sáu tháng liền kề
trước khi nghỉ việc. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là
thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử
dụng lao động không phải đóng BHXH.
- K1, Đ117, BLLĐ: Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực
hiện biện pháp kế hoạch hoá gia đình hoặc do sảy thai; nghỉ việc để chăm sóc
con dưới bảy tuổi ốm đau, nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, người lao động nữ
được hưởng trợ cấp BHXH hoặc được người sử dụng lao động trả một khoản
tiền bằng mức trợ cấp BHXH.

Nguyễn Văn Linh

do làm việc trong các điều kiện lao động hoặc công việc thuộc danh mục cấm
theo quy định của Thông tư mà bị ốm đau hoặc bệnh nghề nghiệp thì phải bồi
dưỡng vật chất, chăm sóc y tế, khám và chữa bệnh kịp thời theo quy định của
Nhà nước.

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

19

1.5.8. Chính sách đặc thù đối với lao động nữ:


Chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt:

- K1, Đ109, BLLĐ: Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử
dụng lao động tạo điều kiện áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian
biểu linh hoạt, làm việc không chọn ngày, không chọn tuần, giao việc làm tại
nhà.
- Đ3, NĐ 23/CP: Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện làm việc, tính chất
công việc của doanh nghiệp, người sử dụng lao động nữ chủ động bàn với
công đoàn lập kế hoạch bố trí lao động nữ theo thời gian biểu linh hoạt, làm
việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà, toạ điều kiện
cho người lao động nữ có việc làm thường xuyên, phù hợp với nguyện vọng
chính đáng của lao động nữ.
- Mục II, TT 03/LĐTBXH-TT quy định chế độ làm việc cho người lao

không vượt quá 8 giờ trong một ngày, 48 giờ trong một tuần.
• Không được dung chế độ này để thực hiện việc xử lý kỷ luật đối với
trường hợp người lao động nữ vi phạm kỷ luật lao động. Không được lợi dụng
chế độ làm việc linh hoạt để bố trí, sử dụng lao động nữ làm việc ca đêm trái
pháp luật lao động hiện hành.
• Thu nhập của người lao động nữ khi bố trí làm việc theo các hình
thức nêu trên phải theo sự thoả thuận giữa người lao động nữ và người sử
dụng lao động bằng văn bản.
+ Bước tiến hành:
• Doanh nghiệp chủ động bàn với công đoàn để xác định những công
việc và những hình thức làm việc, tổ chức cho người lao động thảo luận;
những công việc và những hình thức làm việc đã nhất trí thì ghi vào thoả ước
lao động tập thể.
• Tổ chức cho người lao động nữ đăng ký để làm những công việc đã
ghi trong thoả ước lao động tập thể, phù hợp với hình thức làm việc và
nguyện vọng của họ.
• Doanh nghiệp cùng công đoàn xem xét và sắp xếp thời gian làm việc
phù hợp với từng người có nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên: người lao động
nữ có thai từ tháng thứ ba trở đi; nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; sức khoẻ
yếu theo kết luận của bác sĩ đa khoa; hoàn cảnh gia đình có khó khăn…

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp





Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

22

- Đ5, NĐ 23/CP: Doanh nghiệp có đủ một trong hai điều kiện sau đây là
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ:
+ Doanh nghiệp sử dụng thường xuyên từ 10 đến 100 lao động nữ và có
số lao động nữ từ 50% trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên
của doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp sử dụng thường xuyên trên 100 lao động nữ và có số lao
động nữ từ 30% trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên của
doanh nghiệp.
- Mục IV, Thông tư 03/LĐTBXH-TT ngày 13/1/1997 của Bộ Lao độngThương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện một số Điều của NGhị định số
23/CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ về những quy định riêng đối với lao
động nữ để xác định doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ có các căn cứ
sau:
+ Xác định số lao động trong danh sách hưởng lương của doanh nghiệp
từng tháng, để tính bình quân cho cả năm tại thời điểm lập kế hoạch hằng
năm.
+ Căn cứ vào số lao động trong danh sách hưởng lương bình quân cả
năm cảu doanh nghiệp để tính số lao động nữ theo số tuyệt đối và số tương
đối và xác định doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.
- Mục IV, Thông tư 03/LĐTBXH, lập hồ sơ và thủ tục xác nhận doanh
nghiệp đủ điều kiện là doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ:

+ Đối với các DN sử dụng nhiều lao động nữ nhưng sản xuất không có
lãi thì các khoản chi phí tăng thêm do sử dụng nhiều lao động nữ được coi là
khoản chi hợp lệ.


Chính sách vay vốn với lãi suất thấp:

- K1, Đ6, NĐ 23/CP ngày 18/4/1996: Trường hợp gặp khó khăn đặc biệt,
có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì được vay vốn với lãi suất thấp từ
Quỹ quốc gia về việc làm quy định tại mục d, khoản 2, Điều 6 của Nghị định
số 72/CP ngày 31/10/1995 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số Điều của Bộ Luật Lao động về việc làm.
- K1, Mục V, Thông tư 03/LĐTBXH-TT ngày 13/1/1997, quy định cụ
thể điều kiện để được vay vốn với lãi suất thấp như sau:
+ Doanh nghiệp gặp khó khăn được giúp đỡ đặc cách theo quyết định
của Thủ tướng Chính phủ, do các Bộ chủ quản, Tổng công ty Nhà nước,
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị.

Nguyễn Văn Linh

Kinh tế Lao động 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

24

+ Doanh nghiệp phải có dự án chứng minh được hiệu quả sử dụng vốn
vay, khả năng trả nợ và giải quyết việc làm cho lao động nữ của doanh
nghiệp.


25

Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật lao
động đối với lao động nữ làm việc trong các doanh nghiệp ngoài
Nhà nước.
2.1/ Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước
2.1.1/ Khái quát tình hình phát triển của các DN NNN hiện nay
Trong hơn hai thập kỷ qua, với chính sách của Đảng và Nhà nước
khuyến khích và đẩy mạnh đổi mới cơ cấu, tổ chức lại sản xuất, đa dạng hoá
các thành phần kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sản xuất
kinh doanh, khu vực ngoài nhà nước đã có những bước phát triển rõ rệt. Hiệu
quả kinh tế - xã hội của khu vực này ngày càng được khẳng định. Theo Tổng
cục thống kê, năm 2007, khu vực này đã đóng góp 63,57% vào GDP (trong
đó khu vực ngoài quốc doanh là 45,91%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là
17,66%); năm 2006 đóng góp vào ngân sách nhà nước 119713,54 tỷ đồng;
giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 của khu vực này chiếm đến 77,5% tổng
giá trị công nghiệp của cả nước. Các DN NNN đang giải quyết việc làm cho
4815230 lao động, tăng 14,65% so với cuối năm 2005.
Theo điều tra doanh nghiệp năm 2007, thì đến 31/12/2006, có 127612
doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm 97,17% số DN đang hoạt động), tăng
17,22% so với thời điểm đầu năm. Trong đó:
- Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 123392 doanh nghiệp, tăng
17,33% so với đầu năm 2006, bình quân từ 2004-2006 tăng 21,2%/năm( mỗi
năm tăng thêm 19695 doanh nghiệp).
- Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 4220 doanh nghiệp, tăng
14,2% so với đầu năm, bình quân từ2004-2006 tăng15,7%/năm (mỗi năm
tăng 532 doanh nghiệp).

Nguyễn Văn Linh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status